[Trinh Thám] Linh Hồn Ác

hoahongden12

Active Member
Thể loại : Trinh Thám
Tác Giả : Maxime Chattam
Nguyên tác tiếng Pháp: L' Âmes Du Mal
Người dịch: Hoàng Mai Anh

Suốt một năm trời sau khi bắn hạ tên Đao phủ Portland, thanh tra Brolin cứ ngỡ vụ án đã vĩnh viễn khép lại. Cho tới một ngày, anh phải đối mặt với một loạt vụ giết người mới mang đậm dấu ấn tên sát nhân man rợ đó, những vụ giết người thảm khốc, kinh hoàng hơn gấp nhiều lần. Tính mạng người con gái anh thương yêu nhất cũng bị cuốn theo một vòng xoáy hiểm họa đen tối. Dấn mình vào cuộc điều tra, Brokin phải hóa thân vào kẻ giết người để phán đoán đường đi nước bước của hắn, cùng không ít lần bị giằng co giữa cái Thiện và cái Ác, với một câu hỏi đầy ám ảnh: Liệu người ta có thể trao linh hồn cho quỷ dữ mà không bị trừng phạt?
Với Linh hồn ác, Maxime Chattam đã mang đến rất nhiều điều mới mẻ cho thể loại tiểu thuyết trinh thám kinh dị. Một sự kết hợp tuyệt vời giữa phong cách hành động của trinh thám Mỹ và lối phân tích sắc sảo đến từng chi tiết khiến độc giả rùng mình được vì những hình dung quá đỗi rõ ràng của trinh thám Pháp. Và kết quả là một cuốn tiểu thuyết lôi cuốn khôn cưỡng.
Linh hồn ác đã được trao giải Sang d' Encre cho tiểu thuyết trinh thám xuất sắc nhất năm 2002.
****
LỜI TÁC GIẢ
Thực tế vượt xa khả năng tưởng tượng.
Đó là câu châm ngôn hiện lên trong tôi với tất cả tính xác thực của nó trong suốt hai năm tôi mày mò nghiên cứu để viết cuốn tiểu thuyết này. Hai năm nghiên cứu khoa học pháp y - giám định pháp y, cảnh sát kỹ thuật và khoa học, tâm thần học tội phạm… - và đặc biệt hơn nữa là nghiên cứu về những kẻ giết người hàng loạt. Tôi đã đọc, đã thấy và đã nghe được những điều mà ngay cả nhà văn khéo léo nhất cũng không dám viết trong tiểu thuyết của mình, mặc dù khả năng nói giảm nói tránh trong phong cách của nhà văn ấy có thể làm giảm nhẹ các sự việc. Những hành động mà có lẽ tôi sẽ thấy lố bịch vì ghê tởm khi đọc chúng trong một cuốn sách hay nào đó, bởi chúng dường như không thể có thật, thế nhưng…
Nhưng trên tất cả, sau hai năm nghiên cứu, tôi nhận ra rằng cha mẹ tôi và tất cả các bậc cha mẹ khác trên thế giới này đều đã nói dối con mình: quái vật là có thực.
Không biện hộ cho sự ghê rợn, tôi cố gắng viết cuốn tiểu thuyết này gần với thực tế nhất. Đó hẳn là điều đáng sợ nhất.
Maxime Chattam
Edgecomebe, ngày 2 tháng 4 năm 2000.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 1

Kate Phillips mở cửa xe để Josh bước xuống. Thằng bé cầm trong tay con búp bê Captain Futur bằng nhựa và ôm chặt nó như thể đó là một báu vật quý giá. Không khí ngột ngạt của bãi đỗ xe ập vào họ ngay lập tức. Rõ ràng là mùa hè sẽ ngày càng nóng bức.

- Lại đây, con yêu, Kate vừa nói vừa kéo cặp kính mát lên trên đầu.

Josh bước ra và quan sát mặt tiền của trung tâm thương mại. Nó rất thích đến đây, ở đây đồng nghĩa với niềm vui và giấc mơ, vì có bao nhiêu là thứ đẹp đẽ. Hàng trăm món đồ chơi đủ kiểu san sát nhau, sờ nắm được, chứ không phải hình ảnh trên tivi hay trong những quyển catalogue. Sáng sớm nay, khi nghe thấy mẹ bảo sẽ đến trung tâm thương mại, Josh đã nhảy cẫng lên và cố tỏ ra ngoan ngoãn. Giờ đây, khi tòa nhà đang ở trước mặt nó, nó cảm thấy càng thêm phấn khích. Có thể nó sẽ được ra về với một món đồ chơi trong tay? Nó còn thiếu chiếc xe tải chở nước Majorette, hoặc có thể cả bộ vũ khí của Captain Futur! Ngày hôm nay khởi đầu tốt đẹp, thậm chí là rất tốt đẹp. Một món đồ chơi mới. Ý nghĩ thật hấp dẫn! Nhưng cần phải được mẹ chấp nhận. Nó quay sang mẹ để đòi và thấy mẹ đang cẩn thận kiểm tra các phiếu giảm giá cắt từ báo và các tờ quảng cáo.

- Mẹ mua đồ chơi cho con được không ? Nó hỏi bằng giọng líu lo của một thằng bé mới bốn tuổi.

- Lại bắt đầu rồi, Josh, nhanh lên, nếu không mẹ không cho con đi cùng nữa đâu.

Thằng bé đưa tay lên che phía trên mắt giống như bố nó thường làm và đi qua bãi đỗ xe.

- Nóng quá! Kate vừa kêu lên vừa ra sức phẩy tay để quạt mát. Đừng đi chậm như thế, con yêu, cứ đi chậm chạp dưới nắng to là sẽ bị nóng chảy ra đấy.

Mặc dù không rõ mẹ muốn nói gì, nhưng Josh vẫn rảo bước thật nhanh và hai mẹ con bước vào trung tâm thương mại rộng lớn. Những chiếc giá để báo đặt hai bên lối đi, tất cả các trang nhất đều đăng tin nước Mỹ tẩy chay Olympic Matxcơva. Chỉ có mỗi chuyện đó thôi. Vài người đã nhận ra ở đây thấp thoáng một cuộc khủng hoảng giống như khủng hoảng tên lửa Cuba. Nhưng với Kate, đó chỉ là chuyện của các chính trị gia. Những mưu đồ, như Stephen, chồng cô, thường nói. Tốt hơn hết, anh cũng nói, là tránh xa chúng, sống yên bình trong cái góc của mình, làm việc ở trạm xăng, say sưa viết một vở kịch trong năm năm và thỉnh thoảng hút vài điếu majiruana. Nhưng đừng có tham gia vào chính trị. Kate đồng tình. Cô đồng tình với rất nhiều điều Stephen nói, đó là lý do chính khiến cô yêu anh.

Cô lướt nhìn giá báo chí lần cuối rồi tiếp tục rảo bước, khiến Josh phải chạy theo bên cạnh.

Hai mẹ con đi qua nhiều gian hàng bán đồ đi biển, báo hiệu mùa hè sắp tới cùng với đám đông du lịch. Tiếng ầm ầm không ngớt vang lên trong tòa nhà rộng lớn, tiếng nói của hàng trăm khách hàng hòa lẫn vào nhau đến mức không thể phân biệt được.

Kate lấy một chiếc xe đẩy mua hàng, Josh cố bám vào xe giống một tay gangster đu trên bậc của chiếc ô tô cổ mà nó đã xem ở ti vi. Khi đi ngang qua một dãy đồ chơi dài, thằng bé túm chặt váy mẹ.

- Mẹ ơi, con muốn xem đồ chơi, được không hả mẹ, được không?

Kate thở dài. Với cô, đi mua sắm luôn là một thứ lao động khổ sai, lang thang vô tận giữa các gian hàng mênh mông chỉ để chọn một thứ đồ giữa hàng trăm thứ khác gần như giống hệt… Cô nhớ tới việc Stephen bảo cô đừng quên mua kem, và cảm thấy phấn chấn khi nghĩ đến bữa tiệc nướng ngoài trời trưa nay. Gia đình Salinger sẽ đến ăn trưa, đã gần hai năm nay cô chưa gặp lại Dayton và Molly, cuối cùng thì họ cũng quay lại vùng. Khoan khoái với ý nghĩ này, lại như đã ngửi thấy mùi hamburger nướng cùng niềm thích thú được gặp lại bạn bè thuở nhỏ, Kate cảm thấy rất vui vẻ.

Josh lại túm lấy váy mẹ đợi câu trả lời. Cô mắng nó khi nó trề môi nài nỉ.

- Con xin mẹ đấy, con hứa chỉ nhìn thôi, con ở lại đây…

Ở hai đầu lối đi, những chiếc xe hàng chầm chậm dịch chuyển như bị tắc đường vào giờ cao điểm. Josh nhìn mẹ bằng ánh mắt van nài.

"Mình không thể chịu được khi thằng bé làm bộ mặt như thế", cô nghĩ.

Không muốn bị rơi vào một chuỗi những trách cứ và than vãn ỉ ôi vốn thường kết thúc bằng việc Josh hờn dỗi trong suốt thời gian mua sắm còn lại, Kate nhún vai. Cô đang vội trở về nhà, nóng lòng gặp bạn bè mình.

"Mình có thể chạy nhanh hơn giữa các giá hàng và kết thúc nghĩa vụ mua sắm khổ sai nhanh hơn nếu để thằng bé lại đây", cô nghĩ.

- Ok, con có thể chờ mẹ ở đây, nhưng mẹ nói trước không được làm những trò ngốc nghếch, cũng không được rời khỏi quầy đồ chơi đâu nhé. Và mẹ sẽ không mua gì cho con cả, con phải nhớ là như thế.

Josh mừng rỡ gật đầu mà không để ý đến câu nói cuối cùng của mẹ. Lúc nào chả thế, nhưng rốt cuộc nó vẫn có thể được mua một món đồ chơi nho nhỏ nào đó sau khi van nài rất lâu, lúc mà mẹ quay lại với một xe đẩy chất đầy đồ và chỉ muốn về nhà thật nhanh. Nó vừa bước về phía những hình người bằng nhựa thì có tiếng mẹ gọi:

- Này, chàng trai, không thơm mẹ một cái à?

Josh quay lại, nhếch mép cười tinh nghịch và thơm nhanh vào má mẹ, rồi chạy về phía hình các nhân vật nó thích. Bà mẹ trẻ gần hai mươi ba tuổi Kate Phillips vừa mỉm cười vừa nhìn thằng bé chạy đi.

Cô không bao giờ gặp lại con trai nữa.

PORTLAND, OREGON

HIỆN NAY

"Nào, cùng đi chơi trong rừng, trong lúc sói đi vắng,

nếu sói ở đó, nó sẽ ăn thịt chúng mình…"

Đồng Dao

Từ ngữ hiện lên trên màn hình máy tính trong tiếng gầm gừ của những bộ phận được làm từ chất bán dẫn silic.

"[OBERON] các phòng chat tối nay chán quá. Tôi cảm thấy cô đơn. Còn bạn, bạn thấy thế nào?"

Juliette Lafayette nhíu mày trước màn hình. Cô quay đầu để xem chiếc máy tính khác đang cài một phần mềm mới qua Internet đến đâu rồi. Hàng loạt dữ liệu nối tiếp nhau theo một sự chính xác hoàn toàn tổng hợp. Phòng làm việc của cô rất rộng, cô kê theo hình chữ L để đặt một bàn học - lúc nào cũng chất đầy sách vở - và hai chiếc máy vi tính. Juliette tiếp tục chat với Oberon.

"[ISHTAR] Vẫn như mọi tối. Trống rỗng."

Những con chữ màu đen trong nickname của cô sáng lên trên màn hình máy tính. Cô thích cái tên nữ thần này. Hàng trăm nghìn người hàng ngày sử dụng Internet để chuyện trò mà không hề biết gì về người đang nói chuyện với mình, nickname là thứ duy nhất thể hiện con người ấy. Đó là tất cả những gì thể hiện những Người Khác trên Internet.

Bạn chat cô đơn của cô lại trả lời:

"[OBERON] Tôi hiểu điều mà bạn cảm thấy. Ở đây cũng thế. Sự trống rỗng, bóng tối, và màn đêm đang nuốt chửng thế giới."

"[ISHTAR] Điều mà tôi thích trên Internet chính là mọi người có thể dễ dàng bày tỏ về mình. Tôi có thể kể cho bạn về cuộc sống của tôi mà không bị ảnh hưởng gì cả, vì bạn không ở đây, và chúng ta sẽ chẳng bao giờ gặp nhau. Tôi không phải chịu đựng ánh mắt của bạn."

"[OBERON] Cứ chia sẻ các buổi tối cô đơn như thế này, cuối cùng chúng ta sẽ thấy nhớ nhau."

Juliette khẽ gật đầu.

"[ISHTAR] Chỉ thiếu mỗi điều đó nữa thôi. Mà chúng ta cũng không hoàn toàn đơn độc. Bạn có bóng đêm, như bạn thường nhắc đi nhắc lại, còn tôi có bài để học, bạn nhớ nhé!"

"[OBERON] Đúng là tôi quên mất. Hôm nay bạn có tới trường không?"

Juliette cười, suy nghĩ một lát rồi gõ câu trả lời của mình lên bàn phím:

"[ISHTAR] Sao thế? Bạn là thầy giáo của tôi hay sao? Bạn theo dõi tôi à?"

Juliette ăn nốt chỗ mì đã nguội lạnh trong bát. Cô vặn nhỏ đèn halogen khiến căn phòng ngập trong cảnh tranh tối tranh sáng dễ chịu hơn. Bên ngoài, con chó nhà hàng xóm đang sủa váng lên trong đêm.

"[OBERON] Không. Nhưng tôi chỉ quan tâm tới bạn. Bạn không nói nhiều về mình với tôi. Tôi rất muốn biết về bạn nhiều hơn."

Juliette chăm chú đọc từ ngữ của bạn chat trước khi gõ câu đáp lại.

"[ISHTAR] Từ khi chúng ta trao đổi suy nghĩ với nhau, Oberon ạ, hẳn là bạn đã muốn tìm hiểu thêm về tôi. Đúng không?"

Cô gập chân xuống dưới người và tỏ ra khó chịu vì mấy sợi mì rơi xuống thảm.

"[OBERON] Vừa tròn hai tháng. Chúng mình bắt đầu trò chuyện trên Internet từ hai tháng nay, và tất cả những gì tôi biết về bạn, là một cô gái trẻ hai mươi ba tuổi, bạn thích lịch sử và truyện thần thoại nên lấy nickname là Ishtar, nữ thần tình yêu và chiến tranh, và bạn nghiện món mì, tôi cá rằng bây giờ bạn đang ăn mì."

Juliette ngừng nhai. Làm thế nào mà anh ta biết được, nếu không phải đang quan sát cô vào lúc này? Cô chầm chậm nuốt rồi đặt bát lên bàn. Tim cô gần như ngay lập tức trở lại nhịp đập đều đặn. "Mình thật ngớ ngẩn!", cô nghĩ. Làm thế nào anh ta biết được mình đang làm gì chứ? Anh ta biết mình đang ăn gì vì gần như lúc nào mình cũng chỉ ăn một món! Cứ đọc mãi nên anh ta đã ghi nhớ!

"[OBERON] Thế nào?"

Các ngón tay Juliette lướt thành thạo trên bàn phím, theo cách của những người suốt cả ngày ngồi gõ:

"[ISHTAR] Chính xác! Thế là bạn đã biết rất nhiều về thói quen ăn uống của tôi… Cần hỏi thêm gì nữa đây?"

"[OBERON] Tôi muốn biết thật ra bạn là ai. Ai nấp đằng sau Ishtar."

"[ISHTAR] Một nữ sinh viên năm thứ tư ngành Tâm lý học. Được chưa?"

"[OBERON] Khởi đầu thật tốt đẹp. Tôi đồng ý tham gia một trò chơi nhỏ với bạn. Nếu bạn nói càng nhiều về chuyện bạn là ai, tôi sẽ hé lộ về mình nhiều hơn. Bạn thấy thế nào? Hãy cởi mở với nhau."

Juliette đặt chiếc bát đã sạch mì xuống bàn.

- Rất tiếc, Oberon ạ, nhưng đến đây thì câu chuyện đã đi hơi quá xa so với ý muốn của tôi.

Cô gõ nhanh quyết định của mình.

"[ISHTAR] Tôi sợ là không thể được. Muộn rồi, tôi nghỉ đây. Chúc ngủ ngon và hẹn gặp lại, có thể là trên Internet…"

Cô đứng dậy, vừa càu nhàu vừa vươn vai và đang định tắt máy vi tính thì một dòng chữ lại hiện lên trên màn hình:

"[OBERON] Đừng tắt! Đừng làm thế!"

- Rất tiếc, thưa vua của các vị thần (Theo nhiều truyền thuyết, Oberon hay Auberon được coi là vua của các vị thần), nhưng tôi mệt rồi.

Cô ấn nút tắt, tiếng quạt gió của máy tính đứng yên. Máy tính thứ hai đã nhận toàn bộ chương trình mà cô cần để tăng bộ nhớ, Juliette cũng tắt nốt. Cô đi qua trước tủ và đứng lại trước tấm gương to. Cô quan sát hình phản chiếu của mình trong gương. Cao và gầy. "Có lẽ hơi quá, cô tự nhủ, mình phải tập thể thao nhiều hơn nữa." Cô sờ phần mông vẫn còn rắn chắc bấp chấp hàng tiếng đồng hồ ngồi trước máy tính hay ngồi chúi mũi vào sách vở. Ánh mắt cô lướt lên khuôn mặt. Đôi môi rộng, chiếc mũi mà mẹ cô thường nói là mũi hếch và mái tóc dài mà cô đã nhuộm đen từ hai năm nay đễ làm nổi bật màu xanh của đôi mắt, trước hết là vì thẩm mỹ, sau đó là vì cô nghĩ rằng như thế hợp với cô hơn, màu tóc đen thể hiện rõ hơn tính cách độc lập của cô. Và đôi khi hơi quá buồn rầu nữa. Thoáng thấy bóng một cô gái dong dỏng cao với mái tóc đen như mun, phần lớn các chàng trai đều ngoái lại nhìn cô đi qua, cho đến khi ánh mắt cô xuyên thấu họ. Đã biết bao lần cô cảm nhận được ấn tượng mà đôi mắt xanh trong vắt của mình tạo ra với các chàng trai! Những anh chàng tự tin nhất thì cảm thấy bất ổn, thật khôi hài khi nhìn thấy họ há hốc miệng vì kinh ngạc. Thực ra, điều này khiến cô chán ngấy. Rất ít người dám lại gần cô, chắc chắn vì họ tưởng tượng ra rằng một cô gái lạ lùng như thế hẳn đã có người yêu, và số ít người vượt qua được suy nghĩ này thường chỉ là để thỏa mãn ý thích quyến rũ chứ không có gì để đáp lại cả. Với bản chất rụt rè, vào các buổi tối, Juliette thường ngồi một mình giữa hai ổ cứng và hai màn hình máy tính, chứ không có những buổi tối lãng mạn mà các cô gái trẻ cùng tuổi cô ưa thích hơn tất cả.

Nhưng theo một cách nào đó, chuyện này chẳng có bất cứ rủi ro gì, vì thế hợp với cô. Trên Internet, mọi người chỉ gặp gỡ nhau qua các nickname đơn giản mà chỉ riêng họ mới hiểu được nó nói gì về bản thân họ. Người ta có thể nói chuyện với bất kỳ ai mà không gặp nguy hiểm gì, nếu câu chuyện chuyển sang hướng gây khó chịu, thì chỉ cần thoát khỏi mạng và thế là không bao giờ phải nghe nói tới con người đó nữa. Với người mang nick Oberon này, người mà cô gặp qua một diễn đàn tranh luận, họ đã cùng nhau dệt nên một thứ tình bạn nào đó, thỉnh thoảng gặp nhau buổi tối để trò chuyện mà không bao giờ biết thực ra mình đang nói chuyện với ai. Internet là một phương tiện giao tiếp không nguy hiểm, hay còn gọi là safe communication. Nhưng dĩ nhiên, câu chuyện thiếu đi sự nồng nhiệt.

Con chó nhà hàng xóm lại sủa to hơn.

- Im đi, Roosevelt! Juliette nói to qua cánh cửa sổ để mở của phòng mình.

"Nghĩ thế nào mà lại đặt tên cho con chó là Roosevelt cơ chứ! Ít ra, mình cũng sẽ không phải nghĩ nát óc để tìm một cái tên nếu một ngày nào đó mình nuôi chó!" cô nghĩ.

Hình ảnh này khiến một nụ cười hiện ra trên môi cô và cô quyết định đi ngủ.

Đèn trong phòng cô tắt vào khoảng mười hai giờ rưỡi đêm.

***

Mấy hôm sau, mưa đập mạnh vào cửa kính giảng đường. Giáo sư Thompson đọc bài giảng của mình bằng giọng đều đều khiến một nửa số sinh viên chìm trong giấc ngủ sâu. Giữa những khuôn mặt ấy, Juliette Lafayette lơ đễnh nghe giảng, mắt nhìn ra khung cảnh xám xịt và ẩm ướt trải dài phía bên ngoài cửa sổ. Tâm trí cô lang thang về phía California, nơi bố mẹ cô đã chuyển tới sống cách đây hai tháng. Ông Ted Lafayette được thăng chức, và nhân dịp được chuyển đến San Diego này, bà Alice vợ ông dự định thay đổi nơi làm việc để lấy lại nhiệt huyết mà công việc đơn điệu nhàm chán đã làm tiêu tan trong bà, vì thế bà theo chồng đến miền đất nhiều ánh nắng mặt trời hơn. Juliette đã lớn lên ở đây, ở Portland, những người bạn ít ỏi của cô cũng ở đây, cùng với tất cả dấu mốc trong đời, vì thế cô không muốn đi theo bố mẹ. Ở góc độ nào đó, cô là người giữ nhà. Sống một mình trong ngôi biệt thự rộng lớn như thế này không phải là chuyện dễ dàng, nhưng sự cô đơn nằm trong tính cách của cô, cô thích độc lập, đến mức vì nó cô thường phải trả giá bằng việc chia tay với bạn bè, mặc dù cô có rất ít bạn. Khó khăn nhất không phải là cảm thấy cô đơn - mặc dù ban đêm có lúc cô cảm thấy khiếp sợ vì những thứ nhỏ nhặt nhất - mà là tự đặt ra cho mình một cuộc sống quy cũ. Không ngủ dậy vào bất kỳ giờ nào, chăm sóc nhà cửa, và nhất là ăn uống đầy đủ. Juliette không thể nấu nổi những món cầu kỳ mà không có lý do, cô thường ăn ít và ăn gì cũng được, miễn là nấu nướng đơn giản.

- Chúng ta có thể nói về ba giai đoạn của hội chứng Stockholm…

Tiếng giáo sư Thompson đột nhiên vang lên như tiếng ma.

"Mình phải tập trung một chút nếu không muốn bị đuổi học ngay từ đầu năm", Juliette tự nhủ và chớp chớp mắt để tỉnh hẳn khỏi giấc mơ. Những tiếng cười vọng đến từ hành lang, giáo sư Thompson bực bội nhìn nhanh ra cửa rồi nói tiếp:

- Giai đoạn đầu tiên trong việc bắt con tin chính là sự phát triển của stress, phần lớn là cấp tính. Rồi đến giai đoạn tạm giữ, khi kẻ bắt con tin tống tiền: giai đoạn vô nhân tính, các con tin chỉ là hàng hóa. Nhưng cũng chính vào thời điểm này diễn ra sự đồng nhất hóa với kẻ bắt cóc, khi con tin dần dần vượt qua nỗi sợ chết và bắt đầu có thiện cảm với kẻ bắt cóc. Và cuối cùng là giai đoạn hậu quả khi xuất hiện stress hậu chấn thương hay hiện tượng trầm cảm.

Juliette bị thu hút bởi thái độ kỳ cục này. Làm thế nào mà những người bị bắt cóc và giam giữ ngoài mong muốn lại có thể có thiện cảm với kẻ bắt cóc họ? Khi giáo sư Thompson nói về trường hợp một phụ nữ yêu kẻ bắt cóc mình và cuối cùng đã lấy hắn, Juliette không thể nhịn được cười. "Cứ như là trong phim của Hollywood ấy", cô tự nhủ. "Chỉ thiếu Kevin Costner trong vai kẻ xấu nữa là đủ để quay toàn bộ phim! Thực tế thường vượt xa khả năng tưởng tượng."

Mười phút cuối của buổi học trôi qua nhanh chóng.

Juliette tới bãi đỗ xe của sinh viên và chui vào chiếc Coccinelle nhỏ. Mưa đã ngừng rơi trước đó vài phút. Cô đi về phía Nam thành phố, trên đường đi, cô dừng ở một cửa hàng Seven-Eleven để mua vài chai bia. Giống như tất cả các tối thứ Tư hàng tuần, cô đến nhà bạn gái thân nhất của mình, Juliette và Camelia không giống nhau chút nào, ít nhất là theo các tiêu chí chung. Juliette hai mươi ba tuổi, còn Camelia đã ba mươi hai. Juliette thích ở nhà một mình, còn Camelia thích đi chơi, cô đã từng kết hôn trong năm năm. Nhưng khi nói chuyện với nhau, giữa họ có một sự hòa hợp chân thành. Cho dù là chủ đề gì, câu chuyện của họ đều có những điểm chung, và các buổi tối thường kéo dài đến rất khuya.

Chiếc Coccinelle dừng lại trước một ngôi nhà màu sơn đã cũ.

Camelia mở cửa. Đó là một phụ nữ cao lớn với những lọn tóc vàng dài chỉ tự nhiên ở hình thức xoắn của chúng. Một nụ cười thoải mái khiến khuôn mặt cô rạng rỡ khi thấy Juliette tới.

- Chào em gái xinh đẹp!

- Chào chị, sắp đến tháng Mười, trời cũng sắp lạnh rồi, Juliette nói rồi vội vã bước vào nhà.

- Chị sẽ đốt lửa trong lò sưởi, em ngồi xuống đi.

Juliette nhíu mày khi thấy làn da nâu của Camelia.

- Em tưởng chị đã thôi chiếu tia cực tím rồi chứ, cô nói. Không tốt cho da chị đâu!

- Cứ cho đây là thú vui cuối cùng sau mùa hè. Chị đã làm món sa lát mề vịt, kiểu ẩm thực Pháp cao cấp! Để em nhớ về gốc gác của mình.

- Ừm…Trong nhà chỉ còn bố em nhắc tới chuyện này. Em nghĩ đây là một kiểu thích làm sang, khoe ta đây có ông bà người Pháp. Cứ như đó là một đặc quyền, kiểu như mang dòng máu hoàng tộc.

Juliette đặt bia lên bàn trong bếp. Một chiếc ti vi đang bật đâu đó trong nhà tiếp tục phát đi bản tin.

- Bố mẹ em thế nào? Camelia hỏi.

- Bố mẹ em vừa gọi điện tối hôm qua, mẹ rất thích ở đó, hơi khó quen với cái nóng, nhưng không sao. Còn bố em làm việc rất nhiều, ông hay về muộn và thường phải làm việc cả trong hai ngày nghỉ cuối tuần. Mẹ em bảo điều ngạc nhiên nhất là người California có tâm tính khác hẳn.

- Em chưa bao giờ tới California hay sao? Camelia ngạc nhiên hỏi trong khi sắp đĩa lên một chiếc khay.

- Chưa, chị biết đấy, em và các chuyến đi… Em chưa đi nhiều ra khỏi bang Oregon.

Camelia đặt hai tay lên hông và lắc mạnh người.

- Thế thì hãy mua một bộ áo tắm mới, cuối tuần này chị sẽ đưa em tới Los Angeles và các bãi biển chật kín đàn ông đầy cơ bắp.

- Chật kín vào cuối tháng Chín sao?

- Ôi, em của tôi, đó chính là tâm tính California, một người California thực sự không để ý đến mùa. Mà lúc nào anh ta cũng ở bên trên, em hiểu chị định nói gì chứ…

Juliette không để ý đến nhận xét hơi tục đó và chỉ đáp ngắn gọn:

- Chị biết đấy, các bãi biển không hợp với em lắm.

Camelia nhìn thẳng vào mắt Juliette.

- Juliette, một ngày nào đó, em cần phải yêu thích cái mà tất cả mọi người trên thế gian này đều làm, hoặc là hãy chờ đến lúc kết thúc cuộc sống ẩn cư của em và bị mọi người quên lãng!

- Dù sao em cũng sẽ không tự ép buộc mình! Em thấy thật ngớ ngẩn khi cả ngày ăn mặc hở hang, gần chết vì nóng, để thu hút sự chú ý của đám đàn ông cần sex, và với làn da bị dãn ra vì muối biển. Có thể nghĩ như thế là không hợp thời, nhưng xin lỗi, em không thể làm gì khác.

Camelia nhìn cô với ánh mắt khoan dung rồi gật gật đầu.

- Đúng là không thể thay đổi được em. Thôi, hãy giúp chị mang tất cả những thứ này vào phòng khách đi.

Hai người sắp đặt đĩa lên một chiếc bàn rất đẹp bằng kính màu tối. Nhà của Camelia không chỉ rất rộng, mà còn được bày biện nội thất cầu kỳ. Khoản tiền chu cấp của người chồng cũ giúp cô có thêm khả năng tài chính để đáp ứng những sở thích xa xỉ.

Họ ăn tối ngon miệng, uống rất nhiều rượu vang. Khoảng 10 giờ, cả hai cảm thấy hơi say và chuyển ra ngồi trước tivi. Juliette tự dưng bật cười, trong khi Camelia thích thú bình luận về các nhân vật khờ khạo trong một bộ phim hài tình huống.

Cả hai cười trong suốt hơn một giờ đồng hồ, chỉ tạm ngừng để uống thêm cốc rượu hay để chuyển kênh. Camelia thường thích nhắc đi nhắc lại rằng cô là sản phẩm của một trục trặc xã hội, vì cô được thành hình trong lần New York bị mất điện kéo dài vào năm 1965. Cô luôn miệng phê phán vai trò ngớ ngẩn của truyền hình hiện đại khiến Juliette phải cười phá lên.

- Chị cứ nguyền rủa cái tivi từ hơn một giờ rồi, cô nhận xét, nhưng chị lại suốt ngày ngồi xem nó!

- Đó là vì chị không tin những gì chị xem, chị tiếp tục tìm một chương trình thông minh…

Những tràng cười càng to hơn.

Gần nửa đêm, Juliette quyết định đã đến giờ về nhà. Camelia nói đi nói lại rằng Juliette không nên cầm lái và hãy ngủ lại ở phòng ngủ dành cho khách, nhưng cô từ chối. Juliette hứa sẽ lái xe rất chậm và cẩn thận, mặc dù khoảng cách không đáng kể, nhà cô chỉ cách đây hơn một cây số, phía trên đồi.

Đứng trên thềm, Camelia giơ tay chào tạm biệt rồi quay vào đi ngủ. Juliette xuống hết các bậc thang đến tận phố, tranh thủ tận hưởng không khí trong lành của đêm để tỉnh táo lại. Cô cảm thấy chếnh choáng, nhưng hơi rượu chỉ nhẹ thôi, cô cho là mình vẫn có thể lái xe được. Tự cảm thấy chân đang lê bước, cô thở thật mạnh để cơ thể hoạt bát hơn. Cô đặt tay lên lan can cầu thang rồi ngắm nhìn những ngôi nhà và vườn tược nhấp nhô bên dưới. Đằng xa, sông Willamette cắt ngang trung tâm thành phố như một dải lụa đen. Sự tương phản rất ấn tượng, đứng trên cao, Juliette bao quát được toàn bộ Portland rực sáng, tất cả các tòa nhà cao tầng và các con phố nhộn nhịp. Thế nhưng cô không thấy gì sống động cả, chỉ là một đám ánh sáng vô hồn.

"Ý nghĩ thật đúng lúc! Cô nghĩ. Đã qua nửa đêm, và mình thấy chán khi ngắm cảnh thành phố, ngày càng đau buồn!"

Thôi không nhìn quang cảnh đã thuộc lòng, Juliette băng qua phố, đi qua chiếc xe bán tải đỗ ở đó và lại gần chiếc Coccinelle của mình, tay lục tìm chìa khóa trong túi quần jean. Cô lục lọi cả hai túi và chợt nhận ra lốp sau bị xẹp. Nó nằm bẹp gí trên mặt đường nhựa như một chiếc kẹo cao su bị ném bỏ.

- Ôi, khỉ thật! Sao lại là tối nay!

Cô đang dựa vào chiếc Coccinelle để tìm cách thì một giọng nói khiến cô giật nảy mình.

- Có vấn đề gì vậy, cô gái?

Juliette đột ngột quay ngoắt lại và chạm trán với một người đàn ông khoảng ngoài hai mươi tuổi. Rõ ràng là bất ngờ với phản ứng của cô, anh ta lùi lại ngay lập tức và xin lỗi.

- Rất tiếc, anh ta ấp úng, tôi không định làm cô sợ.

Dường như anh ta cũng luống cuống như cô, và Juliette ra hiệu cho anh ta biết không sao cả.

- Tại tôi, tôi rất nhát gan, cô vừa thở mạnh vừa đặt bàn tay lên tim.

- Tôi thấy rồi. Cô gặp rắc rối đấy, anh ta vừa nói vừa chỉ tay vào chiếc lốp xịt.

- Vâng, nhưng không sao, tôi sống gần đây thôi.

- Cô có muốn tôi đưa về không? Xe của tôi ở ngay kia.

Anh ta chỉ cho cô chiếc xe bán tải to đùng màu xanh đỗ cách đó vài mét, ở vị trí cao hơn.

Ánh mắt người lạ lướt nhanh, anh ta không nhìn Juliette, mà quan sát xung quanh, không dừng một giây nào cả. Hình thức bình thường, tóc nâu hơi dài, khá vạm vỡ, nhưng có cái gì đó trong thái độ của anh ta ngược hẳn với các thứ còn lại. Juliette nhìn vào mặt anh ta vài giây rồi đáp lại một cách hơi khó chịu.

- Ồ, không, anh tốt bụng quá, nhưng tôi chỉ đi mất năm phút thôi.

- Tôi đảm bảo với cô rằng chuyện này không hề làm phiền tôi, anh ta cười và tiếp tục nói.

"Một kẻ tán gái, cô nghĩ, một tên hình thức bình thường nhưng biết nịnh đầm."

Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, cô tưởng tượng ra rằng đây có thể là một cuộc gặp sẽ tiến triển thành một câu chuyện đẹp, giống như một số cặp vợ chồng già thường kể. Nhưng giờ đây, cô lại thấy khó chịu vì người này. Đằng sau nụ cười hết cỡ ấy, cô cảm nhận có điều gì đó khác nữa, không rõ ràng.

"Đôi mắt. Đôi mắt anh ta không phản ánh điều mà anh ta thể hiện ra trên mặt", cô tự nhủ.

Quả là có một tia sáng sắc lạnh lóe lên trong ánh mắt anh ta. Mặt anh ta tỏ ra tươi tỉnh, anh ta làm tất cả vì điều đó, nhưng ánh mắt lại không hơn gì mắt của một con cá chết.

- Thế nào? Anh ta vội vã hỏi.

- Tôi sẽ đi bộ, tôi thích như thế, dù sao cũng cám ơn anh, Juliette đáp và nhoẻn cười. Chào anh.

Cô bắt đầu bước đi thì nghe thấy sau lưng có tiếng lắc một chai đầy chất lỏng, giống như tiếng lắc chai rượu whisky.

Cô chưa kịp hiểu điều gì xảy ra thì một đám mây bằng bông ụp vào mặt cô.

Những ngọn lửa mù mịt phụt lên trong họng cô.

Cô cố gắng vùng vẫy nhưng sức ép rất mạnh giữ chặt lấy cô.

Đầu óc cô lạc vào một dòng thác hình ảnh không thể hiểu nổi.

Phổi cô bỏng rát khủng khiếp.

Rồi màu đen bao trùm sau vài giây.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 2

Hành lang tối om, vài giọt nước rơi đâu đó dưới tầng hầm. Nhưng điều tồi tệ nhất chắc hẳn là bóng tối, không thể nhìn thấy gì cách hai mét. Rồi thứ đó đột ngột hiện ra, giống như con quỷ chui khỏi cái hộp. To lớn và gớm ghiếc, nó vụt tới, chém bay đầu con người đang còn ngây ra nhìn nó, không để anh ta kịp giơ vũ khí.

- Khỉ thật! Joshua Brolin thốt lên và nhảy khỏi ghế bành để tắt trò chơi điện tử.

Phòng làm việc nơi anh đang ngồi nằm trên tầng sáu của Sở cảnh sát Portland, căn phòng rất sáng nhờ có những cửa sổ lớn và đặc biệt căn phòng rất rộng rãi, điều hiếm hoi trong ngành cảnh sát.

Cánh cửa chợt mở ra và một người mặc đồng phục tiến vào. Thân hình to khỏe, mái tóc điểm bạc và đôi mắt có quầng đen, Lany Salhindro đang trong tâm trạng bực bội.

- Cậu làm thanh tra đã hai năm rồi mà không gắn biển hiệu lên cửa, ông vừa nói vừa bước vào như thể đây là phòng của mình. Nhìn thấy chiếc ti vi nhỏ và máy chơi điện tử, ông nói thêm:

- Thế nào, Josh, vẫn còn thích chơi trò trẻ con này à?

- Hãy tin tôi, tôi đã cố thử không chơi nữa nhưng còn khó hơn cả cai thuốc lá! Đây là thứ duy nhất khiến tôi không nghĩ đến điều gì khác ngoài công việc. Đây là cách giải tỏa stress của riêng tôi.

- À, ra là để giải tỏa Stress. Thôi, đây là báo cáo của bác sĩ pháp y về cô gái trẻ xinh đẹp được vớt sáng hôm kia, Salhindro nói rồi đặt một tập hồ sơ lên chiếc bàn đã chất đầy giấy tờ.

- Các cuộc kiểm tra bằng kính hiển vi đã được thực hiện hôm qua, nhưng người ta chưa kịp viết ra hết tất cả, chúng ta sẽ có kết quả trong ngày hôm nay.

Ông ngồi xuống và kéo chiếc thắt lưng nặng nề ra để giải thoát cho chiếc bụng phệ của mình. Một tháng nữa là tròn năm mươi tuổi, thừa quá nhiều cân, Larry Salhincdro làm việc ở Sở cảnh sát Portland đã hai mươi bảy năm. Những năm tháng dài đi tuần tra khiển ông phải ăn đủ loại đồ ngọt mới có thể chịu đựng được về mặt thể chất.

Brolin cầm lấy hồ sơ, lấy kính ra khỏi hộp rồi đeo vào. Với những sợi tóc nâu rơi xuống trán, đôi mắt to màu hạt dẻ, cái miệng luôn tươi tắn một cách tự nhiên và chiếc cằm vuông rộng, cặp kính đem lại cho anh vẻ nghiêm khắc khá hiếm thấy. Gần ba mươi mốt tuổi, Brolin là thanh tra trẻ nhất của Phòng điều tra tội phạm. Người ta thường chỉ trích anh bởi nom anh giống một ngôi sao bóng đá - vì thế anh còn có biệt danh QB (Viết tắt của Quaterback - đội trưởng cũng là ngôi sao bóng đá Mỹ) - hơn là một thanh tra hiện trường. Nói bằng cách này hay cách khác để anh hiểu không nên nhắc lại khởi đầu nghề nghiệp của mình. Joshua Brolin có con đường nghề nghiệp khác thường khi chuyển từ FBI sang ngành cảnh sát chứ không phải ngược lại. Với tấm bằng tâm lý học trong túi và năng khiếu thực sự trong nghiên cứu bệnh học tâm thần, Brolin muốn vào FBI để làm việc ở Tổ Khoa học Hành vi (USC) và như vậy sẽ được đắm mình trong suốt các cuộc điều tra. Thế là bắt đầu chuỗi bài kiểm tra để vào Quantico, học viện của FBI, rồi đến giai đoạn đào tạo nhạt nhẽo. Anh dễ dàng qua vòng thi sơ tuyển, là một trong những thí sinh xuất sắc nhất, vì thế anh làm quen được với các thành viên của USC và gây dựng mối quan hệ. Ngoài ra, mong muốn theo học trong các lĩnh vực của chuyên ngành tội phạm học và điểm số xuất sắc đã giúp anh nhanh chóng có được quyền ngoại lệ đặc biệt tham gia các khóa đào tạo đặc thù của USC. Cả ở đây, anh cũng nổi bật nhờ khả năng tích hợp thông tin để so sánh chúng với các yếu tố điều tra được và từ đó rút ra thông tin hoàn toàn chính xác về tội phạm.

Chính từ đó, mọi chuyện bắt đầu xấu đi. Brolin biết rõ rằng không thể trở thành chuyên gia tâm lý ở USC ngay sau khóa đào tạo, thông thường phải chứng tỏ vài năm ở một đơn vị khác trước đã rồi mới được chấp nhận nộp đơn xin việc: chỉ có kinh nghiệm hiện trường mới có thể đem lại cho một đặc vụ những năng lực cần thiết để trở thành một chuyên gia tâm lý tội phạm giỏi. Thế nhưng Brolin đã từng suy nghĩ rất ngây thơ rằng với điểm "giỏi" ở hầu hết các môn thi và những mối quan hệ rất tốt đẹp giữa anh với một số cán bộ, anh sẽ có được tấm vé đi thẳng vào USC, ít nhất là với tư cách thực tập sinh. Nhưng sự việc không diễn ra như vậy. Anh chỉ vào được FBI sau hai năm luyện tập và học về tội phạm học.

Dưới vẻ bề ngoài lạnh lùng và không khoan nhượng, thực ra USC lại là một gia đình lớn, nơi mỗi người không ngần ngại giúp đỡ và đưa ra lời khuyên cho đồng nghiệp của mình. Lý do chủ yếu là vì tất cả mọi người đều làm việc với những vụ chặt chân tay dã man, hành hạ tình dục tàn ác và nhiều vụ khủng khiếp khác. Họ giúp đỡ lẫn nhau vì họ không có lựa chọn nào khác, rất nhiều người trải qua vài năm ở USC rồi xin chuyển công tác, ở đây người ta phải sớm chuyển đi nếu muốn giữ cho mình một sức khỏe tâm thần vững vàng trong xã hội. Công việc hàng ngày của một chuyên viên là phân tích những vụ án tồi tệ nhất xảy ra trong nước qua rất nhiều bức ảnh, thậm chí là bộ phim và báo cáo của pháp y hay cảnh sát. Trên thực tế, mỗi ngày là một lần chìm trong những ngõ ngách sâu thẳm đen tối nhất của lòng người.

Lạ thay, đó không phải là điều khiến Brolin khó chịu nhất trong suốt nhiều giờ làm việc ở đây trong thời gian đào tạo. Anh hoàn toàn chìm đắm được vào một cuộc điều tra, thấm nhuần các yếu tố và tái tạo lại hành vi của kẻ sát nhân, rồi dần dần thoát ra khỏi vai đó để lại trở về là Joshua Brolin.

Một buổi tối, sau một ngày dài nghe giảng, Robert Douglas, giám đốc USC, nói với anh rằng ông nhìn thấy ở anh một chuyên gia tâm lý tội phạm bẩm sinh vì khả năng tách biệt cuộc sống riêng và công việc. Khó khăn lớn nhất đối với một Chuyên gia tâm lý là phải chìm đắm hoàn toàn vào tâm lý của kẻ sát nhân, phải hiểu rõ sự vận hành của nó để suy nghĩ theo nó, rồi cuối cùng khoanh vùng được vấn đề và biết tên tội phạm sẽ làm gì. Đạt đến trình độ này là một việc làm dài hơi, chuyên gia tâm lý sống cùng với tất cả những gì anh biết về cuộc điều tra và các nạn nhân; anh tập trung vào những bằng chứng trên xác chết, cả ngày lẫn đêm, cho đến khi có thể cảm thấy mình "giống" với cá tính của kẻ sát nhân.

Rồi anh trở thành kẻ sát nhân.

Ít nhất anh cũng hiểu hành động, nhất là động cơ, ảo tưởng của hắn và hiểu hắn muốn gì ở thời điểm diễn ra vụ án. Chỉ khi đó anh mới có thể dựng lại tâm lý kẻ sát nhân, vì anh biết hắn thế nào, anh đã nhận thấy các nhu cầu của hắn và có thể dự đoán những hành động nguy hiểm hắn tiến hành trong tương lai.

Theo Douglas, tính cách mạnh mẽ của Brolin giúp anh làm được việc này mà không phải chịu thương tổn tâm lý nặng nề khi vai trò kẻ sát nhân kết thúc, đây là tư chất chủ yếu của một chuyên gia tâm lý tội phạm. Quả thực, Brolin đã chứng tỏ một sự đồng cảm khó tin chứ không chỉ đơn giản là cảm nhận, đây chính là điểm mạnh của anh. Anh không tìm cách tự lý giải điều này, nó vốn dĩ như vậy ở anh, anh không muốn cố thử phân tích tỉ mỉ hơn nữa hiện tượng ấy, anh không quan tâm đến nó. Điều anh muốn là tóm được những kẻ bệnh hoạn kia trước khi chúng kịp phạm tội ác mới. Ở Quantico, mọi người thường thì thầm trong hành lang của các đơn vị sát cạnh USC rằng tất cả các chuyên gia tâm lý tội phạm chắc chắn làm việc ở FBI, nhưng chỉ cần một chuyện không to tát gì xảy ra trong tuổi thơ của họ là đủ để một ngày nào đó khuôn mặt họ cũng được đặt cạnh ảnh những kẻ giết người hàng loạt tàn ác nhất đang ghim trên tường các văn phòng.

Làm sáng tỏ các dấu hiệu, thu thập chứng cứ, dựng lại tâm lý để dần dần xác định kẻ sát nhân, đó là những động cơ chủ yếu của Brolin khi gia nhập FBI. Lúc nhận được thẻ anh hơn hai mươi tám tuổi, và Robert Douglas gọi anh vào Phòng.

- Tôi biết cậu muốn trở lại đơn vị của tôi, khi giờ đây cậu đã chính thức làm việc ở nơi này rồi, ông nói. Nhưng cậu phải kiên nhẫn. Chắc chắn cậu sẽ trở thành một chuyên gia tâm lý tội phạm giỏi, như tôi đã từng nói với cậu.

- Sao Cơ? Brolin hỏi, anh cảm thấy đắng miệng vì thất vọng.

- Tôi sẽ không tạo ra ngoai lệ. Cần phải có kinh nghiệm hiện trường cộng với trực giác nên dù đã nắm được toàn bộ hồ sơ về cậu, tôi vẫn muốn cậu rèn luyện mình. Việc này sẽ mất khoảng bốn đến năm năm, cùng lắm là sáu năm. Tôi không đòi hỏi gì nhiều, chỉ cần cậu tích lũy kinh nghiệm của một cảnh sát trong suốt thời gian này, hãy tin tôi đi, có hàng trăm thứ mà cậu chỉ có thể biết được ở đó, trong đô thị đông đúc. Sau đó, cậu sẽ có chỗ ở đây. Cùng với chúng tôi.

Trước bộ mặt hơn cả nhăn nhó của Brolin, Robert Douglas nói thêm:

- Cậu nghĩ gì thế, hả? Có thể cậu sinh ra để làm công việc này, nhưng tôi sẽ không nhận một nhân viên có nguy cơ ngồi đần ra trước một hồ sơ vì anh ta không đủ kinh nghiệm và độ chín. Cậu đã xem mọi người ở đây làm việc chưa? Ít nhất họ đều đã qua tuổi băm. Tôi sẽ sắp xếp cho cậu một vị trí thích hợp, rồi vài năm nữa cậu sẽ gia nhập đơn vị.

Brolin biết rằng Douglas nói vòng vo, nhưng sự thật rất đơn giản: USC có được uy tín lớn nhờ ra sức làm việc và chỉ muốn nhận những nhân viên đã nhiều lần chứng tỏ được năng lực của mình, để không bị mất uy tín vì chọn nhầm người. USC không thể gặp bắt cứ rủi ro nào.

Vài ngày sau, anh nhận được giấy phân công công tác đến một đơn vị khu vực ở Boston. Nhiều bạn bè cùng khóa ghen tị với quyết định này, nhưng với Brolin, điều đó có nghĩa là sống thêm sáu năm nữa mà không được tiếp xúc với công việc anh đam mê từ suốt tám năm nay. Chỉ đơn giản là không thể bàn đến.

Trong quá trình học, Brolin có thiện cảm với một chuyên gia dạy môn tâm lý học tội phạm tên là John Rissel. Ông này tỏ ra rất nhiệt tình và dễ gần. Rissel là nút khởi động của anh. Ông cũng nói rằng anh có năng khiếu thực sự để xác định cá tính của bọn tội phạm, rằng anh phải kiên nhẫn. Nhưng trước lời từ chối dứt khoát của Brolin, ông đã đầu hàng. Thế là ông khuyên anh nên xin nghỉ việc và gia nhập lực luợng cảnh sát. Ở đó, người ta cần những người như anh, có lẽ người ta sẽ cử anh đến hiện trường để kiểm tra, nhưng nếu vào một khu dân cư quy mô trung bình, anh sẽ nhanh chóng được nhận những hồ sơ tội phạm và cả phần tâm lý tội phạm, chắc chắn là nhanh hơn so với ở FBI. Rissel đã xác định được tính cách của anh, nhu cầu được làm việc trên những cơ sở vững chắc, trong một môi trường ổn định nơi anh có thể phát huy được nhờ luôn mong muốn biết nhiều hơn về các sự việc xung quanh mình. Rissel đã động viên anh đến định cư ở một thành phố lớn chứ không nên lựa chọn cuộc sống nay đây mai đó của bất cứ đặc vụ FBI nào. Nếu anh cảm thấy không thể chịu đựng nổi mấy năm ở đây, thì hãy đi tới nơi mà ở đó anh có thể có ích nhất và phát triển được khả năng của mình tốt nhất.

Thế là với tấm bằng tâm lý học và sau khóa đào tạo về tội phạm học ở FBI, Brolin tới làm việc tại Portland; thành phố nơi anh sinh ra, và chỉ sau sáu tháng, anh có được vị trí thanh tra. Anh mất thêm mười một tháng với những sự vụ không ổn định, rồi nhờ khả năng xác định bản chất tội phạm của mình: anh nhanh chóng được cấp trên đánh giá cao và cuối cùng cũng được giao những hồ sơ thú vị nhất. Từ đó, anh tránh nhắc tới quá khứ ở FBI, quãng thời gian mà anh coi là để lấy thêm kinh nghiệm nghề nghiệp, mặc dù đó là thất bại cá nhân lớn nhất trong đời anh.

Ở một thành phố như Portland, một quá khứ là Fed ( Điệp viên liên bang của FBI) là đủ để chuốc lấy tiếng tăm xấu, như thể đó là bằng chứng của một tham vọng leo cao. Các cảnh sát khác cảm thấy ở Brolin một chú ngựa non háu đá, nhưng hoàn toàn không phải như thế, cần phải gần gũi mới hiểu được anh, điều mà rất ít người thử làm, ngoại trừ Salhindlro.

- Mấy cậu ở phòng xét nghiệm vẫn chưa xác định được danh tính của cô gái, tôi đoán đúng không? Brolin hỏi mà không ngẩng đầu khỏi bàn.

- Ô, đúng là chưa, và với tình trạng ấy, sẽ không đơn giản đâu! Cô gái đã bị biến dạng vì khí gaz, còn màu da thì...

Mặc dù kém ông đến gần hai mươi tuổi, nhưng Brolin vẫn xua tay ra hiệu im lặng.

- Larry, tôi ở đó khi người ta tìm thấy cô ấy. Cô ấy chết vì nguyên nhân gì?

- Ngạt thở.

- Bị chết đuối, ý anh muốn nói thế chứ gì, Brolin chữa lại.

- Không, tôi muốn nói là cô ấy chết vì không hít được đủ khí nữa. Hai con đỉa khiến cô ấy bị ngạt.

Lần này, Brolin ngước mắt lên nhìn thẳng vào Salhindro qua phía trên gọng kính.

- Gì cơ?

- Tôi biết điều này rất lạ, nhưng đó là những gì đã được viết ra.

Salhindro cầm tập hồ sơ; lật các tấm ảnh và trang giấy cho đến trang ông cần tìm.

- Đây, tôi đọc nhé: "... sự hiện diện không thể giải thích được của sáu con đỉa trong đường thở đã làm tâm thất phải bị quá tải khiến tim ngừng đập. Sáu vật thể lạ được tìm thấy ở nhiều nơi, trong thực quản, ở thành họng và nắp thanh quản. Các mẫu đã được chuyển tới chuyên gia về đỉa để biết thêm thông tin chi tiết. Các thương tổn - mà kết quả khám nghiệm giải phẫu bệnh học đã khẳng định là có từ trước khi chết - trong miệng, ở răng và lưỡi cho thấy kẻ sát nhân đã nhét các vật thể lạ vào họng nạn nhân trước khi nạn nhân chết. Có thể cho rằng đỉa đã bò xuống thanh quản để hút máu. Mặc dù cơ thể thối rữa còn che giấu một số điều, nhưng các vết tụ máu, bầm tím cùng một số dấu hiện khác trên da và niêm mạc bảo vệ rất dễ phát hiện. Các dấu hiệu bên ngoài và bên trong quanh hàm cũng như những tổn thương khác nhau trong khoang miệng cho phép giả thiết rằng kẻ sát nhân đã cậy mồm nạn nhân để nhét đỉa vào. Các khám nghiệm giải phẫu bệnh học sẽ cho thấy hậu quả của nước trong phổi, và sẽ đưa ra thông tin cụ thể liệu nạn nhân bị chết đuối, hay chỉ bị nước vào có thể sau khi chết vì bị vất xuống sông". Đỉa hút máu và ngày càng to ra, khiến nạn nhân không thở được dẫn đến bị chết ngạt. Đấy, tất cả đều có trong báo cáo.

Tập hồ sơ phát tiếng kêu mạnh khi Salhindro thả phịch xuống mặt bàn.

- Đồng ý, chúng ta đang phải đối mặt với một kẻ điên thích tống đỉa vào họng người khác, nhưng điều tôi quan tâm nhất là có đúng kẻ mà chúng ta đang tìm kiếm đã làm việc này hay không! Brolin bật lại, anh bắt đầu cảm thấy căng thẳng thần kinh. Vậy anh có thể nói gì về vết thương trên trán nạn nhân? Có tin tức gì chưa?

Ngồi trước mặt viên thanh tra trẻ tuổi, Salhindro khoanh tay và quan sát bầu trời qua cửa sổ.

- Đúng! Hãy quay lại với dấu hiệu này, ông đáp, nó sẽ khiến cậu quan tâm đấy.

Hôm kia, Brolin được gọi tới bờ sông Tualatm, nơi người ta vớt được một xác phụ nữ. Chuyên gia pháp y ở hiện trường nhanh chóng nhận ra một vết lạ trên trán cái xác. Hơi thối rữa và thời gian ngâm trong nước không cho phép nói chính xác đó là vết gì, nhưng thanh tra tại hiện trường mời ngay Joshua Brolin tới.

Trong vòng hai tháng qua, hai xác phụ nữ khác cũng đã được tìm thấy trong tình trạng tuơng tự, chân tay bị chặt hết sức dã man.

Nạn nhân thứ nhất hai mươi hai tuổi, làm bồi bàn. Cô bị bắt cóc trên đường trở về nhà. Những người đánh cá vô tình phát hiện ra cô đang trôi sấp nổi tại một cái hồ trong vùng.Tay bị chặt đến ngang cẳng tay trong lúc còn sống. Cô vẫn còn sống khi sự việc diễn ra. Vì một lý do nào đó chưa xác định được, kẻ sát nhân đã làm bỏng trán cô, để lại một vết rộng hình ngôi sao. Mặc dù không sâu, nhưng vết thương cũng để lại những tổn thương nghiêm trọng, làm nổ tung toàn bộ vùng trán giống như một hố núi lửa. Lần này cũng thế, tình trạng không toàn vẹn của cơ thể không cho phép kết luận chính xác về tác nhân gây ra. "Có thể là một loại axít", chuyên gia pháp y chỉ viết như vậy. Cái xác đã bị ngâm trong nước quá lâu nên người ta không thể nói được gì thêm.

Nạn nhân thứ hai là một nữ sinh viên ngành nghệ thuật tạo hình, hai mươi ba tuổi. Bị bắt cóc ở bãi xe của một hộp đêm và được tìm thấy trên sông Tualatin. Cô gái trẻ này cũng không còn bàn tay và cũng có vết bỏng trên trán. Lần này, vết bỏng sâu hơn, phá hủy phần lớn phía trên khuôn mặt. Trong cả hai trường hợp, xác đều bị chặt chân tay, và cho dù do bị ngâm lâu trong nước nên người ta chưa thể khẳng định được, nhưng có vẻ như đây là các nạn nhân của bạo hành tình dục. Nguyên nhân chết là do nhiều nhát chặt và hiện tượng chảy máu mà người ta có thể dễ dàng nhận thấy trên cả hai cái xác.

Hiển nhiên là chuỗi tội ác sẽ không dừng lại ở đây. Để chặt tay và giết người như thế, phải có một sự quyết tâm và tàn bạo cần thiết, vì thế có thể dự đoán rằng tên sát nhân là một kẻ mắc bệnh tâm thần nguy hiểm, và hắn đang chờ đợi một nạn nhân mới.

Brolin đã nghiên cứu những vụ tương tự ở FBI, anh biết dựng lại tâm lý hung thủ nhờ những yếu tố của cuộc điều tra, và nhất là không ai trong Sở cảnh sát Portland biết rõ hơn anh về những kẻ giết người hàng loạt. Hai ngày trước, thám tử Ashley có mặt khi người ta vớt được xác một phụ nữ với vết bỏng trên trán, và mặc dù hai bàn tay không bị chặt, nhưng thám tử vẫn mời Brolin đến ngay vì Brolin là người phụ trách điều tra chính thức.

Với những kẻ giết người hàng loạt, anh luôn thích đặt biệt danh cho chúng. Lần này, ý tưởng thuộc về một đồng nghiệp của Brolin. Dựa vào sở thích chặt tay và tra tấn nạn nhân, tên sát nhân được đặt biệt danh Đao phủ Portland. Thông tin bị lọt ra ngoài và báo chí tự cho rằng anh là tác giả của biệt danh này.

Hiện giờ, Brolin chỉ còn chờ câu khẳng định điều mà anh đã biết trong thâm tâm mình, rằng vết bỏng trên trán của người phụ nữ này là do axít gây ra.

Salhindro lại cất giọng trầm:

- Cùng một vết bỏng như hai cô gái kia. Khám nghiệm pháp y cho thấy cũng một sự kiên trì đổ một lượng lớn chất ăn da lên phần trên của khuôn mặt. Lại một lần nữa, tình trạng bị ngâm trong nước không cho phép kết luận nguyên nhân gây ra, nhưng dường như đó là axit. Vậy là vẫn cùng một cách hành động như đối với hai nạn nhân trước.

Ngược lại với đồng nghiệp và cũng là anh bạn trẻ Josh Brolin của mình, Salhinđro chưa từng theo học khóa đào tạo mô tả tâm lý tội phạm ở Quantico. Nhưng nhiều năm làm việc cùng các chuyên gia tâm lý của Sở cảnh sát hoặc tiếp xúc với bọn tội pham và đọc nhiều báo cáo đã giúp ông học hỏi được tương đối nhiều để có được suy nghĩ riêng của mình khi đối diện với một cảnh phạm tội.

Brolin gật gật đầu xác nhận.

- Vẫn chính tên đó ra tay, anh nghiêm giọng thì thầm. Cách hành động khác nhau, nhưng dấu vết để lại giống nhau. Nhu cầu gây đau đớn, sự cần thiết phải làm tăng nỗi khiếp sợ, phải luôn làm nhiều hơn. Và cả gây bỏng trán nạn nhân bằng axit nữa, anh nói càng nhỏ hơn.

Anh thanh tra trẻ thở dài như bị nghiền nát bằng một trọng lượng quá lớn rồi tháo kính ra. Nhất định phải có một điểm chung cho tất cả. Tại sao kẻ sát nhân lại chặt tay của hai nạn nhân đầu tiên chứ không chặt tay của nạn nhân thứ ba? Còn axít trên trán thì sao?

Brolin day day hai thái dương và bắt tay vào quá trình tìm hiểu. Anh khéo léo kết hợp những gì nhận thấy và các báo cáo thực tế được chuyển tới tay anh.

Không một hành động nào của kẻ giết người hàng loạt là vô tình, khó khăn nhất là tìm xem hành động đó nằm ở vị trí nào trong ảo tưởng của hắn, anh thanh tra trẻ nghĩ. Có thể hắn chặt tay nạn nhân vì bái vật giáo, như một thứ chiến lợi phẩm, nhưng tại sao lại là bàn tay? Còn các nạn nhân, tại sao hắn lại chọn họ, một cách vô tình hay theo những tiêu chí cụ thể?

Nạn nhân đều là những cô gái được xếp vào hàng "nguy cơ thấp" vì họ có vóc dáng tương đối thể thao, vậy là có khả năng tự vệ, họ lại không quan hệ với người xấu, không lui tới những nơi đáng ngờ. Vậy thì hung thủ hẳn phải rất táo tợn khi bắt cóc họ. Hắn thích đương đầu với khó khăn, như một dạng thách thức. Trong mỗi vụ, lẽ ra phải có nhân chứng, nạn nhân phải tự vệ và báo động cho người qua đường. Thế nhưng hoàn toàn không, tất cả được thực hiện rất nhanh chóng.

Đây là một kẻ xảo quyệt, một sát thủ có tổ chức và bạo dâm.

Brolin không khó khăn gì tưởng tượng ra hắn đang chuyện trò với các con mồi, rồi làm họ khiếp sợ, sau đó cưỡng hiếp họ không vội vã. "Thậm chí đó có thể là một kẻ bảnh trai, có sức hấp dẫn như Tod Bundy trước đây", Brolin bắt đầu tưởng tượng. Nhưng khi máu sát nhân nổi lên, hắn trở thành một con quái vật khát khao thống trị bị nhu cầu quyền lực cuốn về phía sự kinh hoàng. Điều này diễn ra rất nhẹ nhàng, một ham muốn tình dục lôi kéo hắn. Rồi hắn thấy một cô gái trẻ trên phố hay trên ti vi, cô gái khiến hắn có cảm giác muốn bạo lực, làm nảy sinh hưng phấn trong hắn. Thế là hắn bắt đầu tìm kiếm. Có thể là hắn không tìm thấy gì khiến hắn say sưa cả, không thấy nạn nhân tiềm năng, vì thế hắn tiếp tục tìm kiếm trong vài ngày. Đôi khi, ham muốn tiêu tan đi và hắn lại quay về với cuộc sống thầm lặng hơn, nhưng cũng có khi ham muốn vẫn còn và càng tăng lên gấp bội lúc hắn nhìn thấy những cô gái không thể tiếp cận được. Đột nhiên, tâm trạng không thỏa mãn bị tác động mạnh và sự thù hận mà họ làm nảy sinh trong hắn lại dâng cao hơn bao giờ hết. Hắn sẽ bắt họ phải trả giá đắt. Tất cả những phụ nữ mà hắn thấy ở khắp nơi, trên đường phố, trong các tạp chí hay trên tivi, hắn không quan tâm, hắn không thể làm điều mà hắn muốn với họ. Vậy là hắn càng chờ đợi thì lòng hận thù càng tăng cao. Rồi cơ hội chợt đến, một phụ nữ mà hắn đã theo dõi khá lâu - trừ khi đó không phải là nơi mà hắn quan sát? - Xuất hiện trong hoàn cảnh thuận lợi. Tràn ngập hưng phấn, hắn sẽ chiếm được cô ấy và sau đó... Sau đó cô ấy sẽ thuộc về hắn. Hắn bắt cóc người phụ nữ ấy và đưa đi xa để tránh rắc rối, có thể hắn có một căn nhà tồi tàn để thực hiện các hành động tàn bạo của mình. Đầu tiên, hắn vờn nạn nhân đang khiếp sợ, hắn kìm nén các xung năng thù hận nổi lên. Hắn thích thú làm nạn nhân sợ và thỏa mãn với nỗi kinh hoàng mà hắn gây ra khi cưỡng hiếp nạn nhân, trong lúc đó hắn có thể cười hoặc đánh đập nạn nhân. Rồi dần dà những cơn sóng thù hận mà hắn dồn lại trào ra, hắn bước vào giai đoạn bạo lực cực độ. Những cú đánh đập dồn dập, đó là tất cả những dấu hiệu mà người ta thấy trên cơ thể các nạn nhân.

Cô gái chết.

Còn hắn thấy sung sướng.

- Thôi, tôi trở lại với công việc của mình đây, nếu không sẽ bị đại úy Chamberlin cho một trận, Salhindro nói rồi đứng dậy.

Đột ngột bị dứt khỏi dòng suy nghĩ, Brolin gật đầu vẻ lơ đễnh.

- Tôi sẽ báo tin cho anh.

Salhindro chỉnh lại chiếc thắt lưng nặng nề trước khi đi ra.

Còn lại một mình. Brolin ngắm những tòa nhà cao tầng ở trung tâm thành phố trong vài giây rồi mở báo cáo giám định pháp y.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 3

Juliette khó nhọc nuốt nước bọt, họng và đầu cô đau khủng khiếp. Cô dần dần tỉnh lại cách đây vài phút. Một cơn hoảng loạn ầm ĩ đã chiếm lấy cô. Lúc đầu cô run rẩy vì sợ, nước mắt dàn dụa. Rồi khi quen hơn với xung quanh tính cách cô buộc cô phải bình tĩnh lại. Cô không thể làm được gì; những sợi dây đau đớn trói quặt tay cô về sau lưng, trói cả cổ chân cô nữa. Ít nhất, kẻ tấn công cũng không muốn giết cô, nếu không hắn đã ra tay rồi. Tại sao hắn lại chờ đợi? Nhưng một giọng nói bên trong nhắc cô đừng quá ảo tưởng và nhanh chóng nghĩ đến chuyện khác. Nhưng nói dễ hơn làm. Nằm trên nền đất lạnh và ẩm, bất động vì dây trói và ở trong bóng tối đen, cô cảm thấy gần như phát điên.

Cô quay đầu đưa mắt quan sát nơi này thêm một lần nữa và kiểm tra xem có bỏ sót chi tiết nào không. Một tia sáng màu hổ phách chiếu những cái bóng đáng sợ lên các bức tường. Căn phòng rộng không quá một chiều ba mét, một chiều bốn mét. Sàn nhà bằng đất đôi chỗ mấp mô, như thể người ta cố thử đào nó bằng một đồ vật không mấy thích hợp với công việc ấy.

"Cứ như mình đào bằng chân"! Cô nghĩ. Ôi không! Mong sao không phải như thế.

Nhưng đã có hình ảnh của một nữ tù nhân khác hiện ra trong cô, cô thấy người ấy run lên vì sợ, cố gắng khoét một lỗ dưới bức tường gỗ bằng đôi bàn chân đạp liên hồi. Juliette lắc mạnh đầu để tống khứ ý nghĩ đó ra khỏi tâm trí và bỗng thấy choáng váng khi hơi clo nổi lên. Cô thở chậm để bình tâm lại và để làm dịu cơn đau.

"Tốt hơn hết là hãy tiếp tục quan sát, nào, hãy cố nhìn tất cả những gì có thể."

Các bức tường màu đen, làm từ thân cây xếp chồng lên nhau giống như một nhà nghỉ ở miền núi hay 1 túp lều. Căn phòng không có bất cứ đồ đạc nào, chỉ duy nhất một cây nến nhỏ đặt ở góc nhà tỏa chút ánh sáng yếu ớt.

Juliette rùng mình. Trời se lạnh cô không biết giờ là mấy giờ, mọi khái niệm về thời gian đều đã mất. Vẫn đang là đêm? Có lẽ thế, hoàn toàn không có ánh sáng lọt qua khe gỗ. Đột nhiên, một ý nghĩ còn đáng lo sợ hơn xâm chiếm cô. Cô cuộn tròn người lại để quan sát đầy đủ hơn về căn phòng và nỗi nghi ngờ của cô bỗng chuyển thành nỗi kinh hoàng khủng khiếp.

Không cửa sổ cũng không có bất cứ một lối ra vào nào. Căn phòng dường như bị đóng kín mít như một cỗ quan tài lớn.

Không hét to, nhất định không được hét to, Juliette tự nhủ nhiều lần trong thâm tâm, nhưng bản thân tiếng nói của ý chí lại gần giống như sự cuồng loạn do sợ hãi. Nếu kẻ tấn công không nhét giẻ vào miệng cô, thì đó là do hắn tin chắc không phải sợ gì về việc này. Chắc chắn cô đang ở một nơi hoàn toàn tách biệt, nếu không thì ngoài việc buộc cổ tay, lẽ ra cô còn phải bị bịt miệng bằng cách này hay cách khác. Cô cảm thấy hơi thở đứt quãng của mình vì lo sợ và cố chiến đấu để không chìm vào nỗi hoảng loạn. Cách đây vài giờ, cô bình thản ngồi chơi với Camelia, uống rượu vang và cười, vậy mà giờ đây cô bị nhốt chặt ở một nơi cách xa thế giới, hoàn toàn phụ thuộc vào một kẻ xa lạ. Trong cô trào lên cảm giác tuyệt vọng.

Không ai biết cô đang ở đâu, ngay cả bản thân cô. Không biết bằng cách nào cô lại ở đây, không có bất cứ cơ may nào để tự vệ. Cô lại thấy mình đang bước đi không hề lo nghĩ và một giây sau, bị ngạt thở rồi tỉnh dậy thành một tù nhân. Như thể cuộc đời cô đột nhiên chao đảo trong một cơn ác mộng. Không vì bất cứ lý do gì, cô bị lôi ra khỏi cuộc sống của mình và bị vứt vào chiếc quan tài này. Giờ đây, nỗi sợ hãi bị đan xen bởi cảm giác bất công sâu sắc. Không ai có thể tránh được, chuyện này có thể xảy ra với bất cứ ai, mọi người đi làm về và không thể biết được rằng đã gặp một kẻ bệnh hoạn trên đường, rồi chìm trong nỗi kinh hoàng.

Juliette cảm thấy nét mặt mình bị co rúm lại và nước mắt tuôn trào. Cô khóc rất lâu.

Rồi trong cơn điên dại bất ngờ, cô đứng bật dậy gào thét và ngồi dậy được. Khi cơn giận dữ và những tiếng nức nở dịu xuống, cô chăm chú quan sát quanh mình. Cách cô chừng 3 mét về bên phải có 1 hốc nhỏ ở ngay chỗ tiếp giáp giữa tường và nền đất. Cô nén cơn nức nở và bắt đầu trườn về cái hốc. Ánh nến không chiếu sáng tới phần này của căn phòng, nên cô phải nằm xuống và cúi đầu để nhìn kỹ hơn. Cái hốc to hơn quả bóng rổ 1 chút, ăn sâu xuống dưới tường giống như 1 lỗ mèo chui. Những rãnh song song trên nền đất khiến cô rùng mình. Cô xua vội hình ảnh một người phụ nữ cào đất trong cơn hoảng loạn đến nỗi bong cả móng tay.

Có lẽ cô có thể nhìn thấy bên ngoài bằng cách chui đầu qua bên kia? Ít ra cũng để biết được cô đang ở đâu, có gì xung quanh. Nhưng với đôi tay bị trói quặt sau lưng và 2 cổ chân bị buộc chặt, nếu có trườn, hay chỉ đơn giản nếu cô không có chỗ bấu víu để ngoi lên, thì cô sẽ bị kẹt đầu và 2 vai dưới bức tường trong cái hốc đang há miệng kia. Quả là đầy rủi ro.

Juliette trườn như 1 con sâu tiến vào bóng tối dưới bức tường. Cô uốn người để nằm ngửa và cố ngẩng đầu lên bên kia tường. Đầu cô chạm vào 1 viên đá.

Không có gì ở phía bên kia.

Cô chợt run lên vì nhận ra sự thật hiển nhiên cái ngục tối này không có cửa ra vào cũng không có cửa sổ, còn các bức tường bị chặn bằng nhiều tấn đá! Cô bị giam giữ dưới lòng đất, trong một thế giới không lối thoát, một vũ trụ chết chóc.

Nỗi khiếp sợ lại xâm chiếm cô.

Rồi một tiếng két vang lên trong phòng. Ở đâu đó bên trên, một cánh cửa sập vừa mới mở ra.

"Đúng rồi! Trên trần!" Juliette thầm kêu lên.

Trần nhà tối om, cô không thể phân biệt nổi bất cứ thứ gì. Ý nghĩ có thể có 1 lối thoát khiến cô thở phào, cô không hoàn toàn bị tách biệt với thế giới, còn có 1 điểm tiếp xúc, một khả năng chạy trốn. Nhưng niềm vui thật ngắn ngủi. Có tiếng vải sột soạt, hẳn là có 1 động tác chân hoặc tay ở đằng sau lưng cô, và nỗi khiếp sợ dâng lên ngay lập tức. Cô bị kẹt đầu trong 1 cái lỗ hẹp, không thể nhìn thấy gì diễn ra phía dưới vai mình, còn kẻ bắt cóc đứng ngay ở đó, bên cạnh cô, và có lẽ đang thỏa mãn nhìn cô cố uốn mình.

Như 1 tiếng chuông báo tử, giọng nói bất ngờ vọng xuống từ trần nhà, ngọt ngào nhưng đầy sự tàn bạo khủng khiếp.

- Đã đến lúc dành cho 2 chúng ta em yêu ạ.

Juliette vặn vẹo người để chui ra khỏi cái hốc, cơn hoảng loạn trào dâng trong cô cùng với nước mắt, và một tấm màn kinh hoàng đập vào mắt cô giống như 1 cơn bão hủy diệt.

***

Joshua Brolin bắt đầu uống trà để cai thuốc lá.

Lý do lắt léo hơn thế 1 chút nhưng đó là cách lý giải của anh khi bị cảnh báo là đang uống quá nhiều thứ nước nóng và thơm như vậy. Trong mùa hè - 2 tháng trước đây anh đã vứt bao thuốc Winston cuối cùng đi và thề sẽ không bao giờ hút lại nữa. Những ngày đầu tiên thật đau đớn, theo nghĩa đen của từ này, và Brolin tự hỏi liệu rốt cuộc cảm thấy cháy phổi vì cai thuốc có ít độc hại hơn hút thuốc không. Sau đó anh nhanh chóng nhận ra rằng với 1 người đã nghiện lâu năm, thứ nhớ nhất không phải là bản thân điếu thuốc lá, mà là động tác quen thuộc hàng ngày kẹp điếu nicotin giữa các ngón tay. Lại phải học thói quen thường ngày với 1 bàn tay tự do. 1 bàn tay tự do bất bình thường, nặng hàng tấn ở đầu cánh tay. Chỉ riêng việc nhớ tới cốc cà phê mà anh uống trong lúc cầm 1 điều thuốc trên tay, cứ rít 1 hơi thuốc lại làm 1 ngụm cà phê nóng bỏng, đã khiến anh phải chịu đựng cơn stress kinh khủng. Phải đợi tới khi trong 30 tuổi, Brolin mới phát hiện ra rằng anh chỉ chịu đựng được vì café với điều kiện ngập trong khói nicotin. Và để bỏ khỏi thuốc lá, anh thay cappuccino bằng trà. Phải thật thơm, cùng với hoa quả rừng nếu có thể được, mặc dù còn rất khó kiếm quả khô.

Anh uống 1 ngụm trà nóng rồi đặt cốc xuống trang bìa bằng các tông của tập báo cáo khám nghiệm tử thi.

Ánh mắt anh dừng lại trên 1 tấm ảnh chụp tử thi trước khi khám nghiệm. Khó mà tưởng tượng được rằng đây là 1 cô gái trẻ, vì cô đã bị biến dạng do khí sinh ra trong quá trình thối rữa và do rất nhiều tổng các vết thương vì bị ngâm lâu trong nước. Khuôn mặt sưng phồng, da ngả màu nâu và xanh lục, mí mắt phồng to như hạt dẻ texas, môi sưng và vều ra như thể đang định ban tặng nụ hôn cuối cùng. Rất nhiều sinh vật biển đã rỉa cái xác, tạo thành vô số vệt sưng đỏ trên da. Xác được vớt khỏi nước trước đó hơn 2 giờ nhưng không có chút nấm màu nâu nào xuất hiện trong lỗ mũi và miệng. Đó là dấu hiệu đặc trưng mà Brolin biết vì đã thấy trong các vụ án khác ở FBI. Trên thực tế, rêu là 1 hỗn hợp của không khí, nước và chất nhầy ở phế quản, được hình thành khi nạn nhân hít thở trong nước, điều này chứng tỏ rõ ràng rằng nạn nhân chết do bị dìm. Thế nhưng loại nấm đó lại không xuất hiện ở nạn nhân này.

Đỉa.

Lần này, nạn nhân không chết vì các vết thương. Không trực tiếp. Sát thủ đã thay đổi cách hành động.

Nhưng thứ thu hút sự chú ý của Brolin nhất là hình loang lổ mà axit tạo nên trên trán nạn nhân, axit hoặc 1 chất khác đã ăn mòn da mạnh như xút hay vôi.

"Quỷ thật sao hắn lại làm thế nhỉ?" chàng thanh tra trẻ tự hỏi. "Tại sao hắn lại đốt cháy trán các nạn nhân? Đây là 1 phần của nghi thức chăng? Có lẽ hắn chặt đôi bàn tay để lấy làm chiến lợi phẩm, để sau đó sung sướng ngắm nhìn chúng, thậm chí có thể sờ vào chúng, dùng chúng để vuốt ve cơ thể, dùng chúng như vật thay thế, vừa điều khiển người khác, vừa buộc người khác phải vuốt ve mình. Rất có thể như vậy, nhưng tại sao hắn lại không chặt tay của nạn nhân mới nhất? Cô gái này có gì khác so với 2 cô trước?"

Với nạn nhân mới nhất, hắn hành động bằng cách khác. Hắn không tra tấn cô đến chết, mà làm cho ngạt thở từ từ, điều này không hề được mong muốn hơn.

Brolin nhấc cốc lên để xem còn trà không. Cốc rỗng không "giống như đầu mình lúc này". Anh tự nhủ và đưa mắt tìm xem mình đã đặt ấm trà ở đâu.

Khoảng chục người được huy động tham gia cuộc điều tra, trong đó có các kỹ thuật viên của phòng thí nghiệm, chuyên gia pháp y khám nghiệm tử thi để tìm cách buộc từng chi tiết nhỏ nhất phải lên tiếng, và 4 thanh tra cảnh sát phụ trách việc thu thập tối đa thông tin về các nạn nhân. Nhưng họ không thấy bóng dáng của kẻ tình nghi. Brolin đã cho kiểm tra tất cả các bệnh viện tâm thần trong vùng, nhưng không ai trong số các bệnh nhân điều trị ở đó trong vòng 12 tháng gần đây có nét giống với hung thủ mà họ đang tìm. Dù sao đây cũng chỉ là biện pháp hão huyền nhằm làm cấp trên yên tâm chứ không phải để tìm ra 1 kẻ tình nghi nào đó.

Do thu được 1 lượng nhỏ tinh dịch trên cơ thể nạn nhân thứ nhất, các điều tra viên có được mẫu gien của hung thủ. Nhưng việc so sánh nó với dữ liệu gien lại không đem lại kết quả nào, hung thủ không nằm trong danh sách này.

Brolin nhìn thấy ấm trà trên 1 cái giá chất đầy hồ sơ. Anh đứng dậy rót trà và nhấp từng ngụm nhỏ.

Trong 2 năm ở FBI, anh đã học được cách dựng lại tâm lý kẻ giết người bằng cách phân tích các dữ liệu của vụ án. Nhưng khó khăn chủ yếu trong nghệ thuật này là khi cái xác được tìm thấy sau 1 thời gian dài ngâm trong nước. Người ta không thể rút ra bất cứ kết luận nào từ tình trạng của xác, và nhất là không thể khám nghiệm hiện trường mà hung thủ đã xóa đi trước khi vứt xác. Xác trôi trên sông có thể được tìm thấy cách nơi bị vứt xuống nước vài cây số. Và thời gian ngâm trong nước đã xóa đi hầu như mọi dấu vết, mọi vết tinh dịch, máu, tóc của tên tội phạm. Nhưng ít ra cách làm này cũng cho thấy 1 mức độ xảo quyệt nhất định, hung thủ biết rằng hắn có thể bị bắt vì 1 chi tiết nhỏ nhất. Hắn hành động có tổ chức và có suy nghĩ.

Brolin lại gần chiếc bảng đen đầy những ghi chép của anh về kẻ giết người. Anh tổng hợp nhanh tất cả các điểm quan trọng mà anh đã ghi về vụ án giết 3 người này.

Anh đọc to tóm tắt những gì anh biết.

- Hung thủ là một người da trắng, một kẻ giết người hàng loạt chuyên tấn công những người cùng màu da với hắn, hầu như không có ngoại lệ. Tính chất tàn bạo cho thấy 1 ảo ảnh được hình thành trong thời gian dài và được làm chủ tương đối tốt, hung thủ có thể gặp rủi ro nhưng không bị lộ mặt. Hơn nữa, hắn đủ khả năng khống chế nạn nhân và làm chủ bản thân để đi đến cưỡng hiếp. Tồi tệ hơn, nhiều vết tụ máu và thương tổn tự vệ ở phần trên cánh tay nạn nhân là những bằng chứng về sự hung bạo của hắn, và có lẽ tôi nghiêng về phía các hành vi tra tấn trong khi cưỡng hiếp, có vẻ như rất đúng với tính cách hung thủ. Như vậy, hắn ở vào độ tuổi khá chín để chế ngự được các xung năng của mình tới 1 mức độ nào đó. Nhưng bạo lực mà hắn sử dụng là đặc trưng của một cơn điên dại, một mối hận thù chất chứa trong hắn suốt nhiều năm. Thế nhưng lại chưa từng có trường hợp nào như vậy trong kho dữ liệu tin học.

Từ khi được giao phụ trách cuộc điều tra, Brolin đã chuyển dữ liệu về 2 vụ giết người cho chương trình VICAP (là chương trình giúp điều tra các vụ trọng án do FBI lập ra). Chương trình này có nhiệm vụ thu thập tất cả các yếu tố của các vụ trọng án trên lãnh thổ Mỹ và cung cấp cho cảnh sát trên cả nước 1 cơ sở dữ liệu cho phép kiểm chứng thông tin. Bằng cách này nếu 1 kẻ giết người đã phạm tội ở Illinois 2 năm trước đây và chặt tay các nạn nhân, thì chương trình VICAP sẽ cho phép Brolin ngay lập tức biết được thông tin và lần theo đường đi của kẻ giết người hàng loạt từ bang này sang bang khác. Nhưng trong chương trình không hề có dữ liệu liên quan đến 1 "kẻ chặt tay" nào đó.

Brolin khoanh vùng độ tuổi mà anh đã viết trên bảng 23-28 tuổi.

"Nhiều khả năng là 23, 25. Hắn có thời gian đủ dài để lặp đi lặp lại các vụ án trong đầu, nhưng có lẽ không thể tự kìm nén được trong nhiều năm. Hắn to khỏe, vì hắn khống chế được những phụ nữ tương đối thể thao. Đây là những nạn nhân ít nguy cơ tính cách, nghề nghiệp và bạn bè của họ không thuộc diện gây nguy hiểm, ngược lại với 1 gái điếm chẳng hạn. Và vẫn theo những gì người ta biết, họ bị bắt cóc ở những nơi cũng có nguy cơ thấp, người thì trên 1 con phố khá đông đúc trong khu tư sản, người thì trong bãi đỗ xe của 1 hộp đêm thời thượng và đông khách lui tới. Thế nhưng lại không có nhân chứng. Hung thủ chấp nhận rủi ro, hắn đùa cợt. Dường như hắn rất tự tin và bản thân có tổ chức, hẳn là hắn đã lên kế hoạch bắt cóc khá lâu trước đó. Trong cơn stress cao độ, nhưng lại tự tin tới mức nghĩ rằng mình không thể bị tóm. Dần dà, hắn sẽ gặp nhiều rủi ro hơn và sẽ phạm ra nhiều sai lầm. Nhưng hắn sẽ phạm sau bao nhiêu nạn nhân? Nạn nhân nguy cơ thấp trong một môi trường nguy cơ thấp, điều này cũng chứng tỏ rõ về một độ chín nào đó. Hắn không hành động theo sự thôi thúc của bản năng, hắn phải bị hoàn cảnh kích động rất nhiều, và luôn giữ được máu lạnh. Tiến đến gần nạn nhân là việc làm quan trọng với hắn, giai đoạn tán tỉnh khiến hắn thỏa mãn cao độ. Hắn phải nói chuyện với cô gái, tán tỉnh cô, có thể khi đó hắn đã tưởng tượng ra điều mình sẽ làm với cô. Chính lúc ấy, hắn bắt đầu tìm cách chiếm đoạt cô gái".

Viên thanh tra viết "25 tuổi hoặc _" lên tấm bảng veleda.

Tất cả những yếu tố này đã vạch ra các hướng điều tra, và theo lời khuyên của Brolin, cảnh sát đã tập trung phần lớn thời gian vào việc thẩm phấn các nhân viên của hộp đêm, cũng như các khách quen. Nhưng không thu được kết quả gì.

Đằng xa, trong 1 căn phòng khác, một người nổi cáu vì bị buộc tội và hét to rằng anh ta vô tội. Brolin uống hết cốc trà và trở lại bàn làm việc.

"Kẻ bất lương đó rất thích tán tỉnh các nạn nhân hoặc ít nhất là trò chuyện với họ, tôi dám chắc như thế. Thêm nữa hắn không giết người theo 1 chu kỳ chính xác, khoảng cách giữa 2 vụ đầu tiên là năm tuần, rồi 2 tuần sau hắn tiếp tục gây án lần thứ 3. Hắn rút ngắn thời gian giữa 2 vụ án."

Nghĩ đến đây, Brolin cảm thấy vô cùng khó chịu anh biết rằng điều này không có ý nghĩa gì cả, bọn giết người hàng loạt có thể gây nhiều vụ án trong khoảng thời gian ngắn và sau đó bước vào giai đoạn "nghỉ ngơi". Nhưng cũng có những kẻ lại giết người ngày càng thường xuyên hơn, do khao khát vô độ của chúng chỉ có thể dừng lại khi bị bắt hoặc chết. Điều mà anh hy vọng lúc này là tận dụng được tối đa thời gian để khai thác những chi tiết nhỏ nhặt nhất và tóm được kẻ bệnh hoạn đó trước khi hắn phạm thêm 1 tội ác mới không thể cứu vãn.

Lại còn thủ đoạn luôn luôn vứt xác xuống nước nữa…

"Tên sát nhân này biết là hắn bị vây đuổi, hắn biết rõ điều đó, và hắn không muốn bị bắt, bởi vì hắn muốn tiếp tục gây án thêm lần nữa, hắn sẽ lại tiếp tục, vì hắn có nhu cầu đó."

Brolin lắc đầu chầm chậm vì nỗi tức giận âm ỉ. Anh đang xem các bức ảnh về nạn nhân mới nhất thì chuông điện thoại reo.

- Thanh tra Brolin nghe đây, anh nhấc máy nói.

- Joshua, tôi là Carl Dimestro. Có tin mới liên quan đến các khám nghiệm giải phẫu bệnh học.

Carl Dimestro làm việc ở phòng thí nghiệm của cảnh sát khoa học trong 1 tòa nhà lớn. Anh tạm thời phụ trách ban sinh học với sự cộng tác của đội ngũ bác sĩ pháp y.

- Đã xác định được danh tính nạn nhân phải không? Brolin vội hỏi.

- Không mọi người đang nghiên cứu hồ sơ về răng của nạn nhân. Nhưng chúng tôi có 1 thứ cho cậu, tôi đã tìm thấy tảo trong các mô.

- Thấy gì? Brolin vừa hỏi vừa cố nhớ lại những bài giảng về tội phạm học ở Quantico.

- Thấy tảo. Một loại tảo chứa silic chỉ thấy được qua kính hiển vị, loại tảo này sống ở tất cả các nơi có nước, dù là nước ngọt hay nước mặn. Nạn nhân có nước trong phổi, nhưng điều này không nói lên gì cả, tuy nhiên kết quả khám nghiệm bằng kính hiển vi cho thấy có tảo ở ngay trong các mô của phổi, gan và tim. Tức là nạn nhân đã hít nước vào trước khi chết. Ngoài nguyên nhân ngạt, còn có thêm chẩn đoán bị dìm chết, đúng là cô gái chết vì lũ đỉa, nhưng hung thủ đã đẩy nhanh hành động vào lúc cuối bằng cách dìm đầu cô gái vào nước. Dù sao cũng có 1 điều chắc chắn đó không phải là nước từ vòi mà là nước ở 1 nguồn nước tự nhiên, có cả hệ động thực vật.

Brolin chờ đợi 1 phát hiện quan trọng, 1 cái gì đó có sức thuyết phục để ít ra cũng có thể mở cho 1 hướng điều tra. Nhưng bằng chứng này chỉ khẳng định việc nạn nhân bị tra tấn trước khi chết, một hành động man rợ đặc trưng của đao phủ Portland. Hơi thất vọng, anh chỉ ngồi yên lặng.

- Nhưng chưa hết, bác sĩ Dimestro nói tiếp, loại tảo đó có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin rất thú vị khác.

Brolin không đánh giá cao Carl Dimesstro vì anh chàng bác sĩ này thường thích thú với những chi tiết dù là nhỏ nhất thấy được qua kính hiển vi, ngay cả khi chi tiết đó không hề khiến cuộc điều tra tiến triển.

- Phải lưu ý rằng mỗi loại tảo có 1 cấu trúc riêng và hoàn toàn khác biệt tùy theo địa điểm nơi thu được chúng.

- Đợi một chút, Brolin cắt ngang, có nghĩa là anh có thể biết liệu nước nơi người ta vớt được xác nạn nhân có phải chính là nước mà nạn nhân đã hít vào không?

- Đúng thế bằng cách phân tích tảo. Mà trong trường hợp này tảo quan sát được trong các mô không giống với loại tảo thu được khi khám nghiệm tử thi. Tôi có thể đảm bảo với cậu rằng nạn nhân không bị dìm chết ở gần nơi người ta tìm thấy cái xác. Hơn nữa, tôi có thể khẳng định đến 70% rằng không phải trong nước sông Tuilatin, vì loại tảo trong mô có cấu trúc khác xa với tảo sống ở sông này. Carl Dimestro nói bằng giọng căng thẳng, lộ rõ vẻ mệt mỏi.

- Có nghĩa là nếu lấy 1 ít nước trong phần lớn sông hồ quanh sông Tualatin, rồi đem so sánh, anh có thể tìm được địa điểm chính xác nơi cô gái bị dìm chết phải không?

Không chút do dự, anh chàng bác sĩ khẳng định ngay. Giọng nói của anh đã thay đổi, trở nên trầm hơn.

- Tôi cùng với trợ lý Peter đã tới phía nam Portland để lấy tối đa các mẫu nước của các hồ ao và sông cách sông Tualatin dưới 30km. Cuối cùng thì việc so sánh các mẫu tảo đã cho kết quả. Tôi đã tìm thấy loại nước mà nạn nhân hít vào. Đó là nước của 1 cái ao rất nhỏ ở phía đông nam Stafford.

Brolin không nói được gì. Đầu tiên anh thất vọng nhưng giờ đây anh bị bất ngờ. Công việc cần cù của 2 nhân viên phòng thí nghiệm trong khoảng thời gian ngắn lại rất quan trọng.

- Nhưng…chắc chắn chứ? Anh ấp úng.

- Đáng tin đến 95%.

- Tuyệt vời, Carl ạ, cậu làm việc tốt lắm, thật đấy, giờ thì cố nghỉ ngơi 1 chút đi, các cậu rất xứng đáng.

- Quả là tôi không hề ngủ suốt đêm qua. Chúng tôi đã đi lấy mẫu cả ngày hôm qua đến tận tối, rồi phân tích tất cả cho đến tận chiều nay. Chúng tôi rất may mắn khi tới đúng cái ao ấy. Đó là một nơi hẻo lánh giữa rừng, một chấm nhỏ trên bản đồ của vùng. Tôi sẽ chuẩn bị cho cậu 1 hồ sơ đầy đủ cùng với các kết luận của tôi.

- Hãy ngủ lấy vài giờ đi đã, hồ sơ có thể đợi đến mai. Nhưng cho tôi tên cái ao đi, tôi muốn đến nhìn qua 1 lượt.

Brolin đặt máy xuống sau khi chúc mừng Carl Dimestro thêm 1 lần nữa vì công việc mà anh đã hoàn thành. Anh suy nghĩ rất nhanh, hết hợp năng lực về tội phạm học của mình với những gì anh biết về vụ án đang điều tra.

Cái xác đã được chuyển từ 1 nơi tới 1 nơi khác đó chính là lý do vì sao không có nấm rêu trên môi, nước sông đã làm trôi chúng.

Không phải ngẫu nhiên mà hung thủ di chuyển xác nạn nhân. 1 kẻ sát nhân không thể làm điều đó mà không có lý do xác đáng. Nếu như hắn đã dìm chết cô gái trong 1 cái ao nơi không người qua lại, tại sao hắn lại chấp nhận rủi ro, chuyển xác qua chặng đường nhiều km để vứt xuống 1 con sông khác, tức là mạo hiểm hơn nhiều? Tại sao không để xác lại ở chính cái ao đó, ở giữa rừng nơi sẽ rất lâu sau mới có thể có người phát hiện ra?

Bởi vì có mối liên hệ cái ao với hung thủ! Bởi vì người ta có thể gắn kết cái ao với hung thủ.

Đó là một hướng không nên bỏ qua.

Joshua Brolin đứng dậy, cầm lấy áo vest và bấm 4 số của tổng đài. Phòng điều tra tội phạm. 1 phụ nữ nhấc máy trả lời.

- Cathy, thanh tra Brolin đây. Hãy báo cho cảnh sát trưởng quận Clackamas rằng tôi sẽ tới gặp họ, hãy đề nghị họ cho 1 chiếc xe đón tôi ở lối vào Staffford. Cảm ơn Cathy.

Anh vừa tìm ra một hướng. Một hướng dẫn anh tới hiện trường, đó chính là điều anh thiếu khi ở FBI. Có lẽ một ngày nào đó anh sẽ nhìn nhận thất bại ở Vụ như điều tốt nhất đã xảy đến với anh.

Cuộc điều tra đang tiến triển, và Brolin ngập tràn háo hức khi bước ra khỏi phòng làm việc. Cảm giác đang đi đúng hướng, sẽ có điều gì đó xảy ra, khiến anh thêm hào hứng. Anh không hề nghi ngờ về những sự kiện sẽ diễn ra. Một nỗi kinh hoàng đang từ từ nảy sinh.

***

Hoảng hốt, Juliette ngọ nguậy điên cuồng, uốn cong người rồi trườn kiểu giật giật để rút mình càng nhanh càng tốt ra khỏi cái hốc nơi cô đang bị kẹt. Ai đó đi lại phía sau lưng cô.

Trong vài giây, cô lấy lại tư thế nằm, đầu đã ra khỏi cái hốc tối tăm. Cô xoay người lại ngay lập tức và nhận ra một cái bóng lớn bao trùm lên cô và đang quan sát cô. Ánh sáng yếu ớt khiến cô không thể nhìn rõ những đường nét chính xác của người đó, nhưng cô cảm thấy ánh mắt của hắn trên người mình.

- Thường thì tôi không bao giờ chọn họ như thế này, một giọng nói chậm và mạnh mẽ vang lên.

Juliette không động đậy vì sợ hãi, cô thậm chí không nghĩ đến chuyện chạy trốn.

- Nhưng cô bạn mới nhất mà tôi có ở đây không trong trắng.

Hắn nhấn mạnh từ "cô bạn" như thể từ này vô cùng quan trọng.

- Ồ, đó là lỗi của tôi, tôi biết rồi. Lẽ ra tôi không được vơ gái ở bất kỳ đâu. Đi tán tỉnh ở bến xe của hộp đêm thì đừng mong gặp được một đứa con gái ngoan. Chắc chắn rồi.

Lần đầu tiên kể từ khi hắn ở trong căn phòng với cô, Juliette dám rời mắt khỏi hắn để nhìn vật dài dài phía sau hắn. Một cái thang. Một cái thang thả xuống từ miệng cửa trên trần, cách nền phải đến 2 mét.

- Với em, tôi chỉ biết là không giống như thế. Bọn mình biết nhau rồi mà, tôi nghĩ em là 1 cô gái ngoan.

Juliette cảm thấy nghẹn trong họng, nhưng cô vẫn cố nói. Cô phải tranh thủ thời gian, tên này điên thật rồi, cô tin chắc rằng không nên để hắn nói 1 mình. Cô nói chậm, phát âm khó khăn bằng giọng khản đặc:

- Anh…muốn… gì?

Cái bóng đứng thẳng dậy 1 cách nhẹ nhàng nhưng rất nhanh nhẹn, như thể hắn bị bất ngờ vì sinh vật trước mặt hắn lại nói được.

- Cô em biết rồi đấy, hắn đáp sau vài giây, như tôi đã nói với em trên internet, tôi rất muốn khám phá em.

Juliette giật mình. Đầu óc cô rối tinh với hàng chục ý nghĩ, hình ảnh và nhiều thứ lẫn lộn. Rồi 1 cái tên hiện lên trong cô.

Oberon.

- Em không phải lúc nào cũng tử tế với tôi, hắn nói bằng giọng ra vẻ trịch thượng, nhưng chúng ta sắp sửa được lỗi đó.

Hắn nhẹ nhàng tiến lại gần. Juliette co quắp người ép sát vào tường.

- Không, không, không, hắn nói và lắc lắc đầu vẻ trịnh trọng. Phải ngoan ngoãn thì tôi mới tử tế được. Nếu không tôi sẽ phải trừng phạt em.

Giọng nói của hắn chính là giọng nói của gã đàn ông muốn chở cô về nhà khi cô ra khỏi nhà Camelia. Nhưng khi đó, hắn muốn tán tỉnh, còn bây giờ, giọng hắn nửa đe dọa, nửa điên khùng. Rõ ràng đây chỉ là 1 người. Cũng dáng người thể thao đó và giọng nói tương tự.

Hắn cúi xuống và nắm lấy 2 vai cô. Juliette cảm thấy mùi nước hoa dùng sau khi cạo râu xộc vào mũi.

- Cứ để yên, tôi sẽ không hại gì em.

Trong khoảnh khắc, hắn nhấc cô lên và kéo về phía thang. Juliette định giẫy giụa nhưng có điều gì đó trong giọng nói của hắn khiến cô không làm thế.

Lời dọa trừng phạt nếu không nghe lời hiện rõ trong giọng nói của hắn. Hắn không đùa, con người trước mặt cô không giống 1 kẻ bắt cóc để tống tiền.

Đây là 1 chuyện khác, nghiêm trọng hơn, 1 mưu đồ làm hại. Juliette cố không để mình chìm trong những suy nghĩ đáng sợ, cô nhất thiết phải tìm ra điều gì đó để nói hoặc làm, 1 lần nữa cô lại cảm thấy mình cần tranh thủ thời gian.

Người đàn ông đặt cô ở chân chiếc thang.

- Không được động đậy.

Hắn trèo lên rồi thả 1 cái móc ở đầu chiếc ròng rọc xuống. Một cái móc bằng kim loại sáng loáng dưới ánh nến.

- Anh định làm gì với tôi? Juliette hỏi nhỏ, không giấu nổi nỗi sợ hãi làm nghẹn giọng.

Hắn không trả lời mà tiếp tục điều khiển sợi dây. Rồi hắn trèo xuống dùng cái móc móc chặt vào sợi dây trói Juliette. Tất cả các thứ đồ đều được tra dầu mỡ đầy đủ, được chỉnh 1 cách hoàn hảo, Juliette cảm giác như đang ở trong 1 nhà máy. Cứ như đây là buổi diễn tập 1 màn kịch đã diễn hàng nghìn lần. Những động tác thành thạo của kẻ tra tấn, căn phòng dưới mặt đất được sắp xếp cẩn thận, bộ ròng rọc và cái móc chuyên dụng.

Như thể hắn làm hàng loạt chuyện này, Juliette tự nhủ và 1 làn sóng kinh hoàng dâng lên trong cô. Cô thở dồn dập. Trong lúc hắn hoàn thành việc mắc cái móc vào sau lưng cô, Juliette cảm thấy hơi thở nóng hổi của hắn trên cổ cô khi hắn đáp:

- Tôi sẽ cho em thấy tôi yêu em biết bao nhiêu…

Mọi thứ bỗng nhiên biến thành cơn ác mộng khó tin. Cô biết mình sẽ không thể sống sót để ra khỏi nơi này.

Căn hầm khủng khiếp này không khác gì 1 lò mổ.

***

Đích thân cảnh sát trưởng quận Clackamas cùng 1 cấp phó của ông tới nơi hẹn. Joshua Brolin trình bày mục đích chuyến đi không mang tính công vụ của mình và họ cùng đi về phía đông nam, đến khu rừng Stafford. Ở đó, họ rời đường chính và rẽ vào 1 con đường quanh co mà chiếc Mustang cũ kỹ của Brolin phải vất vả lắm mới đi hết được để tới cái ao nhỏ giữa rừng. Cái ao không sâu, dài khoảng 100m, xung quanh toàn cỏ và bụi lau sậy xòe rộng.

Trên đường đi, Brolin bị bất ngờ vì khung cảnh vắng vẻ và tách biệt của nơi này. Lý tưởng để gây án mà không thể bị trừng phạt, anh nghĩ.

Thế thì sao lại mang xác đến tận sông Tualatin?!!

Thật vô lý. Mọi hành động của hung thủ đều chứng tỏ khả năng làm chủ tình thế và 1 trí thông minh nào đó, vậy tại sao lại chấp nhận nguy cơ bị bắt quả tang với cái xác trong khi hắn chỉ việc vứt xác ở lại đây?

- Ở đây có nhiều người qua lại không? Brolin hỏi ông cảnh sát trưởng đang quan sát nhanh khu rừng.

- Ồ không, có lẽ chỉ vài người câu cá không am hiểu vì cái ao này không nhiều cá. Ngoài ra không có ai. Trừ vài thanh niên thỉnh thoảng tới đây chơi buổi tối, thế thôi. Dân vùng này thích dạo ở Washington Park hơn.

Brolin đồng tình. Lẽ ra cái ao là nơi hoàn hảo để vứt xác lại. Không giống với nhận dạng tâm lý. "Nhất định phải có câu giải thích, Brolin tự nhủ, 1 yếu tố giải thích tại sao hung thủ lại chấp nhận rủi ro để mang xác đi nơi khác".

- Anh đã nói rằng Đao phủ Portland có liên quan đến vụ giết người mới xảy ra gần đây, cảnh sát trưởng nói. Anh nghĩ hắn ta đã tới đây sao?

- Gần giống như thế, viên thanh tra lẩm bẩm.

Không hài lòng với câu trả lời, cảnh sát trưởng đi quan sát mặt nước như thể ông đang đợi 1 con tàu sắp tới. Cấp phó của ông vẫn đứng yên, chưa nói 1 lời nào kể từ khi tới nơi.

Brolin rời cái ao để đi quanh sát nhanh 1 vòng quanh bìa rừng. Thỉnh thoảng, anh liếc nhìn vào trong rừng và cuối cùng phát hiện ra 1 lối mòn rất khó đi. Cảnh sát trưởng đang đứng bên kia, cách khoảng 100m. Brolin gọi to:

- Có 1 con đường ở chỗ này! Ông có biết không?

Cảnh sát trưởng ra hiệu không nghe rõ và đi về phía anh không vội vã. Vì ông ấy còn tương đối trẻ và khỏe, nên Brolin cho rằng ông ấy cố tình không nghe thấy, nhưng anh thấy không thể bỏ qua câu hỏi này. Khi cảnh sát trưởng tới gần, anh lại đặt câu hỏi 1 lần nữa.

- Ồ chỉ là 1 con đường mòn, có lẽ dành cho thợ săn.

- Ở đây được phép săn bắn ư?

- Đúng hơn là được chấp nhận. Không có người trông coi khu săn bắn, anh hiểu không. Tôi còn việc quan trọng khác để làm hơn là theo dõi những khu rừng thế này!

- Có ai sống quanh đây không? Brolin hỏi.

- Không, đây là nơi hẻo lánh, theo tôi nghĩ thì không ai có ý định sống ở 1 nơi như thế này. Vắng vẻ quá, cảnh sát trưởng khẳng định và sửa lại chiếc mũ trên đầu cho ngay ngắn.

Brolin xem xét bìa rừng, đưa mắt nhìn theo 1 đoạn đường mòn. Rừng quá rậm rạp, với nhiều loại cây khác nhau. Cây cối mọc xen lẫn với những khoảnh dương xỉ, những bức tường dây leo có gai và vô số thân cây đã biến dạng trong quá trình phân hủy chậm.

Có tiếng chim săn mồi vang lên chói tai phía trên tán lá cây. Hai người ngẩng đầu cùng 1 lúc.

Nhìn thấy bóng 1 con chim cắt bay lượn trên đầu, cảnh sát trưởng đưa tay xoa cằm nói:

- Bây giờ tôi mới nghĩ ra, đúng là có 1 người sống trong rừng, cách đây không xa.

Brolin quay lại.

- Gặp được người đó thì tốt quá, tôi muốn đặt vài câu hỏi với anh ta, Brolin nói. Anh ta tên là gì?

- Leland. Leland Beaumont. Tôi không nghĩ ra vì đó là 1 chàng trai rất kín đáo. Chỉ khi nhìn thấy con chim cắt, tôi mới nhớ ra. Anh chàng này rất mê chim cắt. Nói chung là thích tất cả các loại chim săn mồi, hình như anh ta đang thuần dưỡng 1 con, anh ta dùng còi, loại còi… giống tiếng chim để nhử chúng tới.

- Ống sáo, phó cảnh sát trưởng chữa lại, ông ta tới chỗ 2 người mà không ai nhận ra. Để thuần dưỡng chim săn mồi, người ta dùng 1 cái còi gọi là ống sáo.

- Tôi thấy ông có vẻ biết nhiều về chủ đề này. Ông có biết Leland Beaumont không? Brolin hỏi.

- Không biết gì hơn. Tôi nhiều lần nhìn thấy anh ta trên các cánh đồng quanh đây với lũ chim săn mồi của anh ta, chính tôi đã đuổi anh ta ra khỏi đó khi nông dân phàn nàn về chuyện này.

- Cái tay Leland ấy, hắn làm nghề gì? Brolin hỏi.

- Đủ thứ việc linh tinh. Nhưng niềm đam mê của anh ta là thuần dưỡng chim săn mồi và điêu khắc.

Kinh ngạc, Brolin hỏi tiếp:

- Điêu khắc ư? Cụ thể anh ta tạc cái gì?

Phó cảnh sát trưởng nhún vai.

- Tôi không rõ, dường như không rõ ràng, tôi nghĩ là anh ta đam mê các bàn tay.

Brolin sững người. Cảnh sát trưởng và cấp phó của ông ta nhìn chằm chằm vào mặt anh cứ như họ đang đối diện với 1 sự hiện hình nào đó.

- Thế nào, có sao không thanh tra? Cảnh sát trưởng hỏi.

- Hãy đưa tôi đến chỗ Leland Beaumont, gọi thêm 1 xe ô tô nữa. Tôi nghĩ là chúng ta đã nắm được điều gì đó.

Con chim cắt kêu 1 tiếng chói tai rất dài trên ngọn cây rồi biến mất trong khoảnh khắc.

***

Cái ròng rọc rít lên lần cuối cùng và 1 cánh tay lực lưỡng nắm lấy thắt lưng quần jean của Juliette. Cô run lên. Hắn định tháo cái móc khỏi dây trói nhưng lại thôi. Hắn cảm nhận được làn da run rẩy qua lần áo sơmi. Hắn chầm chậm đưa tay đặt nhẹ lên hông Juliette. Cô rùng mình và không thể kìm được tiếng rên rỉ vì bất ngờ. Da cô vẫn run lên. Hắn vẫn chầm chậm đưa tay lên dọc theo sống lưng cô và dừng lại ở giữa 2 bả vai. Hắn nghe thấy tiếng cô gái nuốt khó nhọc. Cô tên là Ishtar. Cô đã nói với hắn như thế. Tất cả cuộc trò chuyện giữa họ trên internet chỉ là khúc dạo đầu cho khoảnh khắc này, cho cuộc gặp mặt. Giờ đây, họ sẽ thực sự khám phá nhau. Cả 2 người. Ở trong nhau. Nghĩ đến đây, hắn cảm thấy lượng adrenalin tăng mạnh và bộ phận sinh dục của hắn bắt đầu cứng lại. Những cơn run rẩy đã giảm, nhưng vẫn cảm nhận được.

- Em sợ à? Hắn bình thản hỏi cô.

Cô im lặng vài giây rồi đáp lại.

- Vâng…Tôi có làm gì anh đâu… cô thì thầm.

Một nụ cười hiện ra trên khuôn mặt hắn.

- Có đấy. Giọng hắn nhẹ nhàng, rất điềm tĩnh.

Nhưng Juliette không lầm tưởng. Hắn có khả năng làm điều xấu nhất, giọng của hắn không tự nhiên, hắn đang diễn trò.

- Em đã quyến rũ tôi, hắn phản bác lại. Bằng tất cả những từ, những câu hiện trên màn hình vi tính của tôi. Chính em đã bảo tôi tới mang em đi. Tôi là hoàng tử của em.

Lần này, mọi nghi ngờ đã sáng tỏ, "gã này điên thật rồi, Luliette tự nhủ, 1 kẻ bệnh hoạn."

Hắn rút tay ra khỏi lưng cô và Juliette nằm dài trên nền căn phòng. Đó là 1 gian nhà tối tăm, với những chiếc bàn thợ đầy dụng cụ. Một chiếc xe bán tải đỗ cách đó vài mét. Ánh sáng phát ra từ 2 chiếc đèn gara treo trên 1 thanh xà bằng kim loại và soi rõ những vật trang trí lạ lùng treo đầy trong xưởng. Những bàn tay. Phải đến 30 bàn tay, có lẽ được đúc bằng khuôn, mặc dù vài mẫu quá thô so với sản phẩm đúc khuôn. Dường như tất cả các bàn tay đó đều được làm bằng đất sét, theo mọi tư thế khác nhau.

- Em biết đấy, tôi đã chuẩn bị cho chúng ta 1 bữa tối thực sự. Cả 1 chút rượu vang.

Juliette quay đầu lại để nhìn rõ hơn kẻ bắt cóc mình.

Đúng là hắn, kẻ đã đề nghị giúp đỡ cô. Chỉ khác là giờ đây cô không thấy hắn có vẻ gì lôi cuốn nữa. Hắn không đội mũ, tóc tai dựng đứng trên đầu thành nhiều túm cháy đen. Hắn cũng không cạo râu và chỉ mặc bộ áo liền quần của thợ cơ khí với một khóa kéo dài đằng trước.

Trước ánh mắt Juliette nhìn mình, hắn giải thích bằng giọng nhỏ nhẹ:

- Đúng, tôi biết, trông tôi không dễ coi, nhưng tôi sẽ sắp xếp tất cả cho tối nay. Về quần áo, tôi rất tiếc nhưng thế này tiện nhất cho… cho… rồi em sẽ thấy…

Hắn cười rất tươi và Juliette thấy máu mình đông lại vì sợ. Còn tồi tệ hơn nữa khi cô thấy hắn tự vuốt ve phần giữa hai đùi qua lớp áo liền quần. Ánh mắt hắn lạnh lùng và tàn bạo. Lúc này đây, Juliette biết rằng hắn đang đùa cợt với cô. Hắn thích thú với việc làm cô phải căng thẳng thần kinh dần dần, nói chuyện với cô bằng giọng nhỏ nhẹ. Hắn chơi trò mèo vờn chuột với cô.

- Những gì người ta có thể làm trên mạng internet hiện nay thật điên rồ. Chỉ cần vài cuốn sách là có thể tìm ra tất cả, ngay cả tên thật của 1 nữ thần, hắn nói và để lộ hàm răng đều tăm tắp, gần như quá vuông.

Hắn cúi đầu rồi nhìn chòng chọc vào mắt cô gái.

- Nhưng trước tiên, hãy để lại cho tôi 1 kỷ vật, hắn vừa nói vừa kéo cô vào giữa căn phòng.

Hắn lấy sợi dây xích 1 đầu gắn chặt vào nền nhà và bắt đầu quấn xích quanh chân tay cô gái. Để làm được điều này, hắn cởi dây trói và Juliette lập tức nuôi ý định giãy giụa và chạy trốn. Nhưng hai cánh tay đau ê ẩm khiến cô hết sức loạng choạng. Mặc dù vậy, cô cũng rút được chân ra khỏi xích và bằng 1 động tác rất nhanh của xương chậu, cô cố thử đứng dậy. Một cú đấm mạnh vào hông khiến cô thét lên và ngã xuống nền xi măng lạnh giá. Vài giây sau, cô nằm xấp, lại bị xích 1 lần nữa, và lần này thì bị xích vào nền nhà, chân và tay dang ra.

- Giờ thì tôi để ý hơn đến những cô gái mà tôi đi chơi cùng, hắn nói làm như họ là những người bạn thân thiết đang chuyện trò bình thản. Em có tưởng tượng nổi không, con bé gần đây nhất là gái điếm, 1 con điếm không chuyên.

Dường như hắn lưỡng lự trước khi kể tiếp chuyện.

- Cô ta nói với tôi rằng cô ta có thể… mút… cho tôi với giá rẻ. Em thấy thế là bình thường không?

Nằm trên nền nhà lạnh giá, Juliette cố dõi theo kẻ tra tấn. Nhưng hắn đã biến mất khỏi tầm nhìn của cô. Hắn vẫn ở trong phòng, cô cảm nhận được hơi thở đều đặn của hắn ở không xa và nghe thấy tiếng một vật bằng kim loại.

Hẳn là hắn đang làm gì đó ở cuối xưởng dài. Vài giây trôi qua, hắn lại xuất hiện ở bên phải Juliette, hai tay xoa xoa vào nhau.

- Rõ ràng là tôi không muốn nó. Tôi muốn nói về… con điếm đó. (Hắn ngừng 1 lát để ngắm nhìn rất nhiều bàn tay bằng đất sét đặt trên bàn.) Thậm chí cũng chẳng cần cho bộ sưu tập của tôi. Ôi quên mất!

Hắn cúi xuống giá sách rồi bật chiếc cassette cũ kỹ phủ đầy bụi. Một làn điệu baroc vang lên trong nhà xưởng. Rồi hắn quay lại và lại biến vào bóng tối. Khi trở lại trước mặt Juliette, hai tay hắn cầm 2 chiếc bàn là đang tỏa hơi nóng ngùn ngụt.

- Cái này là để làm cháy thịt. Nếu không em sẽ ngất đi và không bao giờ tỉnh lại được nữa. Mà như tôi nói với em, chúng ta còn phải ăn tối cùng nhau.

Juliette thấy 2 cái bàn là đặt cạnh 2 bàn tay cô. Rồi hắn chộp lấy 1 vật bằng kim loại kêu loảng xoảng khi lướt trên mặt bàn.

Đó là một lưỡi dao dài sáng loáng, giống như dao phay để chém đầu.

- Sau đó, em sẽ ở lại với tôi lâu dài. Rất lâu dài.

***

Chiếc Ford Mustang và 2 xe cảnh sát dừng lại ở giữa đường, giữa cánh rừng.

- Tôi có thể nhầm, nhưng đây có thể là kẻ chúng ta đang tìm kiếm, Brolin cảnh báo. Vì thế không được sơ suất. Các anh lui lại, không lộ diện, đầu tiên tôi chỉ muốn nói chuyện với người này. Nếu có kết luận, tôi sẽ báo lại ngay lập tức. Nhưng nếu đây chính là kẻ giết người, thì có thể hắn sẽ đánh hơi thấy điều gì đó. Nếu diễn biến xấu đi, tôi kêu to "cảnh sát" và các anh tới can thiệp.

- Anh có chắc là muốn vào đó 1 mình không? Cảnh sát trưởng hỏi, ông không thích kiểu tình thế như vậy.

- Chắc. Nếu đúng là hắn thì không được làm hắn sợ. Sự hiện diện của 1 cảnh sát mặc sắc phục trong nhà hắn sẽ khiến hắn kích động. Tôi không muốn gặp bất cứ rủi ro nào. Tôi sẽ đặt cho hắn vài câu hỏi chung chung, chủ yếu là về cái ao, xem hắn có nghe thấy gì không, thế thôi. Tôi chỉ muốn gặp hắn, đánh giá hắn.

Cảnh sát trưởng miễn cưỡng chấp nhận.

- Vào vị trí, thanh tra Brolin ra lệnh, và nhất là chỉ can thiệp khi tôi yêu cầu.

Cả 4 cảnh sát mặc sắc phục tỏa vào rừng để bao vây căn nhà. Brolin đợi 1 lát rồi bắt đầu lên đường. Anh tới đích sau gần năm phút. Căn nhà chính khá nhỏ, chỉ có 1 tầng, với nhiều cửa sổ được che bằng những tấm rèm dày khó xác định màu vì đã bị bụi bẩn biến thành màu xám. Một gian xưởng sát cạnh nằm bên trong bức tường phủ đầy dây leo có gai và dương xỉ. Xưởng không rộng nhưng có lẽ khá sâu, không hề có cửa sổ, chỉ có 1 cửa ra vào với 2 cánh đang hé mở, từ đó vọng ra tiếng nhạc day dứt. Bên sườn phải của ngôi nhà có 1 chuồng chim to được làm thủ công, trong đó có 1 đôi chim cắt lông nâu đang chăm chú quan sát viên thanh tra trẻ. Brolin lướt nhanh qua trước đôi chim săn mồi rồi đi vòng quanh chuồng. Anh liếc nhanh 1 vòng quanh ngôi nhà, nhưng không thấy chiếc xe nào cả. Anh lưỡng lự 1 lát rồi tiến về phía cánh cửa nhà xưởng đang hé mở.

***

Juliette cảm thấy tim đập dồn dập nhưng cô không thể phát ra tiếng kêu gào. Hắn lại gần cô kèm theo nụ cười tươi trên khuôn mặt.

- Đừng lo, đầu tiên rất đau, nhưng sau đó tôi biết cách chăm sóc em…

Cô cảm thấy bàn tay thô kệch của hắn vuốt ve mông cô qua quần jean. Khóa kéo trên bộ áo liền quần của hắn đã kéo xuống 1 nửa, để lộ phần ngực vạm vỡ.

Hắn luồn 1 tấm ván xuống dưới cổ tay cô gái, người cô run lên bần bật.

- Như thế, để lưỡi dao không bị hỏng vì chém xuống nền, hiểu không?

Đầu Juliette quay cuồng vì quá sợ hãi, cô cảm thấy tâm trí cuồng loạn.

- Lưỡi dao đẹp thế! Hắn thốt lên với vẻ ngưỡng mộ kiểu trẻ con.

Rồi hắn vung con dao dài lên. Mắt hắn lồi ra khỏi hốc mắt, lóe sáng ngàn ánh lửa tức giận và điên cuồng kinh hoàng.

Juliette cố hết sức thét lên còn lưỡi dao chém vào không khí.

Nhanh như chớp.

Chết người.

Cô nằm trên nền nhà xưởng rùng rợn này và 1 thứ chất lỏng nóng ấm chảy trên cánh tay cô. Nhưng cô thậm chí không thấy đau.

Sau đó, Juliette không bao giờ nhớ được mình đã nghe thấy rõ 1 tiếng nổ.

Trong trí nhớ của cô chỉ còn lại âm vọng của 1 tiếng sấm khủng khiếp.

Cô đánh bạo mở mắt và thấy hắn nằm sõng xoài cạnh vũ khí của hắn. Một phần hộp sọ của hắn bị mất. Chính máu của hắn đang chảy trên tay cô. Cô cử động bàn tay: vẫn nguyên vẹn.

Juliette không hiểu chuyện gì diễn ra quanh mình. Có tiếng bước chân vội vã, rồi những lời thốt lên kinh ngạc, tiếp đó là những tiếng kêu, tiếng đám đông hoảng hốt vọng đến từ xa.

Thứ duy nhất mà cô còn nhớ được là giọng nói trầm và đáng tin cậy khiến trái tim cô ấm lại:

- Đừng sợ gì nữa, tôi là cảnh sát… Những thứ khác chìm trong nước mắt và vô thức.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 4

Mặt trời chầm chậm xuống sau ngọn đồi cao của dãy West Hills, chiếu lên các cao ốc trong thành phố những mảng bóng râm và những hình ảnh phản chiếu ngũ sắc. Những hình khối không rõ ràng âm thầm giành giật quyền được sáng bừng lên trong khoảnh khắc, trong khi ở xa hơn một chút, các khu phố màu gỉ sắt đang dần biến thành đỏ nâu để đi vào bóng đêm. Đó là vở ba lê hàng ngày của mặt trời, cảnh tượng mà Joshua Brolin thích ngắm nhìn đều đặn qua vách kính của phòng làm việc. "Cái chết bé nhỏ của ngày", anh vẫn thường gọi đùa như thế. Mỗi lần như vậy cảm giác thất vọng lại xâm chiếm anh trong nhiều phút, và khi đêm xuống, anh nhanh chóng lấy lại được tinh thần.

Đã gần hết tháng Chín, nhưng nhiệt độ vẫn cao như mùa hè, nhiều người tranh thủ đi dạo chơi. Các con phố ở khu vực quán xá, đặc biệt là những quán bán loại bia sản xuất ở địa phương, không còn chỗ trống, chật ních sinh viên, cả giới bình dân tìm kiếm chút vui thú và vài nhóm du khách tới để cảm nhận sự náo nhiệt của các quán bia ở "Beervana" (Chơi chữ với từ "beer". Biệt danh của Portland, nơi sản xuất bia nhiều nhất nước Mỹ, chiếm 10% lượng bia bán ra trên toàn nước Mỹ). Thế nhưng Brolin lại không cảm thấy có hứng để uống vài cốc. Mùa hè trôi qua, tinh thần anh ngày một rã rời. Sự vui mừng nhường chỗ cho nỗi u sầu chủ yếu xuất hiện lúc thức dậy vào sáng sớm và khi đêm xuống. Những khoảnh khắc then chốt của nỗi cô đơn.

Anh tự hỏi về lý do của sự thay đổi này, vì bản chất của anh không phải là bi quan - hoàn toàn không - nhưng không có câu trả lời nào. Đôi lúc, anh tự hỏi liệu đó có phải là hệ quả của khoảng cách giữa nghề nghiệp của anh và cuộc sống dưới vẻ bề ngoài bình thường nhất của nó. Thật khó mà nhận ra rằng một ngày tuyệt vời, nắng đẹp, trời xanh, cũng có thể đồng nghĩa với ác mộng đối với một số người.

Hồi tháng Tám, anh được gọi tới khu phố phía Bắc, đến một tòa nhà gần đường cao tốc số 5. Anh còn nhớ như in sự tương phản quá rõ nét hôm đó. Sáng hôm ấy, anh đi tới trụ sở cảnh sát trên chiếc Mustang của mình, vừa lái xe vừa nghe radio, miệng hát theo một giai điệu của U2 dưới ánh mặt trời rạng rỡ. Một ngày đẹp trời bắt đầu. Gần hai giờ sau, ở khu phố phía Bắc, anh vừa huýt sáo vừa bước qua cửa vào tòa nhà để khám phá một vụ giết người kinh hoàng. Nạn nhân là một cô gái khoảng 20 tuổi, gốc Phi, hẳn phải rất xinh đẹp với đôi bím tóc dài. Giờ đây, cô chỉ còn là một túi thịt và máu bị vứt công khai. Một cơn hận thù mù quáng đã dẫn tới ý thích phơi bày nội tạng của cô gái này. Tất cả là do tính ghen tuông của bạn trai cô.

Từ những vụ vợ chồng giết nhau đến các vụ trọng án, rồi xâm hại tình dục, suốt ba tháng hè không ngừng nghỉ. Thậm chí nhơ bẩn.

Brolin yêu thích công việc của mình, nhưng đôi khi anh chịu sức ép nặng nề vì không thể trút bỏ căng thẳng bằng cách này hay cách khác. Thể thao giúp cơ thể thư giãn, nhưng đầu óc cần đến thứ khác. Mối quan hệ không có tương lai với cô phụ trách truyền thông ở tòa thị chính trong suốt 4 tháng mùa đông vừa qua, đó là trải nghiệm tình cảm mới nhất của anh.

Gần 32 tuổi, mặc dù có ngoại hình khỏe mạnh, Brolin vẫn chìm sâu trong cái giếng độc thân không thể lấp bỏ. Anh sống khổ sở giữa những khoảng thời gian dài cô đơn và một mối quan hệ thoáng qua. Thực ra, chưa bao giờ có gì nghiêm túc. Brolin lớn lên ở Logan, một thị trấn nhỏ cách Portland khoảng 30 cây số, và không giữ một kỷ niệm khó chịu nào về thị trấn ấy cả. Mọi người đều quen biết nhau, không thiếu không gian xanh, cánh đồng, rừng và đồi, còn đô thị lớn chỉ cách nửa giờ chạy xe. Anh sống gần 20 năm ở đây, dưới cái bóng khổng lồ của núi Hook, rồi tới học đại học ở Portland, nơi anh khám phá cuộc sống tự lập và niềm vui giặt giũ, là ủi quần áo. Nhưng thời đại học chỉ đặc biệt mang lại cho anh một chuỗi phiêu lưu và thất vọng tình ái. Từ những lần tán tỉnh tẻ nhạt đến mối quan hệ kéo dài 2 năm với một cô gái trẻ, rồi cô bỏ anh hoàn thành khóa học ở Washington, không có gì đặc biệt cả. Sau đó, lòng tận tâm với FBI không cho anh nhiều thời gian rỗi để duy trì một mối quan hệ đáng để gọi là mối quan hệ và mỗi nỗ lực lại kết thúc bằng một thất bại. Thời gian trôi đi, cuối cùng anh chấp nhận ý nghĩ rằng có lẽ chỉ đơn giản là anh không được sinh ra để sống cùng ai đó.

Đằng xa, mặt trời rọi vào mặt phẳng nhẵn của một tòa nhà làm nó sáng rực lên như ngọn lửa Olympic khổng lồ.

"Hay là mình đi chơi một chút..." Brolin chua chát nghĩ. Giọng nói của mẹ vang lên trong anh: "Không ai đến gõ cửa nhà con nếu con không giúp sức, chúng ta không ở trên ti vi, mọi chuyện không kết thúc một cách tốt đẹp đâu!"

Và những kẻ độc ác không phải lúc nào cuối cùng cũng thất bại! Ý nghĩ này đến với anh từ nơi sâu kín nhất của tâm trí. Gần đây, anh điều tra vụ một xác chết bị cháy đen trong một nhà kho ở khu phố phía Nam. Có vài hướng đi khá thú vị, nhưng chắc là vụ này sẽ làm tốn nhiều thời gian của anh.

Anh nhìn đồng hồ treo trên cửa ra vào. 20h02. Đã đến giờ về nhà, nghỉ ngơi và quên đi tất cả mọi chuyện cho đến ngày hôm sau. Ý nghĩ này khiến anh nhớ tới trò Resident Evil 3 mà anh bắt đầu chơi hôm qua trên máy chơi điện tử, và mỉm cười. Đúng là Salhindro có lý, anh không bao giờ từ bỏ cái máy đó được. Trong chốc lát, anh bỏ hẳn ý định đi uống rượu và gặp gỡ bạn bè.

Brolin cầm lấy áo vest và ra khỏi phòng mà không buồn sắp xếp lại bàn làm việc cho gọn ghẽ một chút.

Anh sống ở phố Alder, ở bờ bên kia của sông Willamette, và anh chỉ mất không quá 20 phút để trở về căn hộ của mình. Hai phòng bày biện đồ đạc đơn giản theo khuynh hướng tối giản, thức ăn thừa từ hôm trước vẫn còn trong bếp, một tấm poster phim Othello của đạo diễn Orson Welles treo phía trên ghế sofa và một lớp bụi phủ trên tất cả. Nơi ở của người độc thân.

Brolin bật máy tính xách tay và kiểm tra mail. Không có gì. Không có tin gì mới, về công việc cũng như về gia đình. Mẹ anh thích gọi điện thoại hơn là dùng máy tính, bà thực sự không yêu thích "công nghệ mới" và đặc biệt ghét tất cả các trò chơi video, vì thế Brolin không được thoải mái. Cha anh mất sớm đã hơn 6 năm nay, ông mất sớm vì 1 cơn đột quỵ, để lại bà Ruth Brolin phải xoay xở một mình trong căn nhà nhỏ ở Logan. Bà sống khá đầy đủ nhờ khoản tiền bảo hiểm mà chồng bà đã mua vài năm trước khi mất, bà học vẽ trong nhiều giờ liền, thể hiện lại trên tấm toan phong cảnh rừng núi mà bà nhìn thấy từ hiên nhà mình.

Joshua rót cho mình một cốc to sữa và xirô dâu, rồi thả mình xuống ghế sofa. Rất nhiều bạn bè cười anh vì khẩu vị sữa-dâu này, nhất là ở học viện Quantico, một nhân viên FBI mà lại thích loại thức uống này thì thật là chẳng ra gì, nhưng thời của John Edgar Hoover đã hết và quyền tự do của các điệp viên được khôi phục. Chắc chắn là dưới thời của ông chủ lớn, thời mà người ta nói về một đại "mafia theo giáo phái Mormon của FBI", một sở thích tương tự như vậy không được chấp nhận...

"Mình được phép lựa chọn giữa Wagner, Rickie Lee Jones, hay Chris Isaak và một ván game!" Joshua nghĩ, mắt nhìn dàn máy hi-fi rồi lại nhìn ti vi.

Hai sở thích lớn của anh. Sở thích đầu tiên giúp anh thư giãn mà không buộc anh phải ngừng suy nghĩ, còn sở thích thứ hai là cách tốt nhất giúp anh quên đi stress của một ngày làm việc, anh bị hút hoàn toàn vào thế giới trò chơi, nó lấy đi của anh quyền suy nghĩ và không để lọt bất cứ hình ảnh man rợ nào mà anh đã thấy trong lúc làm việc. Đến mức anh đã mua 2 máy chơi và đặt một cái ở nhà, một cái ở phòng làm việc để có thể chạy trốn thực tế khi nó quá nặng nề và khi anh cần phải giải lao. Một số người hẳn sẽ nghĩ rằng việc anh cần đến loại máy móc thay thế kia chứng tỏ có lẽ anh không được sinh ra để làm nghề này, nhưng Brolin thực sự cảm thấy mình là một cảnh sát, anh chỉ cần thỉnh thoảng tách mình khỏi công việc mà thôi.

Cuối cùng, anh chọn ván Resident Evil 3 đang chơi dở. 30 phút sau, anh miệt mài bên chiếc điều khiển như một tên tù khổ sai bên đoạn dây xích chân. Nhờ kiên trì, anh vượt qua được các mức khó khăn để tiến dần tới hồi kết. Tiếng chuông điện thoại thực đột ngột kéo anh ra khỏi thế giới ảo.

Miệng làu bàu, anh nhấc máy với ý định kiên quyết kết thúc cuộc nói chuyện một cách sớm nhất.

- Joshua Brolin nghe đây.

Một giọng nói phụ nữ nhẹ nhàng và ngập ngừng vang lên trong ống nghe.

- Chào anh, em là Juliette. Juliette Lafayette. Hy vọng là anh không quên em...

Sự bất ngờ quét sạch mọi ý định hung hăng, Joshua đặt chiếc điều khiển xuống tấm thảm trải sàn để ngồi sâu hẳn vào ghế sofa.

- Juliette! Brolin ngắt lời vì không biết nói gì. Bất ngờ quá! Em khỏe không?

Juliette không ngờ được chào đón nhiệt tình đến thế.

- Hừm... vâng, em khỏe.

Giọng nói của cô ấy ngược hẳn với những lời cô ấy nói ra, quá run, quá trầm, Brolin tự nhủ. Khi nhấc máy lên, anh đoán rằng sẽ nghe thấy giọng của 1 cậu bạn, hoặc cùng lắm là của mẹ anh, chứ không hề nghĩ tới Juliette.

- Đã lâu lắm rồi, cô nói.

- Ừ... anh thực sự rất hối tiếc vì không thường xuyên liên lạc trong thời gian gần đây... Anh... không thể tha thứ được. Lỗi của anh.

- Không, không, tại em, em muốn nói là anh không cần phải xin lỗi, chính em cũng mất tăm. Hòa nhé.

Lại im lặng trong ống nghe.

- Em... Em biết như thế là rất lạ, nhưng em muốn nghe giọng nói của anh, cô ngập ngừng bày tỏ mặc dù đã chuẩn bị trước những lời này suốt nhiều phút.

Vẫn rất ngạc nhiên, Brolin im lặng.

- Hình như em làm phiền anh? Cô hỏi.

- Không, không hề.

Brolin vớ lấy điều khiển từ xa để tắt chiếc ti vi đang làm anh mất tập trung. Nghĩ tới Juliette, những cảm xúc đau đớn lại tràn về trong trí nhớ của anh.

- Thú thật là anh không nghĩ là sẽ có tin tức của em, anh nói và duỗi hai chân trên ghế sofa.

- Vâng. Thật ra... em... em muốn nghe giọng nói của anh... Từ năm ngoái, chúng ta chưa thực sự có dịp nói chuyện... chỉ là chuyện giữa chúng ta, không nhất thiết phải nói đến tai nạn. Anh có hiểu em nói gì không?

Cô nói vụng về, tìm kiếm từ để diễn tả cảm giác giữa nỗi buồn và sự sợ hãi mà chính cô cũng không hiểu rõ.

- Quả thật, cô nói tiếp, em vẫn chưa cám ơn anh được. Chưa cám ơn được với khoảng lùi thời gian cần thiết, cái đầu lạnh và thoát hẳn khỏi chuyện đã xảy ra. Khi em bắt đầu bình phục, chúng ta không gặp nhau nữa... Ôi, anh đừng coi đây là một lời trách móc nhé, được không? Em muốn nói rằng trước đây anh chủ yếu biết em khi đầu óc em phải chịu sức nặng của thảm kịch, còn giờ đây mọi chuyện đã khá hơn, em muốn cám ơn anh... Chân thành... hay minh mẫn cũng được.

Brolin chợt vỗ bàn tay vào trán. Mắt anh bắt gặp tờ lịch treo trên cửa bếp, mặc dù anh đã biết là không cần phải khẳng định lại. Hôm nay là thứ 3, ngày 29 tháng 9. Suốt cả tuần, tim anh thắt lại khi gần đến ngày này. Nhưng đúng ngày đó, anh lại chôn sâu nó đến mức quên hẳn. Tròn một năm, đúng vào ngày này, Juliette bị bắt cóc, Brolin tự trách mình vì đã quên mất. Đây là một bài học lạ lùng của đầu óc, ngày hôm đó là một bước ngoặc trong đời anh, một ngày không thể quên được, trừ khi dưới tác động của vô thức. Suốt cả tuần, anh tự hứa với mình sẽ gọi điện cho Juliette vào ngày kỷ niệm, thậm chí là mời cô đi ăn trưa, nhưng vì cứ cố xua đuổi cái ngày đen tối đó ra khỏi trí óc, nên cuối cùng anh đã để các vấn đề hiện tại che lấp nó hoàn toàn.

Juliette và anh không nói chuyện với nhau từ hơn sáu tháng nay, nhưng anh biết lẽ ra anh phải gọi cho cô. Ít nhất là vì cô, để làm cô yên tâm.

- Không, đừng cám ơn anh, anh mới là người phải xin lỗi vì không gọi điện thoại. Em có khỏe không?

Im lặng.

- Hình như không ổn lắm, anh nói tiếp. Anh có thể giúp gì không?

- Em chỉ muốn nghe giọng nói của anh. Một năm đã trôi qua và chuyện đó đã lùi xa trong đầu em nhưng lại rất gần trong em, xung quanh em.

Brolin ngả đầu trên thành ghế sofa và nhắm mắt lại.

Tất cả câu chuyện vớ vẩn về lời cám ơn minh mẫn có vẻ hơi giống một bài diễn văn đã được chuẩn bị trước, một cái cớ để gọi cho anh. Nhưng khi cô nói muốn nghe giọng nói của anh, Brolin lại thấy một Juliette bộc phát mà anh từng biết, với những mối nghi ngờ và nỗi sợ hãi của cô.

- Theo anh, em nên đi chơi với bạn bè, anh khuyên cô. Anh biết một phụ nữ đã từng bị tấn công và mỗi năm cô ấy lại tới nhà hàng vào đúng ngày "kỷ niệm" để vui vẻ chứ không sa sút tinh thần.

Juliette thì thào điều gì đó tỏ ý đồng tình.

- Em đang ở cạnh bên người thân à? Anh hỏi.

- Không, bố mẹ em gọi điện suốt cả ngày, họ vẫn ở California. Mẹ em muốn về đây vài ngày, nhưng em đã thuyết phục được mẹ rằng không cần thiết, em vẫn ổn.

- Thật không?

Cô lưỡng lự một lát rồi mới trả lời.

- Gần như thế.

- Bạn em tên là gì nhỉ? Cô bạn sống gần nhà em ấy.

- Camelia.

- Em nên ngủ ở nhà Camelia, đừng ở một mình, như thế tốt hơn.

- Vâng, có lẽ thế.

Juliette không biết phải diễn tả cảm giác của mình như thế nào. Làm thế nào để nói với anh rằng cô không muốn ở bên cạnh gia đình hay bạn bè, mà muốn nghe giọng nói của người đã cứu sống cô. Giờ đây, khi nghe anh nói, cô cảm thấy xấu hổ vì đã không giữ liên lạc. Giọng nói của anh an ủi cô, anh đã thấy điều mà cô phải chịu đựng và đưa cô ra khỏi nơi đó. Một cảm giác khó chịu kỳ lạ đột nhiên đến với cô vào cuối ngày, khi cô đang giở cuốn DSM-IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders: giáo trình tham khảo chuyên ngành phân tâm học, miêu tả tất cả các loại bệnh học), giống như một vật nặng chèn vào ngực cô. Suốt cả tuần, cô tự nhắc đi nhắc lại rằng mọi chuyện sẽ qua thôi, rằng ngày hôm đó cũng sẽ trôi đi như bao ngày khác, nếu buồn vì nó thì sẽ thật là ngớ ngẩn, cô luôn tự nhủ như thế. Nhưng cô cảm thấy không thoải mái, không phải vì nhu cầu được an toàn giày vò cô, mà vì không thể nói lại chuyện đó với ai được. Cả mẹ cô lẫn Camelia đều không thể hiểu điều cô muốn nói, họ không thể đồng tình hay trả lời với hiểu biết đầy đủ về câu chuyện, bởi vì họ không biết. Và khuôn mặt của Joshua Brolin,vốn đầy thiện cảm, không ngừng bập bềnh trong trí óc cô. Cho tới khi cô không thể vượt qua bản tính nhút nhát của mình để nhấc máy gọi cho anh, số máy của anh được lưu trong máy của cô đã gần 1 năm.

- Làm thế nào mà em có được số máy của anh? Brolin ngạc nhiên hỏi, anh nằm trong danh sách đỏ cơ mà.

Giọng nói đột ngột thay đổi và ý nghĩ rằng cô cũng đang nghĩ đến điều đó khiến Juliette trở nên vui vẻ lại.

- Chính... chính anh đã cho em năm ngoái, phòng khi..., cô nói với 1 chút giễu cợt mà cô không nghĩ là mình đủ khả năng nói ra trong tối nay.

Ngay lúc đó, Brolin tự trách mình đã không nhớ, và tự hỏi về ẩn ý của mình lúc đó khi nói "phòng khi...". Juliette là một cô gái xinh xắn, thậm chí rất đẹp, Brolin sửa lại. Nhưng anh luôn tâm niệm tách biệt rõ ràng công việc và cuộc sống riêng, không chấp nhận bất cứ ngoại lệ nào. Đây là một trong những quy tắc cơ bản từ khi anh còn ở FBI. Cho dù cô có hấp dẫn đến mấy, bao giờ anh cũng cố gắng nhìn cô khác với cách của một người đàn ông bị thu hút bởi sắc đẹp và sự duyên dáng của cô.

- Chính xác, giờ thì anh nhớ ra rồi, anh nói dối. Thêm một lần nữa, hãy nghe theo lời khuyên của anh, đừng ở một mình trong những lúc như thế này, hãy đi chơi, thư giãn, cứ nhớ tới chuyện đó suốt đêm không đem lại ích lợi gì đâu, em sẽ lại suy sụp tinh thần đấy. Anh không cố làm giảm bớt tính nguy kịch, mà chỉ ngăn cản em quá tập trung vào... sự kiện này.

Những tháng sau vụ tấn công, Brolin rất quan tâm tới việc điều trị của Juliette, khi đó cô thường xuyên lui tới phòng tội phạm học của cảnh sát Portland. Cô được học cách chấp nhận chuyện đã qua, hơi giống như chấp nhận cái chết của một người thân, để tang một lần để tránh phải sống mãi mãi trong sự ám ảnh. Người ta dạy cô cách làm thế nào để khóc 1 lần rồi thôi, chứ không chôn sâu tổn thương trong lòng và đợi nó dần dần thối rữa. Josh biết rằng cô đã thoát khỏi tình trạng đó, tỏ ra có bản lĩnh cứng rắn, nhưng việc lại rơi vào tình trạng đó là một hiện tượng có tính chất lập đi lập lại hàng năm, chủ yếu vào ngày xảy ra thảm kịch.

Cô gái thở dài trong máy điện thoại.

- Em thật ngốc nghếch, lẽ ra em không nên gọi anh, em rất tiếc.

- Đừng nói thế. Anh rất vui, anh miễn cưỡng đáp. Thực ra, anh muốn gọi cho em, nhưng... công việc cứ cuốn anh đi. Em biết đấy, với anh, chuyện xảy ra hôm đó cũng rất quan trọng.

Anh cảm thấy Juliette căng thẳng, suy nghĩ mông lung.

- Em có muốn chúng ta nói về chuyện đó không? Anh dò hỏi.

Cô không bỏ lỡ cơ hội.

- Em đã không dám đề nghị anh. Em sợ rằng anh coi đó như 1 lời mời không đúng chỗ. Anh có đến đây được không?

Brolin mở mắt, lời đề nghị của cô vượt quá giới hạn suy nghĩ của anh. Anh đã nghĩ tới 1 cuộc trò chuyện qua điện thoại, chứ không phải đi xuyên qua toàn bộ thành phố. Sự im lặng của Juliette làm nản mọi ý định từ chối, anh hoàn toàn có thể làm việc này vì cô. Thực ra, mặc dù anh không muốn, nhưng có cái gì đó trong cô khiến anh rất yêu thích, cái gì đó vượt xa khuôn khổ nghề nghiệp đơn thuần. Trong nhân cách của cô, trong cách sống của cô.

Chỉ 1 hoặc 2 giờ thôi, anh tự nhủ, vì cô ấy, giúp cô ấy 1 tay, sau đó mình quay về nhà và đi ngủ.

- OK, anh sẽ tới. Hãy lấy cốc ra và sưởi ấm phòng khách đi, anh sẽ tới sau 40 phút nếu anh kiếm được tàu vũ trụ.

Anh đoán chắc có một nụ cười ở đầu dây bên kia. Cô ấy đã yên lòng.

***

Chiếc Mustang màu trắng tiến vào Shenandoah Terrace, khu phố giàu có của Portland, lướt qua trước những tòa nhà lớn sừng sững trong thành phố. Xe chạy đến tận cùng của khu Shenandoah, nơi có hai ngôi nhà rộng rãi đối diện nhau ở cuối phố, giáp với cánh rừng. Con đường dừng lại ở đây. Vài giây sau, Brolin đứng trên thềm của ngôi biệt thự nhỏ hơn.

"Khung cảnh thật dễ chịu", anh tự nhủ và quay ra nhìn xung quanh. Không nhiều hàng xóm, không gian rộng và cánh rừng để chạy bộ từ nhà, còn đòi hỏi gì hơn đây?

Cửa mở.

Juliette đứng ở cửa, với nụ cười chào đón không gượng ép.

- Cám ơn anh đã tới, cô nói rồi mời anh vào nhà.

Brolin cười đáp lại, hơi ngượng ngập, anh không biết phải phản ứng thế nào. Sau nhiều tháng không gặp, anh đã quên mất nét duyên dáng của cô gái. Anh bước vào sảnh, hai tay đút trong túi.

Juliette chỉ vào một cánh cửa đang mở.

- Em sẽ mang cà phê ra, anh ngồi xuống đi, cô nói và biến mất vào một nơi chắc là bếp.

Brolin bước vào giữa nhà, một phòng khách ấn tượng, với nhiều ghế dài, ghế bành, bàn thấp và một lò sưởi khá to, đủ để đi vào trong nhà mà không cần cúi người. Trên đầu anh là hàng lan can dài của tầng gác lửng và vách kính. Josh thích thú với sự có mặt của mình ở đây. Anh đi giầy basket, mặc quần jean sờn và áo vest da, hoàn toàn đối lập với vẻ sang trọng của nơi này.

- Anh thích uống đặc phải không? Juliette hỏi vọng ra từ bếp.

Joshua không buồn giải thích rằng anh không uống cà phê nữa kể từ khi cai thuốc lá, hôm nay sẽ là một ngoại lệ. Anh quay lại và thấy một cây đàn tuyệt đẹp hiệu Bösendorfer với phần đuôi đen bóng, xung quanh là cây cảnh xanh tươi. Anh lại gần và nhấc nắp lên để lướt nhẹ ngón tay trên các phím.

- Anh chơi đàn không? Juliette hỏi sau lưng anh.

Brolin dừng tay ngay và xin lỗi bằng một nụ cười.

- Không. Ở nhà bố mẹ anh có một cây đàn, nhưng bố anh không thích anh động vào.

- Vô lý. Vậy thì có đàn piano để làm gì?

- Anh nghĩ là bố anh muốn giữ làm kỷ niệm về ông bà nội, nhưng có thể bố anh không muốn ai đó chơi đàn. Anh không biết nữa. Còn em?

Juliette nhướn mày.

- Từ khi tám tuổi. Em nghĩ mình sẽ trở thành một tài năng lớn, nhưng bố mẹ em đã thất vọng tràn trề vì em chỉ là 1 nghệ sĩ hạng xoàng.

Một cái lúm đồng tiền hiện ra trên má cô. Brolin quan sát và ngạc nhiên về thái độ hơi đùa cợt của cô. Anh đã quên hẳn cô đẹp thế nào với mái tóc đen như mun đổ xuống hai vai và đôi mắt màu xanh saphir. Màu xanh đậm đặc đến nỗi nếu nhìn sâu vào đó, người ta sẽ đánh mất lý trí. Cuối cùng, anh nhận ra rằng không bao giờ anh xác định được vị thế của mình đối với Juliette. Anh đã cứu sống cô, và họ đã gặp gỡ nhau sau thảm kịch, nhưng trong một bối cảnh đặc biệt, cô chưa hoàn toàn là chính cô, còn anh luôn ở bên cô với tất cả các rào cản của cảnh sát, chứ không phải như 1 người bạn. Nghĩ cho kỹ thì quả là đáng ngạc nhiên khi anh lại ở đây sau 1 năm. Họ đã gắn kết nhau bằng một trải nghiệm chung rất dữ dội, một niềm tin lẫn nhau nảy sinh từ các sự kiện, chứ hoàn toàn không phải bằng sự hiểu biết lẫn nhau. Khi cô bắt đầu dần bình phục thì anh rời xa, phần vì bị công việc cuốn đi, phần vì không muốn quan hệ quá mật thiết với cô gái xinh đẹp này.

Trong 1 thoáng, Brolin bất chợt muốn được chạm vào đôi môi xinh xắn và tự nguyện kia, ánh mắt anh dừng lại ở chiếc áo ôm sát ngực cô. Cảm thấy mình đang đi chệch hướng, anh chỉ tay vào 3 chiếc ghế dài kê hình chữ U và hỏi:

- Ghế nào dành cho cảnh sát đây?

- Chiếc ghế nào mà anh thích nhất.

Brolin ngồi xuống 1 cách thoải mái.

- Anh mừng vì thấy em không đánh mất nụ cười, anh nói. Đó là điều quan trọng nhất.

- Em sẽ cố gắng hết sức.

Cô cảm thấy không đủ sức thú nhận với anh rằng cô vừa mới tìm lại được nụ cười cách đây gần 1 giờ đồng hồ, khi anh thông báo sẽ tới. Từ người đàn ông này toát ra một điều gì đó khiến cô vững tâm, một sức mạnh bình yên. Juliette mang ra hai tách cà phê đen đặc.

- Thế em đang làm gì? Anh hỏi.

- Em theo dấu chân anh, cô đáp rất nhanh. Anh đã từng học tâm lý, đúng không?

Lại một lần nữa, trí nhớ của cô khiến anh bất ngờ. Sau vụ Leland Beaumont - Đao phủ Portland - Brolin muốn giúp cô thoát khỏi cơn ác mộng mà cô phải chịu đựng. Đó cũng là cách để anh giúp chính mình vì anh cũng phải chịu tâm lý nặng nề sau vụ này. Lần đầu tiên trong đời, anh lấy đi mạng sống của 1 con người. Anh chưa bao giờ thú nhận điều này với Juliette, và thậm chí anh định không kể quá nhiều về mình, nhưng gần 1 năm sau, cô gái trẻ không quên bất cứ điều gì anh đã nói. Trong đầu anh hiện ra ý nghĩ rằng cô có thể giữ tất cả chi tiết này trong trí nhớ để gây chú ý, nhưng thái độ của cô lại không đi theo hướng đó. Cô tỏ ra dễ chịu, nhưng không gần gũi, lại càng không thân mật.

- Trí nhớ tuyệt vời! Brolin nhận xét. Anh rất ấn tượng.

- Em trả lời câu hỏi của anh đây, em đang học năm cuối khoa tâm lý học, thêm một chút dũng cảm nữa là em sẽ lấy được bằng.

- Rồi sau đó làm gì? Em đã có ý tưởng gì chưa?

- Chưa rõ ràng. Có lẽ chuyện xảy ra năm ngoái đã mở ra cho em những hướng đi mới. Em khá thích ý tưởng truy bắt loại quái vật như thế. Có lẽ ở FBI. Đúng là em theo bước chân anh!

- Cẩn thận đấy, nếu không cuối cùng em sẽ làm việc ở sở cảnh sát Portland, anh đùa lại.

Brolin nhấp một ngụm cà phê vẫn còn nóng bỏng và ngay lập tức một làn hơi nicotin xộc vào mũi anh. Phổi anh đặc lại trong lồng ngực, anh thèm một điếu thuốc lá. Bầu không khí im lặng ập đến phòng khách rộng mênh mông. Đằng xa, kim giây đồng hồ treo tường mải mê chạy không ngừng. Nhìn vào Juliette, Joshua cố gắng không nghĩ đến sự thiếu thốn mà bấy lâu nay anh không còn cảm thấy nữa.

- Thời gian gần đây với em không dễ dàng, đúng không? Anh hỏi.

- Không sao. Từ mấy tháng nay, em đi ra ngoài buổi tối một mình, thỉnh thoảng em đi bộ đến nhà Camelia. Dường như em tránh được chứng sợ các không gian rộng. Nhưng em vốn không thích hội hè, và bây giờ vẫn thế! Cô nói và cười rất thật.

- Còn Internet? Em vẫn dành nhiều thời gian cho nó như trước à?

- Ít hơn nhiều! Cô đáp và nhướn mày, ít hơn nhiều.

Cô nhìn chăm chú vào tách cà phê.

- Em rất vui được gặp anh, anh Brolin ạ, cô khẽ nói.

- Cứ gọi anh là Josh.

Cô gật đầu rồi nói tiếp:

- Em biết điều này có vẻ ngớ ngẩn, nhưng em cần gặp anh. Giống như 1 bài tập luyện thần kinh mà em tự đặt ra cho mình, gặp anh để nhắc em rằng chuyện đó đúng là đã xảy ra.

Ý nghĩ mình là 1 yếu tố của bài tập luyện thần kinh khiến Brolin khó chịu và anh không ngăn nổi mình thể hiện sự thất vọng ra mặt. Anh không chỉ tưởng tượng ra mình quan trọng hơn nhiều, mà anh còn hy vọng ít nhất sẽ có được 1 mối quan hệ trên tình bạn.

- Em diễn đạt tồi quá, Juliette sửa lại, em muốn nói rằng chính vì anh biết chuyện xảy ra như thế nào nên em muốn anh tới đây. Em muốn gặp anh vì anh là người duy nhất đã chứng kiến chuyện ấy, và với anh em không cảm thấy nhất thiết phải nói về ngày hôm đó, anh đã biết chuyện ấy, anh có thể hiểu em nếu em muốn nói đến chuyện ấy, nhưng em không phải cố miêu tả lại tất cả. Anh có hiểu em không?

Nỗi thất vọng đã nhường chỗ cho nét nhẹ nhõm trên khuôn mặt Brolin. Anh gật đầu.

- Em có biết điều gì tuyệt vời nhất bây giờ không? Anh hỏi, đó là đốt lửa trong lò sưởi, đã nhiều năm rồi anh không thấy cảnh ấy. Sau đó chúng ta có thể chuyện trò thật lâu, giống như khi anh còn nhỏ.

Hai cái bóng nằm dài dưới 1 tấm chăn, mỗi người trên 1 chiếc ghế sofa. Bóng tối tranh giành chỗ với những hình trang trí màu hổ phách trong phòng khách, còn tiếng lép bép của lửa đùa vui với sự im lặng. Thỉnh thoảng, Brolin hoặc Juliette thì thầm 1 câu gì đó, và người kia đáp lại. Ngôi nhà yên tĩnh, đêm đã khuya. Sau 2 giờ rưỡi trò chuyện với Juliette, Brolin đã từ bỏ ý định quay về ngủ ở nhà mình. Cô cần anh, cần 1 đôi tai thấu hiểu, còn anh cần 1 người gần gũi, một chút ấm nóng ngay cả khi đó dường như chỉ là tình bạn, và như thế rõ ràng lại tốt hơn.

Dần dần, câu nói của họ chỉ còn là những từ rời rạc vì mệt mỏi, rồi đêm khuya tới ru họ ngủ tới tận sáng sớm hôm sau.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 5

Larry Salhindro đẩy cánh cửa phòng làm việc của đại úy Chamberlin. Ông mang theo 1 hộp cac-tông đầy bánh vòng donut mới mua trước đó vài phút, trên đường từ trụ sở cảnh sát trung tâm tới.

- Chào Larry, đại úy Chamberlin nói, giọng không chút uể oải trong buổi sáng sớm.

- Chào đại úy. Anh ăn bánh donut nhé? Salhindro mời và chìa cái hộp đang mở ra.

- Những thứ rác rưởi này sẽ làm anh tổn thọ năm năm đấy, Lary ạ, anh nên để ý đến dáng người thì tốt hơn. Thế nào, vụ buôn bán xe ô tô ăn cắp đến đâu rồi?

- Đang tiến triển, Kiewtz và Balenger theo dõi vụ này.

- Còn xác chết trong nhà kho?

Salhindro nuốt vội rồi mới trả lời.

- Brolin đang điều tra, thỉnh thoảng tôi giúp cậu ấy 1 tay. Vẫn chưa nhận dạng được xác chết, bên pháp y đang khám nghiệm bằng tia X.

Chamberlin gật đầu.

- Larry, đừng quên là anh ở đó để làm liên lạc giữa các cảnh sát mặc sắc phục và đội hình sự, chứ không phải để hỗ trợ thanh tra Brolin. Đừng biến tinh thần hợp tác của mình thành một thói quen, kể cả khi nó đem lại kết quả tốt, đó không phải là nhiệm vụ chính của anh.

Salhindro làu bàu tỏ ý chấp nhận. Ông làm trung gian giữa cảnh sát mặc sắc phục và đội hình sự từ 2 năm nay, và từ 1 năm rưỡi này đôi khi ông giúp đỡ Brolin. Từ thu thập những thông tin nhỏ đến hỗ trợ thực sự 1 số cuộc điều tra. Ở tuổi 50, Salhinhdreo là trung úy, nhưng do mắc bệnh đau lưng nặng và sức khỏe yếu nên ông được miễn đi tuần tra bằng ô tô. Với vai trò trung gian mà ông cho là quá ca hiện trường, ông không bao giờ bỏ lỡ dịp giúp đỡ các đồng nghiệp của mình ở phòng điều tra tội phạm.

- Sáng nay cậu ấy đến chưa? Đại úy hỏi, tay vuốt vuốt bộ ria đen.

- Chắc là chưa.

- Nếu thấy cậu ấy, anh bảo cậu ấy đến gặp tôi để báo cáo về công việc điều tra. Và báo cho Kiewtz và Balenger đến họp lúc 11h.

Salhindro nhận lệnh và đứng dậy. Ông sắp bước qua cửa thì đại úy chìa tay về phía ông và gọi.

- Thôi thì cho tôi 1 cái bánh rác rưởi của anh nào.

Đồng hồ treo trên sảnh của phòng điều tra tội phạm chỉ 9h50 khi Brolin xuất hiện. Không cạo râu, cũng không thay quần áo, anh chạy vội về phía phòng làm việc 1 cách ít lộ liễu nhất.

- Này này, một giọng nói mà anh nhận ra ngay vang lên, hình như chàng thanh tra trẻ đêm qua đi ngủ lang!

Brolin thở dài rồi quay về phía cái bóng bụng phệ với mái tóc muối tiêu của Salhindro.

- Không! Đừng cố nói dối làm gì, Salhindro nói tiếp, cậu vừa qua đêm với 1 phụ nữ.

- Không phải như anh nghĩ đâu.

- Ừ… một người bắt đầu tự vệ ngay cả khi chưa bị kết tội, thì rõ ràng là không vô tội rồi! Salhindro vừa đáp vừa liếm mấy ngón tay dính đầy đường.

Brolin xua tay ra hiệu chào để quay đi.

- Tôi cần gì phải cãi lý với anh. Chỉ là 1 cô bạn thôi.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 6

Rusty McGeary quặt lái chiếc xe đạp của mình trên sân đất và đạp thật mạnh để leo lên tà luy. Washington Park là nơi lý tưởng cho những cuộc đi dạo bằng xe đạp địa hình. Nằm trên cả một dãy đồi, khu rừng bao quanh khu phía Tây của thành phố. Trải đài trên nhiều kilomet với nhiều lối mòn hẹp, ngoằn ngoèo.

Với sự tự tin của một cậu bé 12 tuổi, Rusty thường đến đây đạp xe dưới tán cây, cậu thuộc gần hết các con đường mòn và các lòng chảo, cả các lối tắt để đến một điểm chính xác trong thời gian ngắn nhất.

Nhưng giờ đây cậu đang chiến đấu vì sự sống.

Thở hổn hển, cậu chăm chú nhìn về phía sau để chắc chắn không có ai đuổi theo rồi đạp xe xuống đến chân dốc từ đó ra sức đạp thật nhanh, lao như chớp giữa các hàng cây. Khả năng tập trung lựa chọn đường đi ngắn nhất là cơ may duy nhất để cậu sống sót. Nếu đi nhầm đường coi như chấm hết. Nếu sẩy chân vào một đám lá khô thì không còn Rusty McGeary. Không được phép sai sót.

Ý nghĩ đó là nảy sinh trong cậu một quyết tâm còn cao hơn, cậu đứng hẳn lên bàn đạp và đạp hết sức.

Rusty lao đi. Xung quanh cậu, cây cối lướt nhanh như một tấm thảm dài mờ ảo màu xanh lục và nâu.

Trước mặt cậu sau một chỗ ngoặt hiện ra một khoảng rừng thưa nhỏ với những ngôi nhà gỗ tập thể thao dành cho người chạy bộ. Rusty phanh đột ngột tạo ra một đám bụi trong không khí khô của buổi chiều muộn. Cậu cố nín thở để nghe rõ hơn. Không có gì. Điều gây ức chế nhất, điều khó nhất cần phải vượt qua là không biết gì về địch thủ. Chúng ở đâu? Gần cậu không? Chúng đang tiến lại gần hay đang đi xa dần? Cậu phải luôn di chuyển để không bị tóm, vì nếu chuyện đó xảy ra, cậu phải vĩnh biệt mọi giấc mơ chiến thắng của mình.

Đột nhiên, một cái bóng hiện ra trong tầm nhìn của cậu, ai đó đang lao xuống dốc ở phía Bắc và sẽ tới chỗ rừng thưa trong không đầy một phút nữa. Rusty không kịp đánh giá tình hình, cậu vứt chiếc xe đạp vào bụi cây gần nhất và chạy trốn vào trong rừng. Cậu chạy vòng quanh một bụi cây gai rất to rồi tới nấp sau một thân cây để lấy hơi.

Đằng xa, giọng của kẻ đó xuyên thủng tấm màn im lặng của rừng:

- Rusty! Không được rẽ khỏi đường mòn! Cậu ăn gian.

Mặc kệ nếu đúng luật, cậu lại bị thua. Có đến ba đứa đuổi theo cậu trong cuộc săn đuổi này và cậu không muốn là kẻ thất bại trong ngày.

- Rusty! Tớ biết cậu đang ở đây! Thằng bé kia kêu to. Tớ thấy xe đạp của cậu đây này.

Rồi im lặng trong vài giây, Rusty nghe tiếng tim mình vang lên khắp cả người. Cảm thấy không ổn cậu cúi người và ra khỏi chỗ nấp để xem kẻ địch đang làm gì. Cậu nhìn thấy Kevin Baines đang lao vào rừng đuổi theo cậu. Rusty đi tiếp, không được đứng im, nếu không sẽ bị coi là chết. Cậu rẽ lối vào một bãi dương xỉ nhưng nhanh chóng nhận ra rằng không thể đi lại trong rừng - nhất là vào mùa này - mà không gây tiếng động khủng khiếp. Đang tự hỏi làm thế nào để tự giải quyết vấn đề, thì cậu nhận ra những bức tường của một ngôi nhà cũ.

Chỗ trốn lý tưởng, cậu tự nhủ. Nếu may mắn Kevin sẽ đi qua đây và không nhận ra căn nhà đổ nát này.

Rusty thận trọng tiến lại gần để không giẫm lên cành cây hay lá khô. Ngôi nhà giống như một kiểu nhà cổ mà các bác tiều phu của thế kỷ trước thường đến trú ngụ nhiều tuần để làm việc trước khi trở về nhà. Rusty đi vòng quanh bức tường đá không có cửa sổ hy vọng có thể tìm được một cánh cửa hay một lối vào nào đó. Có tiếng kêu vù vù vọng ra từ bên phía trong. Rõ ràng là ngôi nhà đã được công ty nước sạch hay một cơ quan nào đó tương tự tu sửa lại, chắc hẳn là chiếc máy bơm đang chậm rãi chạy bên trong. Càng tốt cậu có một chỗ trốn thật tuyệt. Cuối cùng, Rusty phát hiện ra ở mặt bên kia có một lỗ hổng đủ rộng để cậu có thể chui vào.

Cậu lục lấy chiếc bật lửa Zippo mà anh cậu đã tặng rồi bật lên.

Tiếng vù vù càng to hơn.

Kevin Bains lao nhanh giữa các thân cây và bụi cây lớn, tai chú ý lắng nghe từng tiếng động nhỏ nhất ở xung quanh. Rusty ở rất gần đây, Kevin tin chắc như thế. Không thể thế được. Cậu sẽ xua nó ra khỏi nơi ẩn trốn và sẽ trở thành "Thợ săn kỳ cựu", chính cậu chứ không phải ai khác.

Tiếng cành cây gãy ở đằng phía xa bên trái, Kevin lập tức ngồi thụp xuống.

Rồi một tiếng thét kinh hoàng xé toạc không gian.

Đó là Rusty McGeary.

Rusty thét lên liên hồi trong nhiều giây liền.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 7

Bác sĩ Sydney Folstom là một phụ nữ khoảng 40 tuổi, cao lớn, ánh mắt nghiêm khắc, gây ấn tượng mạnh với rất nhiều nam giới, bắt đầu từ các cảnh sát làm việc cùng bà. Là giám đốc của viện pháp y Portland, bà được các đồng nghiệp đánh giá cao, mặc dù nổi tiếng là tỉ mẩn thái quá. Bà thích công việc phải được kết thúc hoàn hảo và không thể chịu nổi tính dễ dãi. Khi thấy đã 17h15 rồi mà thanh tra Brolin vẫn chưa tới, bà bực bội và tự hứa sẽ không để công việc của anh ta trở nên dễ dàng. Chậm trễ là điều mà bà ghét hơn tất cả.

Viện pháp y Portland nằm hơi xa trung tâm thành phố, đó là một tòa nhà dài bằng gạch màu đỏ với những ô cửa sổ cao màu đen, qua đó thỉnh thoảng người ta thấy những cái bóng hiếm hoi thoáng qua. Tòa nhà này gợi nhớ đến một trong những trường đại học lâu đời của nước Anh, như bước thẳng ra từ một bộ phim kinh dị của hãng Hammer. Lối vào chính được dành cho các gia đình đến nhìn xác của người thân ở một trong các phòng trưng bày, theo cách gọi ở đây. Nhưng đội ngũ nhân viên thường quen đi vòng phía sau, qua sân trong và tầng hầm, đây cũng chính là đường đi của các xác chết khi được đem tới mổ. Brolin cũng đi theo đường đó, qua hành lang dài trải vải sơn màu xanh lá cây, qua gần các phòng giải phẫu tử thi. Trước một trong các phòng mổ, anh nghe rõ tiếng cưa rung lên khi cưa hộp sọ.

Anh rảo bước nhanh hơn.

Ở dưới này, không ai có vẻ đang sống cả, cứ như tầng hầm chỉ dành cho bóng tối và ma. Đôi khi, Brolin nhận thấy tiếng sột soạt của chiếc áo blouse hay một tiếng khạc, nhưng không thấy ai hết, mỗi người đều giấu mình sau cánh cửa mở hé của các phòng giải phẫu tử thi. Ở đây nồng nặc mùi thuốc sát trùng và Brolin chợt nhận ra mình đang ở dưới lòng đất, không có bất kỳ ô cửa sổ nào, ngoài một chiếc quạt thông gió to, thuốc sát trùng có lẽ là thứ duy nhất chống trả được một cách hữu hiệu loại mùi rất nặng của cái chết. Một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng anh. Anh đi qua một dãy cáng có bánh xe và bước nhanh trên các bậc thang dẫn lên tầng trệt.

Ngoài phòng tiếp đón các gia đình và phòng tang lễ, ở tầng này còn có các phòng phân tích.

Brolin bước qua cánh cửa riêng ở hành lang trung tâm để đi về phía cầu thang bộ. Hai bên hành lang là những vách kính nhìn vào các phòng thí nghiệm, nơi rất đông người, cả nam lẫn nữ, mặc áo blouse trắng đang làm việc. Những chiếc máy đồ sộ nhấp nháy đèn đủ màu, một nhóm kỹ thuật viên đang kiểm tra và ghi lại các dữ liệu tin học, xa hơn là một hình nộm người khoác chiếc áo sơ mi loang lổ máu dùng để tính toán đường đi của viên đạn. Rồi Brolin đi qua trước một loạt cánh cửa kín mít, không có khe hở chỉ đơn giản được chặn bằng một tấm biển "Cấm vào khi đèn đỏ sáng" và bên trên có một loạt đèn màu đỏ, một vài chiếc đang sáng. Đây là khu dành riêng cho các phòng phân tích quang phổ, hình ảnh, đạn đạo, và cũng là phòng đặt những chiếc máy rất phức tạp như nit-yag, Opti-Scan hay máy sắc ký khí kèm theo một máy vi tính siêu công suất và một máy quang phổ định lượng. Mọi thiết bị cần thiết để truy tìm những chỉ số nhỏ nhất, một dàn máy vi tính đủ khả năng buộc một hạt cát phải nói về nguồn gốc của nó, thậm chí là chuyến chu du của nó qua khắp đất nước. Đó là vương quốc của Carl DiMestro và Lynn Sang, hai người phụ trách các phòng phân tích ở tầng trệt. Hiện tại, Brolin có hẹn với bác sĩ Folstom tại phòng làm việc của bác sĩ ở trên gác. Đã muộn giờ nên Brolin không ghé qua chào Carl, chắc anh ấy đang ngập đầu trong vài công việc tối tăm, anh bước luôn lên cầu thang. Trên gác yên tĩnh hơn, ở đây có các phòng phân tích chất độc, phòng nghiên cứu gen và phòng của cán bộ. Brolin nhanh chóng tìm nơi anh cần, rồi gõ cửa bước vào.

Sydney Folstom đứng dậy chào anh. Mái tóc bà chải nếp gọn gàng, đôi mắt xanh xuyên thủng Brolin như lưỡi dao. Nét mặt kín đáo của bà khiến người ta không đoán được bà đang trong tâm trạng xấu hay đó là vẻ mặt bà thường ngày. Từ bà toát ra một vẻ đẹp lạnh lùng, gần như tàn nhẫn.

"Bệnh nghề nghiệp", Brolin thầm nghĩ và mỉm cười. Cứ mổ xẻ con người như những tảng thịt, cuối cùng người ta sẽ bị lây nhiễm. Đó là những dấu vết của cái chết. Anh thấy hình ảnh so sánh này rất hay, và anh tự hứa sẽ ghi lại ngay khi có thể.

- Rất vui được gặp anh, thanh tra Brolin, ngay cả khi anh đến muộn - bà Folstom vào đề. Do tôi hay tôi cảm giác rằng anh thích ở đây? Mấy tháng nay, tôi hay gặp anh ở đây.

Bà có cách nói hàn lâm của những người theo học đại học trong thời gian rất dài. Gần 30 năm phải chú ý tới cách sắp xếp ngôn từ và suy nghĩ cho đúng với công thức của trường học: sự vững tin mà những năm tháng dài và căng thẳng làm việc trong ngành y hiện rõ trong từng lời nói và cử chỉ của bà.

- Tôi không đến đây nếu không thật cần thiết, chị đừng giận chứ thực sự là môi trường chết chóc ở đây không làm tôi dễ chịu, Brolin đáp.

Bà Folstom nở một nụ cười lạnh lùng.

- Thế nhưng anh làm việc ở Phòng điều tra tội phạm mà tôi cũng gọi đó là một môi trường chết chóc.

- Nhưng bối cảnh xung quanh là những người sống, anh đáp lại ngay, cố giữ giọng dễ chịu.

Vừa mới bắt đầu, cuộc nói chuyện đã đi theo hướng diễn giải đến tận giới hạn của thách thức miệng. Ngay lúc đó, Brolin tiếc là đã lao vào trò đùa chứ không tỏ ra dễ bảo, mà đây mới là thái độ tốt nhất để được việc trước một người ngoan cố hoặc quyết tâm soi mói bạn.

Bác sĩ Folstom vuốt chiếc jupe của mình và chìa ra một gói kẹo bạc hà cho người đối diện.

- Nếu anh làm việc để hiểu cuộc sống của một người chết, để hiểu về kẻ giết người, thì tôi cũng làm việc đó, nhưng thay vì đào bới cuộc đời người ấy, tôi lại đào bới thân xác.

Brolin gật đầu, miệng vẫn ngậm một viên kẹo và cười to.

- Dưới góc độ này… Tôi hiểu rằng chị có thông tin về cái xác cháy thành than mà tôi đang điều tra.

Đã đến lúc phải tránh đối đầu, Sydney Folstom không dễ dãi và để giữ mối quan hệ nghề nghiệp tốt đẹp, Brolin muốn làm dịu không khí. Bà giám đốc cơ quan pháp y ở vị trí thấp hơn, nhưng từ mùa xuân năm ngoái - khi kết quả giải phẫu tử thi trở nên mang tính quyết định đối với một cuộc điều tra - anh đã tiếp xúc với bà Sydney Folstom nhiều hơn và cải thiện sự cộng tác giữa họ. Anh đã tới đây cả chục lần trong năm tháng để nói với bà nhiều điểm kỹ thuật, và mặc dù họ chỉ gặp nhau vài phút mỗi lần, nhưng Brolin bắt đầu có nhận xét về bà. Nghiêm khắc, khó tính lúc đầu nhưng không xấu tính, chỉ hơi quá quyết đoán, bằng cách này hay cách khác áp đặt quyền lực của mình vào một thế giới độc đoán như ngành cảnh sát.

Cứ như đọc được suy nghĩ của anh, bà Sydney Folstom lùa tay vào mái tóc tỏ vẻ thoải mái, vứt bỏ vẻ ngoài khô cứng thường ngày.

- Đúng thế, giải phẫu tử thi đã khẳng định đây là một vụ giết người. Nhưng trước hết, tôi cho anh xem vài ảnh chụp cái xác, anh sẽ thấy cực kỳ rõ ràng.

Khi bà đứng dậy để lấy một tập tài liệu trên giá, Brolin hiểu rằng đó là cách riêng của bà để tạo uy thế. Anh đã từng tỏ ý không thích môi trường chết chóc này, giờ đây lại ngồi trước những bức ảnh - ảnh màu và cận cảnh - của một cái xác đã mổ. Bà không quên nhấn mạnh những điểm nhạy cảm nhất, đùa với các cách miêu tả vết thương, đây là nghệ thuật mà bà nắm rất chắc và tạo cho bà ưu thế đối với người đối diện. Mặc dù đã quen với những cảnh tượng tàn bạo nhất, nhưng anh vẫn không chịu nổi điều đó. Anh biết rằng kể cả sau ba mươi năm trong nghề, anh vẫn cảm thấy không thoải mái khi đứng trước một xác chết, cũng giống như tất cả các đồng nghiệp của mình. Chỉ trong phim mới có chuyện các cảnh sát kỳ cựu không hề có cảm xúc gì khi thấy một cái xác bị chặt chân tay. Thời gian và kinh nghiệm dễ dàng giúp người ta giảm bớt cảm giác nặng nề, nhưng không bao giờ, thực sự không bao giờ có thể quen với những cảnh tượng đó. Có lẽ do mỗi người một khác, và cũng do mỗi người chết theo một cách riêng, bị cái chết cố định mãi mãi trong bề ngoài khủng khiếp mà nó đem lại cho cơ thể chúng ta khoảnh khắc đó. Người ta thường nói già đi tức là đánh mất vẻ trang nghiêm của mình, còn chết là tìm lại được nó; điều này có thể đúng, với điều kiện ai đó đi ngang qua để sắp đặt lại cơ thể trong một tư thế trang nghiêm hơn, bởi vì cái chết có đặc tính kỳ lạ là thích tấn công vào những khoảnh khắc bất ngờ nhất.

- Anh sẽ hiểu, bác sĩ Folstom nói, kéo Brolin ra khỏi dòng suy nghĩ của anh.

Điện thoại di động của Brolin bỗng rung lên trong túi.

- Xin lỗi chị, anh ấp úng và rút điện thoại ra khỏi chiếc áo khoác da.

Anh cảm nhận được ánh mắt phật ý của bà Sydney Folstom đang nhìn mình.

- Brolin nghe đây.

- Joshua, Salhindro đây. Cậu phải đến ngay, người ta vừa tìm thấy một cái xác trong rừng, gần vườn thú.

Salhindro có vẻ căng thẳng, dường như ông vừa nhận được một tin xấu.

- Sao lại là tôi? Tôi đang theo một vụ điều tra rồi, Larry ạ.

- Nếu tôi đã gọi cậu, tức là tôi phải có lý do.

- Thế này nhé, hiện tại tôi đang bận, mà đây là việc của cảnh sát khu Tây-Nam, trong thẩm quyền của họ. Chẳng lẽ quan trọng đến thế cơ à?

- Chính cảnh sát khu Tây-Nam đề nghị báo cho cậu. Ngay khi nhìn thấy cái xác, họ đã biết là vụ này liên quan đến cậu.

- Liên quan đến tôi ? Brolin ngạc nhiên và bắt đầu mất kiên nhẫn. Có nghĩa là thế nào?

- Đừng tranh luận nữa, hãy đến gặp tôi ở cửa Kingston Drive gần vườn thú. Quan trọng lắm. Thật đấy.

Giọng Salhindro lộ rõ vẻ lo âu rất hiếm gặp ở ông, chứng tỏ có gì đó rất nghiêm trọng. Brolin đầu hàng. Anh tắt máy và nhìn bác sĩ Folstom, dường như bà đang bực bội vì bị ngắt lời không đúng lúc.

- Tôi rất tiếc, nhưng chúng ta phải gác lại việc này vì tôi có việc gấp, anh giải thích và đứng dậy, trong thâm tâm không phải không cảm nhận nhẹ nhõm.

Sydney Folstom không rời mắt khỏi anh và thở dài. Brolin đưa tay làm một cử chỉ tỏ ý xin lỗi.

Một linh cảm xấu bỗng xâm chiếm anh, như điềm báo về một thảm kịch sắp tới.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 8

Brolin đỗ chiếc Mustang ở dưới thấp. Một chiếc xe khoang - mà không hẳn là khoang nữa vì mới được sơn lại màu trắng và xanh nước biển - đang chờ, Salhindro ngồi trên nắp capo cùng một người nữa mặc sắc phục cảnh sát. Hai chiếc xe cảnh sát khác đứng im lìm cách đó một quãng, trong đó có một xe chở đồ của các kỹ thuật viên hiện trường vụ án.

- Có chuyện gì thế? Brolin hỏi ngay khi đến chỗ Salhindro.

Salhindro nhăn nhó tỏ vẻ chán ngán.

- Một cô gái trẻ. Một thằng bé đã tìm thấy cô ấy cách đây hai giờ đồng hồ, khi nó đang chơi cùng bạn. Hai cảnh sát của quận Tây-Nam đã tới để kiểm tra xem có phải đây là trò đùa trẻ con không. Hình như khi trở về, mặt họ trắng bệch như hoa huệ tây.

- Ít ra cũng phải có bác sĩ đến chứ? Brolin hỏi.

- Có, bác sĩ kiểm tra thấy cô gái đã chết nhưng ông ấy không động chạm gì cả. Người ta chăng dây quanh khu vực đó chờ cậu đến.

- Nhưng tại sao lại là tôi? Đại úy có biết không?

- Có, khi cảnh sát Tây-Nam gọi đến, chính ông ấy đã bảo tôi gọi cậu tới.

Brolin không hiểu đồng nghiệp của anh muốn gì nữa. Anh đang trong một cuộc điều tra mà lại bị gọi đến hiện trường một vụ án, vượt quá thẩm quyền thông thường của anh.

- Anh có thể giải thích cụ thể tại sao tôi lại phải đến đây được không? Brolin đề nghị.

Sanhindro nhìn lướt qua người cảnh sát mặc sắc phục bên cạnh rồi đáp:

- Cậu phải nhìn tận mắt, nếu không cậu sẽ không bao giờ tin tôi.

Cách đó khoảng một trăm mét trong rừng, một sợi dây an ninh được chăng giữa các thân cây để ngăn người lạ vào ngôi nhà đổ nát. Vài cảnh sát đi đi lại lại, quan sát kỹ càng mặt đất rồi ghi chép. Hai người đàn ông mặc áo blouse xám của các kỹ thuật viên hiện trường vụ án, mỗi người xách một chiếc vali nặng trịch. Họ kiểm tra tỉ mỉ mặt đất quanh ngôi nhà. Một trong hai người rắc một loại bột màu vàng lên một tấm phim trong suốt dài năm mươi centimet để làm hiện lên cái gì đó giống như dấu chân người trên một tảng đá.

- Các kỹ thuật viên đang chờ đèn xanh của cậu để vào trong, Sanhindro nói.

Brolin gật đầu mặc dù vẫn chưa hiểu lý do đưa anh tới đây. Không phải vì cấp bậc của anh, cũng không phải vì uy tín. Anh không có ô dù gì từ cấp trên để người ta phải cử anh tới một cuộc điều tra nhạy cảm. Quả thực anh là một trong những cảnh sát hiếm hoi, thậm chí là người duy nhất đủ khả năng dựng lại tâm lý của kẻ sát nhân nhờ các yếu tố trên hiện trường vụ án, nhưng sao lại bí ẩn đến thế trong trường hợp này? Anh không thấy bất cứ lý do hợp lý nào cho sự có mặt của anh ở đây. Thế nhưng tất cả mọi người nhìn anh cứ như sự hiện diện của anh mang tính chất quyết định. Một sĩ quan mặc sắc phục đến gần anh.

- Mọi người đang đợi anh, thanh tra Brolin, tôi là trung úy Horner của quận Tây-Nam. Chúng tôi đang định giao vụ này cho một tổ điều tra của chúng tôi thì hạ sĩ Faulings miêu tả lại nạn nhân.

Brolin chợt nghĩ tới Juliette. Tim anh đập nhanh khi nghĩ tới hình ảnh khuôn mặt cô đầy máu. Không thể nào, không một ai biết chuyện anh và Juliette gặp gỡ nhau, cảnh sát Tây-Nam lại càng không.

- Có chuyện gì vậy? Brolin sốt ruột. Điều gì khiến các anh nghĩ đến tôi?

Viên sĩ quan và Salhindro nhìn nhau vẻ thấu hiểu.

- Nạn nhân…

Salhindro khoát tay ra hiệu không cần giải thích.

- Lại đây xem, Josh.

Rồi ông kéo anh đến cạnh ngôi nhà sắp đổ. Salhindro lấy chiếc đèn pin Mag-Lite ra rồi bật lên.

Brolin nghe thấy tiếng kêu vù vù. Hai người đứng yên trước một lỗ hổng trên tường. Cây thường xuân bò trên đá, tỏa ra nhiều nhánh dài đến mức che phủ một phần lối vào duy nhất. Nhìn từ vị trí của mình, Brolin có cảm giác khó chịu vì đứng trên bậu của một cái miệng há rộng đang kiên nhẫn chờ đợi người ta đút thức ăn vào qua đám dây thường xuân.

Một mùi chua sộc vào mũi anh. Mùi bốc ra khiến Brolin không thể đoán sai về thứ đang đợi anh ở bên trong. Anh nhớ tới liên tưởng kinh tởm của mình khi lần đầu tiên hít phải hơi bốc ra từ một xác chết, anh đã so sánh nó với mùi rắm thối của người bệnh. Nhưngđiều đó chưa bao giờ khiến anh buồn cười, mà ngược lại.

Salhindro cúi người và biến mất vào trong lỗ hổng, Brolin theo sát phía sau. Họ rời khỏi ánh sáng để chìm sâu vào bóng tối của cái miệng đen ngòm. Mùi thối càng nặng hơn như thể thứ mùi tởm lợm này bị đóng kín quá lâu trong các bức tường không được thông gió. Brolin bật ho vì kinh tởm, ngay sau đó đồng nghiệp của anh cũng phải làm như vậy.

Ánh sáng đèn pin chiếu xuống nền đất để tránh các mảnh vỡ. Họ bước trên một sàn gỗ cũ bị phồng lên và mối mọt đục ruỗng, trên sàn sinh sống đủ loại động thực vật ký sinh. Không khí nặng nề, có xác chết, Brolin nghĩ. Bị dây leo che lấp một phần, nên lỗ hổng mà họ vừa chui vào không nhận được nhiều ánh sáng xuyên qua, họ không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì. Cửa ra vào và cửa sổ đều bị bịt lại bằng đá, kiểu như người ta tìm cách bịt kín mít ngôi nhà, làm cho nó giống như một ngôi nhà mồ.

Đi được vài mét, hai người bị bóng tối vây quanh, chỉ có chiếc đèn Mag-Lite của Salhindro dẫn đường. Họ tiến vào rất chậm. thỉnh thoảng đèn quét lên tường và Brolin thấy tường bị một lớp hơi nước ấm bao phủ, trên tường mọc đầy rêu và nấm hình củ hành. Nền nhà lổm nhổm đá, vỏ chai bia bị vứt bỏ từ lâu và những mẩu xà gỗ bị mối xông.

Tiếng vù vù càng mạnh hơn, giống như tiếng máy biến áp của khu vực.

Mắt Brolin bắt đầu quen với bóng tối, vì thế chùm ánh sáng yếu ớt mà Salhindro chiếu trước mặt họ giờ đây đã đủ với anh. Nhưng tất cả xung quanh là hư không, màu đen tuyệt đối bao phủ một lớp dày lên ngôi nhà, chỉ duy nhất ánh đèn pin mở ra một lỗ hổng thực tế vào trong hư vô. Họ thận trọng tiến vào môi trường mù tịt này, trong một bề mặt phẳng toàn màu đen và chỉ tồn tại nhờ tia sáng mờ hơi nước phát ra từ đèn. Giống như họ đang ở xa tất cả, lạc lối dưới đáy một vực thẳm tăm tối, cách biệt với thế giới. Không một âm thanh nào lọt vào ngoại trừ tiếng vù vù không ngớt mà họ đang tiến gần tới. Mùi thối càng lúc càng siết chặt lấy họ, quấn những cánh tay phát buồn nôn của nó quanh các giác quan đang trở nên ngán ngẩm của họ. Brolin nghe rõ hơi thở của đồng nghiệp của anh trong không khí ô nhiễm nặng và tập trung chú ý vào những gì anh thấy đằng trước.

Một tiếng nấc nhẹ vang lên từ phía dưới nhà, đúng lúc đó chân Brolin thụt xuống dưới những thanh gỗ lát sàn cũ kỹ, rơi vào một ổ gà mọc đầy thực vật. Một cái đinh gỉ xuyên qua ống quần anh và đâm vào mắt cá chân.

Brolin giơ tay ra bám và túm phải đường ống của một lò sưởi cũ. Ngay lập tức anh nhận thấy đám bọ đất lúc nhúc trên tay.

- Có sao không? Salhindro hỏi và chiếu đèn vào anh.

- Không sao, nhưng tôi rất ghét lũ sâu bọ này, Brolin kêu lên, tay lắc lắc để rũ chúng ra.

Anh nhẹ nhàng rút chân ra khỏi cái hố và sờ nắn mắt cá chân đang đau nhói.

- Khốn kiếp, tôi bị đứt chân rồi.

Một thứ chất lỏng ấm chảy giữa các ngón tay anh.

- Gần tới nơi rồi, cô gái nằm ở sau bức tường cuối cùng.

Nghe giọng Salhindro, Brolin chợt nhận ra rằng họ nói rất nhỏ , cứ như nơi này khiến họ lo sợ hay phải thể hiện thái độ tôn trọng đặc biệt.

Đúng là một nhà mồ, anh nhận xét.

Họ lại thận trọng bước tiếp, ván gỗ dưới chân kêu lạo xạo. Từng quân đoàn nhện thực sự đã xâm chiếm ngôi nhà. Brolin chưa từng nhìn thấy nhiều nhện như vậy trong một không gian nhỏ như thế này. Các bức tường được bao phủ một lớp mạng mỏng rất nhẹ, rung rinh theo gió, trên đó những bóng đen nhỏ tám chân chạy đi chạy lại. Phải đến một trăm con. Từ con nhỏ nhất đến những con lớn hơn, to bằng cái đĩa lót tách. Chúng chạy trên lớp mạng tơ, rình rập như loài săn mồi đói khát. Càng lúc Brolin càng thấy thêm ngột ngạt vì hơi ẩm của bóng tối, dường như anh cảm giác thấy hàng nghìn con côn trùng lướt qua người và sắp chạm vào da anh. Càng vào sâu, anh càng khâm phục cậu bé đã phát hiện ra cái xác. Cậu hẳn phải đặc biệt dũng cảm mới vào sâu được trong nhà mồ ảm đạm này. Mặc dù anh biết rằng đôi khi trẻ con kém nhạy cảm hơn nhiều so với điều mà người ta thường tưởng tượng. Chỉ có trí tò mò cộng thêm nỗi sợ ghê gớm mới có thể khiến cậu bé đó tiến sâu đến thế vào bóng tối.

Ánh đèn dừng lại một lát trên một lớp chất màu cam dày trông giống như thạch. Một loại chất do cây nấm màu đỏ hung tiết ra.

Khắp nơi, các yếu tố liên kết với nhau gây cảm tưởng đây là một nhà kho ngổn ngang, lúc nhúc côn trùng, và mùi thối của người không ngừng tấn công khứu giác họ.

Qua một bức tường đầy côn trùng, Salhindro dừng lại và đặt tay lên cánh tay của Brolin.

- Cảnh tượng không dễ chịu đâu, ông cảnh cáo bằng giọng vô hồn.

Ánh sáng đèn pin lia trong không khí bụi bậm và chĩa vào trước mặt họ, trên nền nhà.

Cô gái nằm đó.

Mặc cho ruồi bay vù vù xung quanh.

Một tia mặt trời rất mảnh xuyên qua kẽ hở giữa hai viên đá trên tường và chiếu lên phần đùi trần trụi của cô, nhấn mạnh thêm sắc nhợt nhạt của làn da lạnh. Vài chiếc lông màu vàng dựng đứng trên cẳng chân đã cứng lại như đá, hoàn toàn bất động, cố định vào thời gian.

Đèn chiếu lên thân thể cô gái.

Cô hoàn toàn trần trụi, nằm giữa một quầng đen rộng trên nền nhà. Hàng chục con ruồi bâu quanh các hốc tự nhiên và không tự nhiên trên mặt cô, đậu ở đó vài giây đủ để đẻ trứng.

Khi mắt Brolin nhìn lên trên phần đùi, anh không thể kìm cơn buồn nôn.

Một cán dao nhô lên từ chỗ kín của cô, một dòng chảy nhỏ đã khô dưới môi âm hộ. Một con vật to đen sì bỗng hiện ra dưới cán dao, duỗi các chân của nó để nhảy ra khỏi cái thây to lớn mà nó tha hồ đánh chén cùng hàng trăm tên tòng phạm.

- Ôi trời! Brolin thốt lên, một tay che miệng.

Ánh đèn lướt trên thân thể, và Josh Brolin hiểu tại sao anh lại ở đây.

Cô gái nằm giữa đám côn trùng lúc nhúc đang rỉa cô từ bên trong kia không còn cả hai cánh tay. Bị chặt đến nang khuỷu.

Tệ hơn nữa, trán cô chỉ còn là một đống thịt nhão như bị đổ axit.

Dấu ấn của Đao phủ Portland.

Một kẻ đã chết.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 9

Juliette mở khóa cửa và bước vào nhà. Cô bấm mật mã để tắt chuông báo động và đặt đồ của mình xuống ghế sofa. Một ngày ở trường thật dài và mệt nhọc, cô phải chạy từ giảng đường này sang giảng đường khác rồi cuối cùng giam chặt mình năm giờ đồng hồ liền trong thư viện để viết luận văn tốt nghiệp. Giờ đây, cô chỉ muốn một buổi tối thật yên tĩnh trước tivi với một khay đồ ăn.

Trong ngày, có một lá thư của bố mẹ cô gửi đến, mẹ cô kể rằng họ định mua một căn nhà chứ không thuê nữa, có nghĩa là họ sẽ không trở về đây trong tương lai gần. Lá thư ngập tràn tâm trạng vui vẻ, đầy nắng. San Diego, Juliette nghĩ thế và tưởng tượng ra mẹ cô vô cùng khỏe khoắn. Bà Alice Lafayette cố gắng về Portland mỗi tháng một đợt cuối tuần để thăm con gái, thỉnh thoảng ông Ted cùng đi với bà nếu công ty nơi ông làm việc cho phép ông nghỉ ngày thứ Bảy. Nhưng nói chung, Juliette không cảm thấy quá cô đơn. Thậm chí cô còn thích thú vì được sống theo cách mình thích, ở tuổi hai mươi tư, cô có thể đảm đương mọi việc không chút khó khăn. Cô nói chuyện điện thoại với mẹ hai lần mỗi tuần, còn cô bạn tốt nhất Camelia sống không xa nhà cô.

Không, thật ra cô không hề thích trở lại cuộc sống gia đình "bình thường". Vụ bắt cóc năm ngoái đã khiếm cô trở nên đa nghi hơn, nhưng không thay đổi được cách sống của cô. Điều cốt lõi nhất mà cô thu được trong các buổi chữa trị hỗ trợ là học cách chấp nhận những gì đã qua. Nhất là không tự giam mình như con sò với tấm thảm kịch, ngược lại, phải cởi mở và hiểu rằng mình đã bị tấn công, bị suy sụp, nhưng điều đó không ngăn cản được mình sống tốt, sống cân bằng. Và cô đã làm như thế, Juliette đã khóc rất lâu, trút hết nỗi sợ vào nước mắt để tự gây dựng cho mình một niềm tin trên niềm vui còn được sống. Tên tàn ác đó đã chết, hắn không thể cảm thấy thích thú vì đã hủy hoại cuộc đời cô được nữa. Trong những tuần đầu tiên sau vụ việc, cô rất nhiều lần nhớ tới cảnh tượng kề cận cái chết và rất khó ngủ, cô đau khổ và không làm chủ được mình. Bộ phận hỗ trợ tâm lý cho rằng cô bị stress hậu chấn thương cấp, giải thích cho cô về các triệu chứng, cụ thể là nhớ lại cảnh tượng đó hoặc mất ngủ, họ đã cùng cô tập luyện để giảm dần cơn stress do chấn thương này. Cô đã được giải thích về các giai đoạn, và cô hiểu rằng giờ đây mình đã lấy lại được cân bằng. Nhưng khả năng một cơn stress "xuất hiện muộn", như họ nói, là luôn luôn hiện hữu, vì thế cô phải cảnh giác, và không bao giờ cho phép bản thân quá dễ dãi hay quá ủ rũ. Brolin đã giúp đỡ cô lúc đầu, trong những năm tháng đầu tiên, anh thường tới thăm cô, lần nào cũng mang theo một món quà nhỏ, thật là dễ thương. Rồi dần dần, Brolin bị cuốn vào một cuộc điều tra, và họ ít gặp nhau hơn. Tháng này qua tháng khác, các cuộc gặp gỡ thưa dần, rồi hết hẳn, ngoài ý muốn của họ. Giống như khi người ta lúc nào cũng muốn báo tin cho bạn học cũ, nhưng lại luôn trì hoãn cho tới khi mất hết thông tin về họ.

Sau thảm kịch, bố mẹ cô về ở Portland trong nhiều tuần. Được Camelia và bố mẹ động viên, Juliette đã bình phục và cuối cùng lại trở về là con người đơn độc như trước đây. Thậm chí cô đã phải nài nỉ để bố mẹ mình chịu trở lại San Diego sau hơn một tháng rưỡi đưa cô đi chữa trị. Cô thích sự bình yên, trong nhà chỉ có một mình cô, giờ giấc sinh hoạt không bị bó buộc, không phải giải thích lý do.

Nhưng bước ngoặt lớn của cuộc đời cũng để lại hậu quả trong hành vi của cô. Cô ít do dự hơn. Trước đây, chưa bao giờ cô có thể gọi điện cho Joshua Brolin như cô vừa mới làm để đề nghị anh ở bên cô một lúc. Cô hiểu rằng mình cần phải chiến thắng tính nhút nhát, rằng cuộc sống cần đến điều không to tát và đôi khi nhất thiết phải cứng rắn lên. Tối hôm đó, cảm giác buồn trào dâng trong cô, và Brolin đã cho cô một niềm an ủi thực sự. Nghĩ lại chuyện đó, cô hiểu rằng không chỉ vì anh đã có mặt hôm ấy, mà còn vì anh mang tới ngôi nhà một điều gì đó, một hình bóng đàn ông mà cô chưa bao giờ nghĩ rằng mình cảm nhận được. Với chút hài hước và giọng nói trầm, anh là một người dễ chịu và buổi tối hôm ấy để lại trong Juliette chút tình cảm luyến tiếc êm dịu.

Đột nhiên cô nhận thấy mình thích nghĩ đến Brolin, muốn gặp lại anh, thích sự hiện diện khiến người khác yên tâm của anh, và ngủ thanh thản như lần vừa rồi.

"Mình trở nên phóng khoáng quá rồi, cô tự nhủ. Nếu mình kể chuyện này với Camelia, chị ấy sẽ nói đi nói lại là mình đang trượt trên dốc tình yêu."

Nghĩ thật kỹ, Juliette không thể tin nổi. Không phải là cô đang yêu Joshua Brolin, đó chỉ là một dạng tình cảm quyến luyến sau sự việc xảy ra. Họ không gặp nhau từ nhiều tháng nay và bỗng gặp lại sau khi chuyện mà họ trải qua đã tạo nên mối liên hệ, điều đó quá rõ ràng. Nhưng dù sao thì sự cách biệt tuổi tác cũng quá lớn, anh đã ngoài ba mươi tuổi, cô lấy làm phiền lòng. Lại một lần nữa, giọng Camelia vang lên trong đầu cô: "Món ngon nhất là món nấu trong nồi cũ." Juliette lắc đầu để xua đi những ý nghĩ đó, cô không muốn nghĩ đến chuyện này nữa.

Cô vớ lấy chiếc điều khiển và bật tivi lên để tạo cảm giác có người trong nhà. Kiểu hiện diện lạnh lùng choán đầy bầu không khí im lặng mà không tỏ ra sỗ sàng, cô thích như thế.

Không cần nhìn xem đang có gì trên tivi, Juliette đi vào bếp để mang khay đồ ăn gì đó ra nhấm nháp.

Cả quãng thời gian đầu buổi tối, cô ngồi trên ghế sofa và ăn trước một bộ phim video không hấp dẫn lắm. Đang say sưa nhìn thụ động vào màn hình, cô bỗng bật dậy khi tiếng chuông cửa xé toạc không khí.

Gần chín giờ tối.

Juliette vội vã đứng dậy, đầu óc cô trở nên quay cuồng. Cô phải dựa vào tường để cơn rối loạn này qua đi, rồi lại gần cửa ra vào. Ô cửa nhỏ trên cao chỉ để lọt vào màu đen của đêm. Đèn ở thềm cửa không sáng, cô quên thay bóng đèn.

- Ai đấy? Juliette hỏi, cố làm ra giọng rắn rỏi hơn.

- Camelia đây.

Juliette yên tâm mở chốt và mở cửa. Camelia đứng trên tấm thảm chùi chân, ánh mắt hoảng hốt, nét mặt căng thẳng. Juliette nhận ra ngay có điều gì đó không ổn, cô hỏi:

- Gì thế hả chị? Có chuyện gì sao?

- Chị vào được không?

Juliette xin lỗi và để chị bạn vào hẳn trong sảnh.

- Chắc là em không xem tin tức, Camelia nói. Vừa nghe được tin đó, chị chạy đi ngay, chị không muốn để em một mình.

- Nhưng chị nói gì thế? Có chuyện gì xảy ra vậy? Juliette hỏi, cảm thấy một nỗi sợ mơ hồ bỗng hiện ra từ hư vô và xâm chiếm cô.

- Lại đây.

Camelia kéo Juliette vào phòng khách và mở kênh truyền hình của vùng. Bản tin đang phát đi hình ảnh của một trong các phóng viên đứng ở bìa rừng, mặc dù có ánh đèn của camera, người ta vẫn thấy rõ bóng đêm xung quanh.

"…Cuối buổi chiều hôm nay, một thiếu niên đã tìm thấy cái xác và cảnh sát vẫn còn ở hiện trường vào lúc tôi nói với các bạn. Cái xác bị chặt dã man, và một nguồn tin chưa được cảnh sát xác nhận nói về sự giống nhau đáng kinh ngạc với những vụ do Đao phủ Portland gây ra trong vùng cách đây hơn một năm."

Juliette rùng mình, hai bàn tay cô run lên.

"Trên thực tế, dường như nạn nhân bị chặt mất hai cánh tay, mặc dù thông tin này chưa được cảnh sát xác nhận. Chúng tôi nhắc lại rằng Leland Beaumont, tức Đao phủ Portland, đã chết…"

Camelia tắt tivi rồi lại gần Juliette. Cô đặt tay lên lưng Juliette.

- Chị không muốn em nghe tin này một mình, ngay cả khi câu chuyện giờ đây đã lùi xa, chị biết em…

Một tiếng thở dài dâng lên trong lồng ngực Juliette, cố bình tĩnh thở ra.

- Đó là một kẻ điên mắc bệnh thích bắt chước, Leland Beaumont đã chết vì một phát đạn trúng đầu, cô thì thầm.

- Đúng… Chị muốn chắc chắn rằng mọi chuyện vẫn ổn, đó là một kiểu tin…

- Sẽ ổn thôi, Juliette động viên.

Camelia chăm chú nhìn vào màu xanh trong mắt cô bạn mình cố tìm kiếm ở đó sự thực. Rồi cô đề xuất:

- Hay là chị đi pha một ít trà nhé?

Juliette khẽ mỉm cười, gật đầu.
 

hoahongden12

Active Member
Linh Hồn Ác
Chương 10

- Tôi hiểu, thưa đại úy. Vâng. Brolin cúp máy và nhét điện thoại di động vào túi áo vest.

Salhindro ở ngay sau lưng anh, trong tư thế ưa thích nhất: ngồi trên capô của chiếc xe khoang.

- Thế nào, đại úy bảo gì? Salhindro hỏi.

- Bảo rằng tôi thôi điều tra cái xác cháy để chuyển sang vụ này.

Brolin nhíu mày, hơi bực mình.

- Tôi đoán là ông ấy yêu cầu tôi trở về.

Brolin lắc đầu.

- Tôi nghĩ là ông ấy thích kết thúc câu chuyện ghê tởm này một cách nhanh nhất trước khi báo chí kịp nhảy vào. Nhưng ông ấy không nói gì về anh cả. Anh có thể trở về nếu muốn, tôi sẽ làm vụ này.

Salhindro đứng dậy.

- Trở về để ôm ấp ai? Lũ chuột trong nhà kho hay trong hang? Thôi đi, chúng ta có nhiều việc để làm.

Ngày đã đốt cháy những tia sáng cuối cùng của nó cách đây hai giờ. Đằng xa, hai người khiêng một cái cáng qua những thân cây, đi theo đường dích dắc giữa loạt đèn chiếu đặt trên giá đỡ ba chân. Mấy kỹ thuật viên sắp xếp nốt các ghi chép và sơ đồ của mình trước khi lên xe trở về. Brolin ngắm nhìn cảnh tượng siêu thực ấy: những chiếc đèn chiếu siêu công suất giữa rừng và khi rừng thưa ngập trong ánh sáng đỏ rực của đèn pha, ánh đèn flash từ máy ảnh của cảnh sát và tiếng lạo xạo của điện đài trong chiếc xe khoang.

Miệng anh khô lại. Những phút dài ở trong ngôi nhà hoang cùng với xác chết để khám nghiệm. Việc đầu tiên mà anh làm sau khi tìm ra cái xác là xác định thời điểm chết một cách gần đúng. Xác đã cứng lại hoàn toàn. Brolin biết rằng hiện tượng đó (kết quả của sự co cơ sau khi chết do tác động hóa học) thường diễn ra trọn vẹn mười hai giờ sau khi chết và biến mất sau hai ngày, có nghĩa là trong trường hợp này, cô gái đã chết cách đây ít nhất mười hai giờ và nhiều nhất là bốn mươi tám giờ. Tức là chỉ mới xảy ra.

Sau cuộc viếng thăm rùng rợn, Brolin đã mời đến đây hai kỹ thuật viên hiện trường vụ án, Scott Scacci và Craig Nova. Lúc đầu, hai người này mang một tổ máy phát điện tới cạnh ngôi nhà hoang để có thể lắp đặt những bóng đèn halogen công suất cao. Rồi họ chuyển sang xem xét tỉ mỉ bên trong ngôi nhà đổ nát. Vô số dụng cụ được dùng tới: đèn Polilight để phát hiện mọi dấu vết sinh học, máy in tĩnh điện để tìm vết chân, ninhydrin, nitrat bạc, màu đe amido và màu tím kết tinh để phát hiện vân tay… Nhưng hiện trường hầu như không còn nguyên vẹn, đầu tiên vì có cậu bé đã tìm thấy xác, rồi đến hai cảnh sát và bác sĩ trước khi Brolin và Salhindro vào. Lại thêm nhiều người khác đã từng vào đây vì có rất nhiều rác đủ loại bị vứt vào những thời điểm khác nhau đang chất đống ở đó. Craig và Scott lấy được nhiều mẫu phẩm cho vào những túi nhựa nhỏ, bao gồm tóc, lông và nhiều chất hữu cơ khác nhau vẫn chưa xác định được, và chụp hiện trường dưới tất cả các góc độ bằng máy Polaroid CU-5, chiếc máy ảnh phát ra hàng trăm tia sáng mỗi khi sử dụng. Những cây cà rốt cũng được mang đi để nhà côn trùng học phân tích xác nhận thời điểm chết nhờ nghiên cứu các côn trùng có trên xác. Brolin đang lùi về phía sau, nhưng anh đã bắt đầu ghi chép báo cáo. Trong cảnh hỗn độn như thế này, không thể cảm nhận hết mọi thứ ở đây như anh mong muốn, anh sẽ phải quay lại đây sau, nhưng anh yêu cầu mọi người chụp tối đa ảnh ngôi nhà và nhất là cái xác trước khi chuyển đi. Hồi ở FBI, phần lớn thời gian anh nghiên cứu qua báo cáo của cảnh sát, hoặc của bác sĩ pháp y, và qua ảnh. Rất hiếm khi anh được tới hiện trường, đây là một trong những thiệt thòi chính đối với anh. Nhưng Brolin biết rằng khả năng theo cuộc điều tra từng bước một, và nhất là có mặt ở nơi nạn nhân bị giết, là yếu tố chủ yếu để dựng lại tâm lý của hung thủ. Bởi vì sau đó, anh phải bắt đầu nghĩ giống như tên giết người, cảm thấy mình như kẻ giết người để hiểu được hắn, và để làm được điều đó, không có gì tốt hơn việc đi theo hắn từ chính nơi hắn ra tay. Lúc này, Brolin đang nhìn những người khiêng cáng mang xác chết bọc trong túi đen đi, xung quanh là cả một vùng sáng giữa rừng. Craig Nova, một trong những kỹ thuật viên hiện trường, lại gần anh. Đó là một người đàn ông nhỏ con, khoảng bốn mươi tuổi, bộ tóc mọc thành vòng tròn quanh đỉnh đầu nhẵn bóng, trong hoàn cảnh này mà ông vẫn tỏ ra vui vẻ.

- Chúng tôi đã làm những việc có thể, nhưng kết quả có lẽ phải chờ lâu, có đủ thứ bẩn thỉu trong kia, ông vừa nói vừa lau trán bằng khăn mùi soa. Chúng tôi sẽ phân tích tất cả, nhưng đừng mong đợi phép màu, chúng tôi tìm thấy khá nhiều vết chân và tóc, đủ để cậu phải mất vài ngày đọc báo cáo. Đống đổ nát này đã bị quá nhiều người ra vào.

Brolin thở dài. Đoạn đầu của một cuộc điều tra dường như bao giờ cũng lộn xộn, phải sắp xếp trật tự mọi thứ mà không có một yếu tố cụ thể nào dù là nhỏ nhất. Sau khi đọc những báo cáo đầu tiên, các hướng điều tra sẽ được mở ra, ít nhất anh cũng hy vọng như thế.

- Nhưng tôi đã có thể cho cậu một nhận định về thời gian chết, Craig nói tiếp.

Ông lấy từ một trong những cái túi to trên bộ quần áo liền quần ra một cuốn sổ nhỏ và một cuốn nữa đầy các sơ đồ và hình vẽ phức tạp.

- Đây…đây. Thế này, trước khi lấy nhiệt độ bằng cặp nhiệt điện, chúng tôi đã kiểm tra thấy cô gái không bị tổn thương ở rìa hậu môn. Tôi không phải là bác sĩ pháp y, nhưng ít nhất tôi cũng có thể nói với cậu rằng cô gái không bị hiếp dâm qua đường hậu môn. Tôi vừa gọi điện cho trạm khí tượng Portland, họ cho biết nhiệt độ trung bình ở đây là 22oC trong vòng bốn mươi tám tiếng vừa qua, ít biến động.

Brolin thuộc lòng quy trình khám nghiệm, cụ thể là kết hợp các dữ liệu khác nhau liên quan đến khoảng cách nhiệt độ và trọng lượng cơ thể: bằng cách điều chỉnh chúng theo những yếu tố hiệu chỉnh phức tạp, người ta có thể phỏng đoán gần đúng về giờ chết. Khác với những gì thường thấy trên phim, việc xác định thời điểm chết không có gì là dễ dàng cả mà hoàn toàn ngược lại, đó là một nghệ thuật thường dễ gặp nhiều sai sót.

Craig Nova nói tiếp:

- Chúng tôi ước đoán trọng lượng của nạn nhân là năm mươi lăm cân và nhiệt độ ở hậu môn là 26oC. Dựa vào tình trạng lão hóa thể của nạn nhân, điều kiện ẩm ướt của môi trường…

Craig Nova mở cuốn sổ để tìm đường biến thiên mẫu và các barem điều chỉnh. Anh vạch ra ba nét bút chì rồi gật đầu, mắt nhìn chiếc đồng hồ đang chỉ quá hai mươi hai tiếng.

- Hai mươi tiếng. Với sai số, chúng ta có thể ước đoán rằng cô gái chết đêm hôm qua, khoảng từ nửa đêm đến bốn giờ sáng. Điều này khớp với độ cứng của xác. Như vậy, cô gái đã mất tích vào đêm hôm trước, điểm này sẽ giúp xác định nhân thân, trừ khi cô bị giam giữ trong nhiều ngày, nhưng khả năng đó ít xảy ra vì không có dây trói hay vết trói ở cổ chân.

Craig bật ngón tay.

- Suýt nữa tôi quên mất.

Anh lấy ra một tập ảnh chụp khuôn mặt nạn nhân bằng máy Polaroid chất lượng tốt.

- Để bước đầu nhận dạng, anh nói.

Brolin cầm lấy tập ảnh và nhét vào túi.

- OK, cám ơn anh Craig, nhớ thông báo cho tôi trong thời gian nhanh nhất có thể.

- Nhưng Carl DiMestro phụ trách việc này.

Craig vẫy tay và nói thêm pha chút mỉa mai:

- Chúc ngủ ngon.

Rồi anh biến vào chiếc xe của mình, ở đó một trợ lý đang sắp xếp nốt những chiếc vali to đựng thiết bị.

Brolin quay lại và thấy Salhindro đang hăng hái nói chuyện với sĩ quan Horner. Hẳn là ông đang giải thích cho Horner rằng do hoàn cảnh, nên cuộc điều tra sẽ không được giao cho họ, rằng thanh tra Brolin sẽ đảm nhận vụ này. Chương trình quá lớn, mới chỉ có mặt ở đây chưa tới ba giờ đồng hồ, nhưng anh đã cảm nhận được đây là một công việc khó khăn. Brolin đã đi quanh cái xác, quan sát kỹ càng và thấy rõ ràng nó rất giống với các nạn nhân của Đao phủ. Nhưng Leland Beaumont đã nằm sâu dưới ba tấc đất từ mười hai tháng nay. Hắn đã làm mồi cho giun. Thế nhưng hắn lại tạo ra một đối thủ, không nghi ngờ gì nữa, đây là một cách thể hiện lòng ngưỡng mộ. Hung thủ gây ra vụ này muốn cho tất cả mọi người thấy rằng hắn đánh giá cao "tác phẩm" của Leland Beaumont. Trong tiếng lóng người ta thường gọi kẻ đó là copycat - nghĩa là "người bắt chước" - một kiểu sát nhân hàng loạt cực kỳ hiếm nhưng thường rất nguy hiểm. Những kẻ này còn đáng sợ hơn bởi động cơ của chúng thường bắt nguồn từ sự mê cuồng ghen tỵ đối với một kẻ giết người nổi tiếng, dẫn đến việc có nhu cầu giết người theo cách tương tự, nhưng muốn vượt qua "bậc thầy" về số lượng nạn nhân. Mà Đao phủ Portland mới chỉ dừng lại ở con số ba.

Brolin lắc đầu, vẫn còn quá sớm để đưa ra bất kỳ kết luận nào. Anh còn phải nghiên cứu tỉ mỉ báo cáo pháp y cùng với các bức ảnh chụp nạn nhân tại hiện trường.

Cảm thấy mọi người chờ đợi nhiều ở năng lực của mình, vị bác sĩ pháp y đã đưa ra những nhận xét đầu tiên tiến lại gần Brolin. Người này làm việc cho bác sĩ Folstom, giống như tất cả các bác sĩ pháp y khác trong thành phố. Nghĩ vậy, Brolin không thể nhịn cười thầm, anh nhớ lại khuôn mặt người đứng đầu cơ quan pháp y khi anh thông báo rằng anh phải đi ngay.

- Chắc Craig đã nói với anh rồi, chúng tôi đã ước đoán thời điểm chết. Tất nhiên là chúng ta sẽ biết rõ hơn sau khi giải phẫu tử thi.

Bác sĩ pháp y ngần ngừ như muốn xem có ai nghe trộm họ không rồi nói thêm:

- Anh đã thấy thứ được dùng để đâm vào giữa hai đùi cô ấy chưa?

Brolin gật đầu, mắt nhìn chăm chú.

- Đồ điên nào có thể làm chuyện như thế cơ chứ? Bác sĩ pháp y thốt lên.

- Một thằng điên khốn kiếp! Salhindro vừa tiến đến gần hai người, vừa bực tức nói. Một thằng điên khốn kiếp!

Đằng xa, có tiếng cánh cửa ô tô đập mạnh, nhiều xe bắt đầu rời khỏi hiện trường.

- Ngày mai, chúng tôi sẽ mổ xác, có lẽ vào buổi chiều, anh sẽ tham dự ca giải phẫu chứ? Bác sĩ hỏi.

Salhindro lẩm bẩm:

- Cứ làm như những gì đã thấy vẫn còn chưa đủ!

- Tôi sẽ tới. Nhờ anh nói với bác sĩ pháp y sẽ giải phẫu đợi tôi, tôi sẽ qua lúc đầu giờ chiều, Brolin đáp bằng giọng vô hồn.

Có mặt trong ca giải phẫu tử thi chỉ có thể có lợi cho anh để hiểu cơ chế của kẻ giết người. Hơn là chỉ đọc báo cáo, anh sẽ tận mắt theo dõi quá trình tái tạo các sự kiện, mỗi vết thương gắn liền với một hành động của kẻ giết người, rồi sau đó với một cảm xúc. Anh không hề thích công việc này, anh biết vì đã thấy một số người bị các cuộc giải phẫu tử thi gây ấn tượng khó chịu đối với võng mạc mắt, một sự khó chịu bệnh hoạn in sâu vào tâm trí và tới ám ảnh những đêm sau đó."Đúng là tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa", anh nghĩ khi nhớ lại việc mình khéo léo né tránh báo cáo của bác sĩ Folstom lúc cuối buổi chiều.

Salhindro nhìn anh, mắt mở to.

- Dù thế nào đi nữa, nếu sếp biết tôi theo cậu tới đó, ông ấy sẽ chuyển tôi sang làm việc phân loại thư từ, ông nói. Rất tiếc, nhưng cậu phải đi một mình thôi, anh bạn ạ.

Bác sĩ pháp y chỉ về phía chiếc xe cứu thương đang đợi ở đằng xa.

- Tôi phải đưa cái xác vào ngăn lạnh đây, tôi sẽ báo tin cho anh về ca giải phẫu tử thi, bác sĩ nói rồi đi về phía chiếc xe.

Salhindro vẫn nhìn Brolin, Brolin không động đậy, rõ ràng anh đang tập trung vào suy nghĩ của mình.

- Cái gì luẩn quẩn trong đầu cậu thế? Salhindro vừa hỏi vừa kéo thắt lưng quanh cái bụng bệ vệ của mình.

Một làn gió vừa thổi tới, đêm chậm rãi khoác lên khu rừng lớp áo choàng mát lạnh. Những chiếc đèn pha cuối cùng đã rời xa khiến hai người đàn ông chìm trong bóng tối dưới ánh sáng tù mù của đèn trên trần xe Mustang. Có sự tương phản rõ rệt giữa bầu không khí tịch mịch đang dần trở lại và sự náo động trong khu rừng suốt vài giờ vừa qua. Những chiếc đèn chiếu công suất lớn đã biến mất, và cùng với chúng là ánh sáng vô liêm sỉ trên hiện trường vụ án. Từ lúc này, thiên nhiên thận trọng lấy lại quyền của mình, dần dần phủ xuống lớp màn tối tăm và bí ẩn.

Vài giây sau Brolin mới trả lời:

- Kẻ gây ra vụ này. Tôi đang tự hỏi hắn có thể đang làm gì vào chính lúc này đây…
 

hoahongden12

Active Member

Brolin bị rát hai bên má mới cạo vì thứ nước hoa Cologne mà anh dùng. Sau giấc ngủ chỉ kéo dài 5 tiếng, anh tới trụ sở cảnh sát trung tâm lúc bảy giờ rưỡi, sạch sẽ tươm tất, nhưng chưa hoàn toàn tỉnh táo. Anh không thích có mặt lâu ở tầng trệt nên vội vã chui vào thang máy để tránh tiếng kêu la của những kẻ bị bắt trong đêm. Ở tầng 6, Phòng điều tra tội phạm, không khí khá yên tĩnh hơn - ít nhất là bề ngoài. Không cần đi qua phòng làm việc của mình, Brolin tới thẳng phòng nhận dạng. Cách đây vài tiếng, trước khi về nhà, anh đã qua đây để lại mấy tấm ảnh chụp nạn nhân bằng máy Palaroid cho họ so sánh chúng với hồ sơ người mất tích.

Max Leirner đang trực, cũng chính anh ấy đã nhận tập ảnh lúc nửa đêm. Thấy Brolin bước vào, một nét nhăn thất vọng hiện lên trên khuôn mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi của Leirner.

- Rất tiếc, nhưng tôi chẳng tìm thấy gì cả. Tôi đã so sánh với tất cả hồ sơ và với hồ sơ của đội vị thành niên, nhưng không thu được gì, Leirner trình bày ngay, không kịp để Brolin kịp nói.

- Cậu đã so sánh với hồ sơ quốc gia chưa? Brolin hỏi.

- Rồi, nhưng hiện tại chưa thấy gì.

Brolin cắn môi. Nếu cô gái sống ở California hay Idaho, chắc chắn FBI sẽ giành lấy vụ này với lý do vượt quá biên giới liên bang.

- Nhớ gọi cho tôi ngay khi cậu có tin tức gì và hãy để lại lời nhắn cho ca trực sau.

Max Leirner gật đầu, Brolin đi về phòng làm việc của mình. Anh cảm thấy căng thẳng, ngủ không ngon và biết rằng ngày hôm nay sẽ rất dài và vô vị. Hôm nay sẽ có những kết luận đầu tiên của cơ quan pháp y, của bộ phận nhận dạng và bộ phận nghiên cứu nhân chứng tiềm năng, và Brolin hiểu quá rõ điều này, thường là trong vòng 24 giờ đầu tiên, người ta đã biết được cuộc điều tra sẽ diễn ra thế nào, hoặc là một cuộc điều tra thực sự, hoặc là một tình trạng rối rắm vô tận.

Tới phòng làm việc, anh ngạc nhiên khi thấy 1 lọ bánh donut. Không cần nghĩ ngợi, anh biết ngay ai đã mang bánh đến. Salhindro không bao giờ ngủ hay sao? Hẳn ông ấy đã phải báo cáo về các cuộc tuần tra đêm với các phòng ban khác nhau của trụ sở. Trên hộp bánh có một mẩu giấy viết vội, Brolin nhận ra nét chữ quen thuộc: "Họp 8h phòng đại úy nhận chỉ thị".

Vài phút sau, anh đẩy cánh cửa mà dòng chữ "Đại úy Chamberlin" trên đó báo cho anh biết anh đang vào nơi nào. Đại úy khoảng năm mươi tuổi. Cao và gầy, ông là mẫu người dễ nóng tính, thân hình nổi cơ bắp và căng như dây đàn piano, khuôn mặt hằn những nếp nhăn run rẩy, còn môi bị hàng ria che mất. Nhưng ông biết lãnh đạo phòng một cách cứng rắn cùng một chút ân cần đủ để cấp dưới nể phục. Khi mới chân ướt chân ráo về phòng này, Brolin đã biết rằng anh hợp với ông, và mặc dù giữa họ chưa bao giờ có mối quan hệ thân thiết, nhưng hai năm làm việc ở đây đã khẳng định cảm giác ấy của anh.

Nhiều người đã có mặt trong phòng, và mặc dù mới là đầu giờ sáng, nhưng mùi thuốc lá đã nồng nặc trên đầu mọi nguời. Xung quanh đại úy Chamberlin, trưởng phòng điều tra tội phạm, là Llyod Meats, cấp phó của ông, Salhindro, điều phối viên giữa các thanh tra và cảnh sát mặc sắc phục, và 2 người khác mặc com lê mà Brolin chưa bao giờ gặp. Brolin gật đầu chào tất cả mọi người và ngồi xuống trước chiếc bàn rộng.

- Thanh tra Brolin, đây là chưởng lý (1) Glieth và Bentley Cotland…

Đại úy Chamberlin ngừng vài giây để tìm từ rồi nói tiếp:

- Sẽ được bổ nhiệm làm chưởng lý trong tương lai gần. Brolin nhăn mặt khó chịu. Việc chưởng lý Glieth có mặt ở đây có thể giải thích được, dù sao ông ấy cũng nằm trong cơ quan tư pháp của thành phố, nhưng một trợ lý sắp được bổ nhiệm thì chẳng có gì để làm ở đây cả, nhất là trong một cuộc họp về điều tra. Đây không phải là một dấu hiệu tốt. Như thể khẳng định điều này, đại úy Chamberlin quay về phía Brolin:

- Họ đến đây giám sát phương pháp của chúng ta, và nhất là giúp biện lý Cotland làm quen với cách hành động của chúng ta trước khi vào vị trí mới.

Brolin thầm càu nhàu trong đầu. Sao những kẻ quan liêu này lại chỏ mũi vào công việc của anh cơ chứ. Anh sẽ có khối việc để làm đây.

Chamberlin nhận thấy được sự bực bội của Brolin và đề nghị anh im lặng bằng một ánh mắt nghiêm khắc.

Chưởng lý Glieth phát biểu, trước hết là một chính trị gia, ông ta nói bằng giọng ngọt ngào, cứng rắn nhưng không hùng hổ, và đằng sau khuôn mặt khỏe khoắn của một người ngoài bốn mươi tuổi, Brolin nhận ra sự ham hố quyền lực, tia sáng vô liêm sỉ vốn thường lóe lên trong mắt những người đầy tham vọng.

- Chúng tôi không muốn quấy rầy các anh, mà chỉ muốn bồi dưỡng thêm cho trợ lý của tôi. Tôi muốn cậu ấy làm công việc của mình với hiểu biết đầy đủ về hệ thống cảnh sát, cả lý thuyết cũng như thực tiễn. Vì thế cậu ấy sẽ làm việc với anh, thanh tra Brolin ạ, trong suốt cuộc điều tra này. Khoảng thời gian mà tôi hy vọng là sẽ không quá dài đúng không?

Brolin cảm thấy cơn tức giận đã lên đến mặt. Nhưng biết rõ ai đang đứng trước mặt mình, anh đành nén giận.

- Thưa chưởng lý Glieth, hiện giờ tôi không thể nói chính xác được, ông cũng biết rằng cuộc điều tra không giống như một kế hoạch chính trị, không được xây dựng trước một cách chi tiết. Chúng tôi sẽ tiến dần theo những chỉ dẫn mà chúng tôi sẽ khám phá ra.

Anh cảm thấy vị chưởng lý hơi bực vì những lời này, nhưng một nụ cười rất đúng kiểu chính trị hiện ra trên khuôn mặt ông ta.

- Tôi cũng phải nói thêm rằng, Brolin tiếp tục, công việc có thể nguy hiểm, và chúng tôi không thể bảo đảm an toàn cho mọi người khi…

Chưởng lý Glieth khoát tay ngắt lời.

- Bentley không đi cùng anh ra hiện trường, nhất là khi truy bắt kẻ phạm tội. Câu ấy sẽ điều tra ở phía sau, tôi chỉ đề nghị anh chấp nhận cậu ấy trong đội ngũ của anh, với tư cách là người quan sát hay học việc, tùy theo ý anh.

Đây không phải là lời đề nghị mà là mệnh lệnh, không ai bị lừa cả. Nhưng đặc biệt, Brolin nhận ra sự thân mật trong cách nói của viên chưởng lý, ông ta cứ gọi trợ lý của mình bằng tên và với giọng cha chú. Trong vài giây, anh tự hỏi mối quan hệ gì gắn kết 2 con người chênh lệch nhau đến hai mươi tuổi. Họ là họ hàng hay…Brolin dứt khỏi suy nghĩ của mình vì giọng nói của cấp trên.

- Được rồi, việc này vậy là xong, bây giờ hãy trở lại với mối quan tâm của chúng ta, đại úy Chamberlin lên tiếng, ông không muốn cuộc tranh luận trở nên căng thẳng. Sự việc như sau. Hôm qua, sau mười bảy giờ một chút, một thiếu niên đã tìm thấy xác 1 phụ nữ bị chặt hai tay, cho đến giờ vẫn chưa xác định được nhân thân. Khám nghiệm sơ bộ cho thấy cách chặt tay giống với hành động của Leland Beaumont, biệt danh là Đao phủ Portland, đối với các nạn nhân của hắn vào năm ngoái. Vì cuộc điều tra năm ngoái do thanh tra Brolin phụ trách, nên các đồng nghiệp ớ Khu Tây-Nam đã thông báo cho chúng tôi.

Chamberlin quay về phía Brolin.

- Nếu tôi không nhầm, thì anh cũng đã xác nhận đúng là cách chặt tay như thế.

Brolin gật đầu.

- Tôi còn chờ kết quả giải phẫu tử thi để chứng thực điều này chúng rất giống với hành động của Leland. Một nhát cắt rất chuẩn xác ở nang khuỷu tay, đặc biệt là vết bỏng acid trên trán. Hiện giờ, đây là điều đáng quan tâm nhất.

Bentley Cotland từ đầu đến giờ vẫn im lặng, bắt đầu lên tiếng:

- Sao thế nhỉ?

Brolin nhìn cậu ta ngay lập tức. Dù không quen nhưng anh đã biết rằng mình không thích cậu ta. Cậu ta quá tự tin, rụt cổ trong bộ com lê may đo, mái tóc rẽ thành 2 phần bằng một đường ngôi không thể chê vào đâu được. Dường như cậu ta còn quá trẻ, chỉ vừa mới ra trường. Mặc dù bản thân cũng chưa nhiều tuổi, nhưng Brolin không ngạo nghễ đến thế.

Thật là quá trẻ để được bổ nhiệm làm trợ lý chưởng lý.

- Vì không ai biết rằng Đao phủ Portland đổ acid lên trán nạn nhân các nạn nhân của hắn.

Salhindro chen vào.

- Chúng tôi luôn cố gắng giấu chi tiết này trước báo chí trong suốt cuộc điều tra, và khi vụ án khép lại, chúng tôi không nhắc đến kiểu chi tiết rùng rợn đó nữa.

Benltey Cotland không có vẻ ngạc nhiên.

- Tôi nghĩ rằng như vậy là để dễ liên tưởng . Nếu không ai ngoài các anh và tên sát nhân biết về acid, thì khi tìm thấy một cái xác có dấu vết đặc trưng đó, các anh tin chắc rằng chính hắn đã làm việc này. Có nghĩa là…Nhưng tôi tưởng Leland Beaumont đã bị bắn chết rồi chứ?

Brolin thầm thở dài. "Không thể như thế! Anh tự nhủ. Họ áp đặt cho chúng ta là một kẻ suy diễn xuất sắc. Một thằng ngốc thuộc quyền của hắn như lòng bàn tay, nhưng lại không thông minh tí nào!"

- Đúng thế, Salhindro xác nhận. Leland Beaumont đã chết và đã bị chôn.

- Vậy thì ai có thể biết về acid? Một cảnh sát ư?

Bentley Cotland hỏi, vẻ khá tự hào vì tham gia được vào phần đầu của cuộc điều tra. Brolin bắt đầu hiểu tại sao Bentley Cotland lại được giao cho họ. "Vẫn còn là một cậu ấm vừa được thả vào một môi trường mà cậu ta không biết gì và sẽ gây ra thảm họa", anh nghĩ.

- Vâng, hiện tại, chúng tôi không rút ra bất cứ kết luận vội vã nào, Chamberlin tuyên bố và nhìn tất cả mọi người. Brolin, anh phụ trách vụ này, Meats sẽ giúp anh một tay, cả Salhindro nữa, nếu anh cần người tuần tra để thám sát hiện trường.Thưa các anh, tôi muốn khép lại vụ này trong thời gian sớm nhất, và nhất là không để xảy ra sơ suất nào, với một vụ như thế này, chắc chắn báo chí không để chúng ta yên đâu. Nên không được phạm phải những điều ngu ngốc.

Ông nhìn vị chưởng lý.

- Chưởng lý Glieth, ông có muốn nói thêm gì không?

Vị chưởng lý đứng dậy.

- Tôi chỉ muốn cảm ơn vì sự hợp tác của các anh, và chúc các anh may mắn.

Ánh mắt ông ta dừng lại lâu hơn ở Brolin. Rồi ông ta chào tất cả mọi nguời và đi khỏi phòng. Những người khác cũng bắt đầu đi ra, chợt đại úy Chamberlin gọi Brolin lại.

- Vâng, thưa đại úy?

- Ở lại đây một lát, tôi muốn nói chuyện riêng với anh.

Brolin đợi tất cả đi ra hết rồi đóng cửa.

- Tôi biết là anh không muốn làm việc cùng cậu Bentley đó…

Brolin gật đầu và muốn nói nhưng Chamberlin khiến anh im lặng khi hơi cao giọng:

- …nhưng anh không có lựa chọn nào khác vì tôi cũng vậy. Bentley Cotland là cháu của chưởng lý Glieth, vì thế cậu ta được bổ nhiệm vào chức vụ đó mặc dù còn quá trẻ.

Thế là đã rõ vì sao lại có sự thân mật đến thế giữa vị chưởng lý và anh chàng biện lý trẻ tuổi. Brolin lắc đầu vì bực tức, đại úy Chamberlin nói tiếp:

- Glieth làm mưa làm gió ở thành phố này, người ta đồn rằng ông ta khống chế được ngài thị trưởng vì một vụ hối lộ nào đó trong chiến dịch bầu cử. Mà thị trưởng cũng là cấp trên của chúng ta.

Chamberlin đi vòng quanh bàn làm việc để đến bên Brolin. Ông đặt tay lên vai anh.

- Tất cả những gì tôi yêu cầu cậu làm là chịu đựng vài ngày, hãy lôi cậu ta đi cùng, và khi không ngủ được một đêm tử tế một tuần vì tham dự các cuộc giải phẫu tử thi hay dựng lại vụ giết người, thì cậu ta sẽ phải xin chú mình cho trở về làm việc trong văn phòng.

Brolin nuốt nước bọt không nói gì.

- Chúng ta thực sự không có sự lựa chọn, vì thế tôi tin ở cậu, Brolin ạ.

Chamberlin thân mật vỗ vai anh.

- Và tôi xin cậu, đừng có bực bội.
 

hoahongden12

Active Member

Giáo sư Thompson gõ gõ bút vào tấm bảng đen.

- Có thể nói hội chứng Stockholm là 1 hành vi nghịch lý, ông vừa giải thích vừa chỉ vào sơ đồ vẽ bằng phấn. Đó là hiện tượng đảo ngược tình thế, trong đó một hoặc nhiều nạn nhân đứng về phía kẻ bắt cóc mình. Tên gọi của hội chứng này bắt nguồn từ 1 vụ bắt cóc con tin ở Thụy Điển năm 1973, khi cuối cùng các con tin lại có thiện cảm và thậm chí hoàn toàn tin tưởng vào những kẻ bắt cóc. Họ còn chạy vào giữa lực lượng trật tự và bọn bắt cóc khi họ được giải phóng và từ chối đưa đơn kiện và làm chứng. Cuối cùng, đây là 1 ví dụ đặc trưng, vài năm sau đó, 1 trong số các nạn nhân đã cưới kẻ bắt cóc mình.

Cả lớp bị lôi cuốn bởi câu chuyện khó tin này, nó dường như không thể xảy ra được và trở nên nực cười nếu được kể trong 1 bộ phim.

Juliette chăm chú nhìn lên bảng, nhưng không chú ý lắng nghe nữa. Cô đã theo khóa học này 1 năm trước và lời giảng của thầy Thompson không thay đổi nhiều so với hồi đó. Ánh mắt cô gái tan biến trong giấc mơ tuyệt đối, cảm xúc đã kiểm soát tâm trí. Cô không lắng nghe nữa. Cô lại chìm trong nỗi buồn từ khi có tin về 1 vụ án tương tự mà Đao phủ Portland đã từng gây ra.

Leland Beaumont.

Hắn đã chết, Julieete còn nhớ như in đã nhìn thấy xác hắn nằm yên, hộp sọ bị mất 1 góc to vì viên đạn của Joshua Brolin. Lại 1 lần nữa, báo chí đã chộp lấy 1 thảm kịch và lôi từ đó ra chi tiết giật gân nhất dù phải bóp méo sự thật. Chắc chắn trong vài ngày tới, người ta sẽ biết rằng cuối cùng vụ này không hẳn giống như người ta định nói. Rồi sự chú ý của dư luận sẽ ngay lập tức nhắm tới việc bắt giữ hung thủ, 1 kẻ không có gì giống với Leland Beaumont. "Cách này đã ăn vào thói quen của họ rồi", cô tự nhủ.

Camelia đã ngủ đêm cùng cô, động viên cô, mặc dù suốt hồi lâu, Juliette ngăn không cho mình bị tin này tác động tới. Có thật không? Liệu có phải cô cảm thấy quá xa cách đến mức ít hoặc không bị tác động không?

Chắc chắn là không. Máu của mày đông cứng lại khi vừa nghe đến tên Leland Beanmont. Hãy thú nhận đi, mày đang khiếp sợ, đúng thế!

Cô cảm thấy bàn tay mình run bắn lên, giống như 1 tiếng kêu rắc trong nhà lúc nửa đêm khiến cô tỉnh giấc trong khi Camelia ngủ. Gió thổi vào tiền sảnh phía Tây, chỉ thế thôi.

Giáo sư Thompson đang nói, Juliette chỉ mơ hồ nghe thấy thuật ngữ "trở thành nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp" mà không cố nhớ lại đinh nghĩa chính xác về nó.

"Lẽ ra mình không nên đi học, cô tự nhủ. Mình chỉ ngây thộn ra thôi! Mình muốn lấy tấm bằng về tâm lý xã hội nhưng lại không thể tự chẩn đoán cho bản thân! Lẽ ra sáng nay mình nên ở nhà như Camelia đã khuyên."

Nhưng quy tắc cơ bản đầu tiên trong phân tích, cô hiểu rõ: người ta không thể phân tích những người thân và chính bản thân mình, vì trong trường hợp này, không còn tính khách quan nữa.

"Mình sẽ quay về, pha 1 ấm trà nóng, ngồi lì trước đống sách vở bài giảng để học đuổi lượng kiến thức trong thời gian vắng mặt, và tối nay uống 1 viên thuốc ngủ để ngủ cho say. Ngày mai, mọi chuyện sẽ khá hơn."

Có cái gì đó trống rỗng trong những lời cô tự nói cho riêng mình, nhưng cô không biết chính xác là gì.

Xung quanh cô, mọi người đều đã đứng dậy, Juliette thậm chí không còn biết giờ học đã kết thúc. 1 sinh viên mà cô quen có tên Thomas Bloch hay Brock gì đó, cô không nhớ rõ lắm, lại gần cô với 1 nụ cười.

- Tớ nhìn cậu suốt cả giờ học, cậu không thích thầy Thompson lắm! Cậu bạn nói.

Juliette nhét cuốn vở còn trắng nguyên vào trong ba lô và cố cười với Thomas.

- Tớ có cảm tưởng là cậu không ghi những gì thầy Thompson nói, cậu ta nhận xét, nếu cậu muốn, chúng mình cùng tới quán café, mình sẽ đưa vở của mình cho cậu.

Thomas có vẻ chân thành đằng sau bề ngoài của 1 vận động viên lướt sóng với mái tóc dài được tẩy màu. Cậu có nước da sạm và màu da nâu vàng của những người suốt mùa hè có mặt trên những bãi biển California. Với ánh mắt thẳng thắn, nụ cười tự nhiên, ở cậu toát ra vẻ hiền hậu. Trong hoàn cảnh khác có thể Juliette đã chấp nhận lời đề nghị này.

- Không, cậu tốt quá, nhưng sẽ ổn thôi mà, cô vừa đáp vừa khoác cây đeo ba lô lên vai. Tớ đã theo khóa học này năm ngoái, đây chỉ là... nhắc lại thôi.

Cô đi về phía xa cửa, nơi các sinh viên đang chen nhau và đùa vui vẻ.

- Ok, tớ hiểu. Tớ làm luận văn về nghịch lý về hội chứng Stockholm, nếu cậu muốn tớ có thể giúp cậu nắm được tất cả các sắc thái…

Juliette dừng lại và nhìn thẳng vào Thomas.

- Này…Thomas. Tớ thực sự cảm kích trước lòng tốt của cậu nhưng bây giờ không phải lúc, làm ơn để tớ yên…cám ơn.

Cô định quay đi thì cậu ta đâm cô bằng 1 nhận xét mà cô không hề chờ đợi:

- Vì vụ giết người khủng khiếp tối qua phải không? Tớ biết chuyện đã xảy ra với cậu năm ngoái, mọi người đã kể với tớ và tớ…

Juliette sửng sốt trong giây lát, rồi cô nói tiếp ngay.

- Không, cậu chẳng biết gì cả! Cô bực tức đáp. Hãy để tớ yên.

Cô quay bước đi và bước trên hành lang tối tăm 1 cách nhanh nhất có thể. Cô cảm thấy nước mắt sắp trào ra, cô siết chặt nắm tay đến nỗi móng tay đâm sâu vào lòng bàn tay. Chẳng lẽ mọi người không thể để cô yên được sao? Sau vụ bắt cóc, cô lại bị báo chí quấy rầy nên nhiều người ở trường biết mặt cô, may mà mối quan tâm của họ chìm xuống cũng nhanh như lúc nó xuất hiện. Nhưng nếu phải chịu đựng hậu quả suốt đời, cô cảm thấy không đủ dũng cảm. Mong muốn duy nhất của cô là được bình yên. Mong sao người ta quên cô đi. Juliette ra tới ngoài không khí thoáng đãng và hít thật sâu để bình tâm trở lại. Bầu trời xám xịt, mây dày đặc, tháng mười tới cùng dông và mưa, cũng giống như mọi năm. Cô cảm thấy hối hận vì đã quá thô bạo với cậu bạn đáng thương đó. Chắc chắn cậu ấy không muốn đụng chạm đến cô, chính cô là người đã hiểu sai. Có lẽ cậu ấy chỉ muốn giúp đỡ cô.

"Mình lại làm thêm 1 việc ngu ngốc rồi", cô tự trách mình.

Một nữ sinh phá lên cười trong cabin điện thoại ngay cạnh Juliette khiến cô giật nảy mình.

"Khốn kiếp, đúng là mình phải quay về và thư giãn thôi."

Nhưng ý nghĩ lại cô đơn trong ngôi nhà rộng lớn không làm cô vui thích, cô biết rằng khi những cái bóng đầu tiên của hoàng hôn bắt đầu phủ xuống, cô sẽ khiếp sợ ngay cả những tiếng động nhỏ nhất. Cô sẽ không nhắm mắt nổi suốt đêm.

Lần đầu tiên kể từ lâu lắm rồi, cô cảm thấy tiếc vì bố mẹ vắng nhà, vì thiếu sự sống mà họ thổi vào đây. Nhưng mẹ cô hay quấy rầy cô bằng những câu hỏi để biết chắc rằng cô vẫn khỏe, lại còn luôn chăm chút cô nữa. Đó không phải là điều cô mong muốn.

Hình ảnh Joshua Brolin hiện lên trong tâm trí cô. Niềm an ủi tinh thần mà anh mang tới bằng sự có mặt của người, cùng với tính hài hước của anh khiến cô an tâm và tìm lại được nụ cười. Không cần phải nói về chuyện mà cô từng trải qua, anh đã biết tất cả, đây chính là điều cô thích ở anh. Lại 1 lần nữa, cô nhớ đến anh.

Không tự đặt thêm câu hỏi cho mình nữa, Juliette băng qua bãi cỏ trong trường đến cabin điện thoại rỗi đầu tiên mà cô thấy. Cô hỏi tổng đài giải đáp những thông tin về số điện thoại của Phòng điều tra tội phạm Portland ở trụ sở cảnh sát trung tâm, rồi đợi chuyển điện thoại trực tiếp.

- Phòng điều tra tội phạm nghe đây, 1 giọng phụ nữ vô cảm vang lên.

- Làm ơn cho tôi nói chuyện điện thoại với thanh tra Brolin.

- Người gọi là ai?

- Juliette Lafayette.

- Xin cô giữ máy chờ 1 lát.

Juliette dựa vào vách kính và kiên nhẫn chờ đợi, vài giây sau, người phụ nữ ở tổng đài nói với cô:

- Hiện giờ anh ấy không có ở đây, cô có nhắn lại gì không?

- À…không, không sao, cảm ơn.

Cô gác máy và thử gọi về nhà anh, nhưng chỉ có tiếng máy trả lời tự động. Cô cố nén mong muốn nghe hết lời nhắn và đầu hàng. Thất vọng, cô gục đầu xuống.

"Dù sao đi nữa, mình cũng không thể quấy rầy anh ấy như thế được. Phải cứng rắn lên, chỉ là chuyện quá khứ, đã qua rồi, minh không được mất tinh thần vì bất cứ vụ án nào. Mình phải tỏ ra mạnh mẽ. Mình đã khóc đủ rồi, bây giờ là lúc ngẩng cao đầu và nghĩ đến chuyện khác, đến 1 cuộc sống mới."

Cô thở dài rất lâu.

"Đây là 1 thử thách, một bài thi phải vượt qua để chữa lành hẳn vết thương. Nếu vượt qua thử thách này 1 mình, mình sẽ xóa hẳn được câu chuyện đó và không bao giờ phải lo lắng về nó nữa."

Cô chỉnh lại ba lô trên vai rồi đi về phía xe của mình.

Chiếc Coccinelle màu xanh nước biển khởi hành về hướng Shenandoah Terrace, âm nhạc tràn đầy trong khoang xe, Juliette đang hát theo 1 giai điệu của nhóm The Beatles thì nhìn thấy 1 chiếc Van đậu trước cửa nhà mình. Cô đi chậm lại.

Bó ăng ten và parabol đâm ra từ nóc xe giống như 1 bụi bồ công anh bằng kim loại. Chiếc xe Van mang logo của KFL Portland, 1 kênh truyền hình địa phương.

Các nhà báo đang đợi cô. Chắc chắn họ đang kiên nhẫn chờ trong xe, chỉ đợi cô về là nhảy xổ ra và quấy rầy cô bằng vô số câu hỏi. Họ muốn biết cô cảm thấy thế nào khi có 1 kẻ tự cho mình là đao phủ Portland. Có lẽ họ hy vọng thấy được 1 ít nước mắt hay 1 vài phản ứng đau đớn. Điều gì đó tạo nên chuyện giật gân cho kênh truyền hình của họ.

Juliette chú ý quan sát chiếc Van, mô tơ của nó chạy ở chế độ không tải. Có khói bay ra từ phía người lái, cô thấy 1 cánh tay vứt đầu mẩu thuốc lá ra giữa phố.

- Bọn họ chẳng kiếm được gì từ mình đâu, cô rít lên giữa các kẽ răng.

Xe của cô lùi lại đến đường Cumberland rồi đi về hướng quận Tây Bắc. Vài phút sau, xe dừng lại trên đỉnh đồi, từ đây có thể bao quát toàn bộ thành phố. Cách đó 500m về bên phải cánh rừng là biệt thự nhà Juliette, nhưng chắc chắn chiếc Van vẫn còn chờ đợi. Cô quay người để bước lên những bậc thang dẫn tới nhà Camelia.

Nếu các nhà báo muốn nghe cô nói, họ phải trang bị tính kiên nhẫn và ngủ 1 đêm ngoài trời.
 

hoahongden12

Active Member

Brolin bước vào phòng làm việc của mình và thấy Bentley Cotland đang ngoan ngoãn đợi trước vách kính. Mặt trời làm bộ com lê của cậu ta trở nên sáng bóng, Brolin không thể ngăn mình khỏi nhăn mặt khi thấy trợ lí của chưởng lý kiên nhẫn khoanh tay trước ngực và quan sát hình ảnh của mình trên kính.

- Này, tôi phải gọi anh thế nào nhỉ? Biện lý Cotland à?

- Ồ không, không cần như vậy đâu ạ. Cứ gọi tôi là Bentley. Tôi muốn sự có mặt của mình ở đây hết sức nhẹ nhàng.

"Không cần như thế đâu ạ. Rồi đây cậu ta sẽ nói với mình bằng cách sử dụng tất cả các hình thái tu từ mà cậu ta nắm chắc, để mình hiểu rằng cậu ta là bộ trang phục lịch lãm, còn mình là đôi giày basket sục trong đống phân!" Brolin tự nhủ, anh ta vẫn chưa chấp nhận được ý nghĩ phải chịu đựng Bentley trong quá trình điều tra.

- Tốt lắm Bentley, tôi là Joshua.

"Bentley. Mà hắn lấy đâu ra cái tên này nhỉ?" Brolin chăm chú nhìn anh chàng đứng trước mặt mình. Cùng lắm cũng chỉ 30 tuổi, kiêu kỳ và thông thái rởm hết sức vừa mới rời khỏi trường đại học với ít nhất tấm bằng master luật học. Mái tóc đen bôi quá nhiều dầu bóng khiến người ta liên tưởng đến những que sắt, còn cái cằm mới trở thành 2 ngấn khiến cậu ta càng thêm lố bịch. "Đây là kiểu mẫu đầu tiên của con người biến đổi gen chăng?", Brolin thầm chế nhạo.

- Chúng ta bắt đầu từ đâu nhỉ? Bentley hỏi.

Ngay lập tức, Brolin cảm thấy xấu hổ. Bentley có thể là kiểu cậu ấm mà anh không chịu đựng nổi, nhưng ít nhất cậu ta cũng đã khám phá ra cái gì là quan trọng. Cậu ta không dừng lại ở những mối quan hệ hèn hạ. Phải bắt tay vào điều tra ngay thôi.

- Chúng ta sẽ tiến hành buổi tổng kết đầu tiên với những người liên quan.

Brolin đến chỗ đặt máy điện thoại và mời Lloyd Meats tới. Anh gọi cho cả Salhindro.

- Trung úy Salhindro cũng nằm trong tổ điều tra hay sao? Cotland ngạc nhiên hỏi.

Brolin lưỡng lự 1 giây rồi cũng chọn cách nói thẳng.

- Lary Salhindro chắc chắn giỏi hơn phần lớn các thanh tra ở tầng này, và sự có mặt của ông ấy có thể giúp chúng ta rất nhiều. Ngoài ra, ông ấy còn rành thành phố này hơn bất cứ ai ở đây, có thể phát huy điều này.

Cotland gật đầu tỏ vẻ đã hiểu, nhưng Brolin không bỏ qua ánh mắt của cậu ta: Cotland không tán thành việc không tuân thủ quy tắc.

Lloyd Meats tới, rồi đến Salhindro, người duy nhất mặc sắc phục cảnh sát. Tất cả ngồi quanh chiếc bàn họp rộng. Phòng làm việc của Brolin rất rộng rãi, với chiếc giá chất đầy hồ sơ, một góc nghỉ ngơi có kê chiếc ghế sofa dành cho những đêm dài phải ngủ lại, và các bức tường dán đầy giấy Veleda. Đây giống như hệ thần kinh của các cuộc điều tra mà Brolin phụ trách. Trạm chỉ huy riêng của anh.

Lloyd Meats với bộ râu đen ngồi xuống đầu bàn, cạnh Bentley Cotland, trong khi đó Salhindro kéo rèm lại để ánh sáng trong phòng bớt chói chang.

- Nào, hiện giờ chúng ta biết gì về vụ này? Brolin hỏi và mở 1 tập hồ sơ mỏng.

Salhindro thót bụng lại dưới bộ đồng phục và phát biểu mà không cần nhìn vào sổ ghi chép hay bất cứ loại giấy tờ nào.

- Chúng ta có 1 nạn nhân nữ, khoảng 20 tuổi, chưa xác định được danh tính, bị giết bởi 1 kẻ không ai biết trong đêm thứ tư rạng sáng này thứ năm. Cần lưu ý cái xác bị chặt tay theo đúng cách của Leland Beaumont - Biệt danh Đao phủ Portland - đã làm. Cách thức mà tôi cho là mang tính chất cá biệt hóa.

- Trong khi chưa có báo cáo pháp y đừng vội vàng khẳng định? Meats góp ý. Chúng ta vẫn chưa biết nạn nhân chết vì nguyên nhân nào, cũng như bị cắt những chi nào.

- Lloyd, tôi đã tận mắt thấy, nạn nhân bị cắt 2 bàn tay và hai cẳng tay từ khuỷu trở xuống. Có cả vết axit trên trán, Brolin chỉnh lại, vẻ mặt rầu rĩ. Đó là dấu ấn của Đao phủ Portland.

Meats đưa tay vuốt bộ râu mọc lan trên má.

- Ai cũng biết về quái vật cẳng tay, các phương tiện thông tin đại chúng đã tận dụng tin này trong 1 thời gian khá dài. Nhưng về vết axit trên trán thì sao? Ai biết chuyện này ngoài chúng ta? Anh hỏi.

- Không có nhiều người tham gia điều tra vụ này năm ngoái, khoảng 20 người, trong đó có Brolin và tôi, Salhindro đáp.

Brolin gật đầu nói thêm:

- Có thể là thông tin bị rò rỉ, chúng ta không thiếu những anh chàng lắm mồm ở nhà xác, hay 1 cảnh sát muốn bí mật kiếm một chút, nhưng nếu các phương tiện thông tin đại chúng chưa bao giờ nói về chuyện này, tức là họ chưa bao giờ có được thông tin. Mà họ thì thường không ban tặng 1 món quà như thế đâu.

- Đó cũng có thể là 1 hướng, Meats vừa nói vừa ghi chép nhanh vào 1 cuốn sổ. Cần bắt đầu bằng việc thống kê tất cả những ai đã biết thông tin này, từ đó thử tìm xem có bị rò rỉ hay không, anh nói tiếp vẻ không tin tưởng lắm.

- Sẽ mất rất nhiều công sức, chưa kể vụ việc đã xảy ra cách đây 12 tháng, 1 số cảnh sát biết vụ này hẳn đã kể lại ít nhất là với những người thân của mình, Brolin phản bác. Không, tôi tin rằng chuyện này không thể xảy ra.

- Vậy anh có đề xuất gì? Meats nhìn thẳng vào Brolin để đợi câu trả lời.

- Trước tiên, tôi muốn có báo cáo của pháp y, sau đó chúng ta sẽ xem hung thủ bắt chước cách hành động của Leland đến mức độ nào. Nếu thực sự có những điểm giống nhau, chúng ta sẽ lại mang hồ sơ về Leland Beaumont ra và nghiên cứu tỉ mỉ.

- Larry này, tôi muốn cảnh sát mặc sắc phục tuần tra trong khu vực Washington Part và đặt 1 số câu hỏi, nhất là với những người thường xuyên tới đây. Những người chạy bộ đến đây vào những giờ nhất định, hay những bà mẹ mang con tới dạo chơi. Tôi cũng muốn người của chúng ta hỏi xem có ai nhìn thấy kẻ tình nghi vào buổi tối thứ tư, hoặc sáng sớm hôm thứ 5 không. Thể nào cũng có vài người nghiện chạy bộ qua đó trước khi đi làm. Làm thế nào để 1 chiếc ô tô thường xuyên đi qua gần hiện trường vụ án. Đây là vụ giết người mang tính chất tình dục, hung thủ hoàn toàn có thể quay lại hiện trường để sống lại ảo ảnh của hắn. Với bất kỳ kẻ khả nghi nào, tôi cũng đều muốn cảnh sát chộp lấy hắn và đưa ra 1 loạt câu hỏi. Nếu hắn tỏ ra khả nghi, chúng ta sẽ xác định danh tính hắn.

Salhindro đồng tình bằng 1 cái gật đầu.

- Mặt khác, cần hỏi chuyện cậu bé đã phát hiện cái xác. Bây giờ thằng bé ở đâu nhỉ?

Lloyd Meats vừa châm 1 điếu thuốc lá làm khói tỏa đến tận mũi Brolin. Không hút thuốc từ 1 năm rưỡi nay, anh cảm thấy khó chịu khi mùi nicotin đến giễu cợt anh.

- Tôi nghĩ là hôm nay cậu bé không đến trường, Meats vừa nói vừa nhả khói, mà đang ở chỗ 1 cảnh sát thuộc bộ phận tâm lý, hình như cậu bị chấn động mạnh.

- Đến lúc chúng tôi cũng còn bị như thế, Brolin nhận xét. Thế này nhé, 1 người sẽ cố gắng lấy lời khai nhân chứng của cậu bé, có thể cậu bé đã thấy gì đó khi tới nơi mà ta không để ý, 1 yếu tố hiện trường vẫn còn nguyên vẹn. Hãy để 1 nữ cảnh sát làm việc này, chắc chắn sẽ bớt nặng nề cho cậu bé.

- Leslie Taudam ở đội vị thành niên, Meats đề xuất, cô ấy rất hợp với việc này.

- Tốt lắm, Brolin đồng ý. Tôi sẽ tới viện pháp y, chúng ta sẽ gặp nhau ở đây cuối buổi chiều để tổng kết tình hình.

Meats và Salhindro đứng dậy. Bentley chưa nói lời nào kể từ cuộc họp, anh quan sát tất cả mọi người được phân công công việc và hỏi giọng ngần ngại:

- Thế còn tôi? Tôi sẽ làm gì?

Brolin và Salhindro nhìn nhau.

- Anh đi với tôi, Brolin đề nghị, tham gia giải phẫu tử thi sẽ có ích cho anh đấy.

Bentley Cotland tan ra như 1 viên nước đá dưới ánh mặt trời.
 

hoahongden12

Active Member

Hai người bước nhanh trên tấm nhựa trải sàn màu xanh lá cây ở tầng hầm nhà xác. Bentley không yên tâm, anh cảm thấy tiếng vọng của bước chân họ vang đi rất xa, tạo cảm giác tầng hầm rộng mênh mông, gần như không tưởng. Anh cũng không thích mấy bức tường gạch đỏ và những đường ống sưởi dài gắn trên trần nhà và tỏa ra sau mỗi bức vách. Quả thực, anh không thích cả những bóng đèn trần màu trắng tỏa thứ ánh sáng nhợt nhạt, không đủ sáng với anh. Chắc chắn nơi này rất sạch sẽ, nhưng ở đây bao trùm bầu không khí ngột ngạt, một không khí... phải, chết chóc. Brolin đi trước anh vài bước, còn Bentley bước chậm chạp, anh không muốn để lộ vẻ khó chịu của mình.

Không báo trước, Brolin dừng lại và rẽ trái. Dường như anh ấy biết rất rõ kiến trúc phức tạp của nơi này, Bentley nhận xét. Khi tới nơi, thanh tra chỉ hỏi túi xác đêm hôm qua sẽ được giải phẫu ở đâu. Rõ ràng là người bảo vệ quen anh ấy và hiểu ngay anh ấy nói về ai, bảo vệ chỉ cần gọi một cú điện thoại để biết thông tin. Người đó còn nói thêm rằng chính bác sĩ Folstom sẽ trực tiếp giải phẫu, khiến thanh tra Brolin bỗng nhiên im lặng khá lâu. Từ đây, Bentley cho rằng Brolin không thích điều này, nhưng không dám hỏi. Anh muốn tránh các rắc rối, anh cảm thấy rõ ràng người ta không thích sự có mặt của anh ở Phòng điều tra tội phạm, và tất cả những gì hiện giờ anh quan tâm là học hỏi được càng nhiều càng tốt về sự vận hành của Phòng và không chuốc lấy phiền toái. Đó là chìa khóa thành công của anh trong tư cách trợ lý chưởng lý. Nếu sống sót qua nhiệm kỳ của mình, anh hoàn toàn có cơ hội tham gia ứng cử ở kỳ bầu cử tới. Về lâu dài, Bentley thích thú mơ tới trước tiên là sự thăng tiến nhanh chóng trong hệ thống tư pháp, sau đó, sao lại không nhỉ, là chức thị trưởng, hoặc thậm chí thượng nghị sĩ.

Trong các nhà xác hiện đại nhất, cửa mở tự động, nhờ sức ép cơ khi người ta bấm vào một cái nút rất to, khiến các hành lang giống như một cảnh trang trí trong phim Star Trek. Nhưng ở Portland, người ta vẫn còn ở thời của những cánh cửa đơn giản, giống như vết tích không mới gì hơn những cánh cửa của quán rượu.

Khi Brolin vào một phòng rộng, Bentley vẫn đang chìm đắm trong những kế hoạch thăng tiến công danh, đến nỗi suýt đập cả người vào cánh cửa khi nó sập trở lại về phía anh.

Tấm nhựa trải sàn biến mất, thay vào đó là nền gạch nâu. Căn phòng rất đầy đủ công năng, với một phòng thay áo ở cửa vào, một cái bàn bằng inox với hai chậu to để gạn và khử trùng, một đèn chiếu sáng công suất lớn và đặc biệt là một chiếc bàn phẫu tích ở giữa. Bentley đứng yên quan sát, như thể đây là một bàn thờ tế thần của người Aztec vẫn còn rỉ máu.

- Xin chào, một giọng phụ nữ vang lên trước mặt anh.

Sydney Folstom tiến về phía hai người và chìa tay ra. Ánh mắc sắc sảo của bà bác sĩ pháp y dừng lại ở Bentley Cotland trong khoảnh khắc. Bentley nhận ra con mắt lanh lợi và sắc sảo đang dò xét mình và cảm thấy trong đó cái nhìn của loài chim săn mồi mà anh đã nhận thấy quá rõ từ khi ở Berkeley.

- Cấp trên của anh đã báo cho tôi biết về sự có mặt của anh Cotland, bà nói, đây là một bất ngờ đối với tôi, chúng tôi hiếm khi có vinh dự được đào tạo ai đó đến từ văn phòng chưởng lý.

Thể hiện tất cả sự tự tin của một chính tri gia, Bentley nắm chặt bàn tay chìa ra trước mặt anh, nhưng không phải không cảm thấy sự mỉa mai trong giọng nói của bà bác sĩ.

- Chúng tôi, những người làm trong ngành luật, rất cần biết tất cả những gì giúp ích cho bộ máy tư pháp, Bentley Cotland nhấn mạnh từng từ một cách thái quá.

- Vâng, trong trường hợp này, tôi sẽ cố gắng giải thích thật dễ hiểu trong quá trình giải phẫu tử thi, bà bác sĩ cũng không kém tự tin đáp lại.

Câu nói này đủ để sắc mặt Bentley nhợt nhạt thêm một chút.

Quay sang phía Brolin, Sydney Folstom nói thêm:

- Đây là lần đầu tiên chúng ta làm việc cùng nhau, thanh tra ạ, kể từ đầu tới giờ!

Brolin nhận thấy trong ngữ điệu của bà một chút chế giễu, giờ thì anh tin chắc bà không thích cách anh đột ngột bỏ rơi bà trong lần gặp gần đây nhất. Anh chọn cách không nói gì.

- Nào, chúng ta sắp bắt đầu, các anh chuẩn bị đi, bà vừa thông bào vừa chỉ vào nơi thay đồ. Các anh phải đi găng tay chống rách dùng một lần, mặc áo blouse không thấm nước và đừng quên đeo khẩu trang.

Hai người đàn ông trang bị đầy đủ rồi tới chỗ bác sĩ Folstom đang chuẩn bị dụng cụ. Brolin biết những thứ chính: dao mổ dài dùng một lần, kẹp Khôngcher, kéo ngắn, dao Farabeuf, kéo có vành và cả một kho dụng cụ có thể khiến Jack Mổ bụng chết vì ghen tị.

Rồi bà bác sĩ mở tập hồ sơ cảnh sát, trong đó có bản báo cáo sơ bộ cùng tất cả các bức ảnh chụp ở hiện trường, bà đã lướt qua bản báo cáo này vài phút trước đây.

- Xin lỗi, nhưng tôi đã làm những thao tác đầu tiên, bà vừa nói vừa bật đèn ở bảng gắn trên tường. Một loạt hình ảnh X-quang sáng lên trước mặt họ, trong khi đó Sydney Folstom bật chiếc máy ghi âm nhỏ treo trên trần bằng một sợi dây.

- Ảnh X-quang cho thấy rõ không có đạn trong xác. Đối tượng là một phụ nữ khoảng hai mươi lăm tuổi, chủng tộc Cauacse, cân nặng 59 kg, cao 1,76m.

Bà tắt máy ghi âm và ấn điện thoại nội bộ.

- Jóse, làm ơn mang xác đến cho chúng tôi.

Hai phút sau, một người đàn ông mặc áo blouse trắng đẩy một chiếc bàn phủ bạt vào, rồi cẩn trọng kéo tấm phủ dọc theo cơ thể nạn nhân như thể đó là việc rất quan trọng để không làm phiền cái xác bên dưới.

Nạn nhân gần như vẫn nằm trong tư thế như khi Brolin nhìn thấy tối hôm trước: trần truồng, hai cánh tay bị cắt ở ngang khuỷu, và nhất là cặp đùi hé mở, để lộ một ống đen từ bộ phận sinh dục. Hai bàn chân được bọc trong túi nhựa, hai bàn tay nếu còn cũng phải làm như vậy. Có rất nhiều vết lõm đỏ và lỗ sâu giống như những con mắt gian ác trên khắp thân thể trần truồng.

Bentley quay mặt đi ngay lập tức rồi đưa tay che miệng theo bản năng, quên mất là mình đang đeo khẩu trang.

"Cô ấy thật giống "người"!" anh nghĩ.

Nhận ra là đã tạo hình ảnh xấu về chính bản thân, anh tự trách mình và cố lấy lại thái độ bình thản.

Mẹ kiếp, anh chờ đợi gì chứ? Đương nhiên cô ấy là người rồi, một giọng nói vang lên trong đầu anh.

Nhưng anh không nghĩ rằng trông cô "thật" đến thế, gần gũi đến thế. Da cô thậm chí không trắng bệch như phấn như anh chờ đợi, nước da vẫn hồng hào. May mà đôi mắt cô vẫn nhắm nghiền, thế là đã đỡ rất nhiều rồi.

Sydney Folstom và người trợ lý nâng cái xác lên như nhấc một cái túi du lịch bình thường rồi đặt xuống mặt inox lạnh ngắt của chiếc bàn phẫu tích.

- Tôi vẫn chưa có loại bàn phẫu tích có bánh xe. Cái này hơi cổ, các anh thấy rồi đấy, nhưng ở đây công nghệ tiên tiến nhất lại nằm kế bên thiết bị cũ kỹ lẽ ra cần phải thay từ lâu. Tôi không hy vọng có được những khoản tín dụng cần thiết. Có lẽ anh có thể nói vài lời với những người liên quan chứ? Bà vừa nói vừa nhìn Cotland qua phía trên chiếc khẩu trang của mình.

Cotland vẫn đứng yên trước cái xác.

Họ chuyển xác từ xe đẩy sang bàn một cách vô cảm đến thế ư! Cứ như họ lập đi lập lại hành động này mỗi ngày, không cần một sự chú ý đặc biệt nào. Bentley hết sức ngạc nhiên, anh cảm giác như họ vừa di chuyển một tảng thịt trước mắt anh.

- Ôi! Suýt nữa tôi quên mất, bác sĩ pháp y kêu lên.

Bà lấy từ túi áo blouse ra một lọ Vicks.

- Tôi khuyên anh nên bôi thứ này vào dưới mũi. Khi chúng tôi mở xác, mùi phân hủy sẽ khá nặng....

Bentley không đợi nói tới lần thứ hai, vội mở găng ra để bôi sáp lên môi trên.

Bác sĩ pháp y nhìn anh bằng ánh mắt lạnh lùng và nghiêm khắc.

- Tôi nghĩ nếu một bác sĩ pháp y không đủ khả năng chịu đựng mùi này qua lớp khẩu trang thì tốt hơn hết nên chuyển sang một công việc khác và chăm sóc những người sống, bà xẵng giọng đáp.

Bentley Cotland gật đầu nhưng không phải vì thế mà không nghĩ tới chuyện này. Bác sĩ pháp y cầm lấy một chiếc ống tiêm cơ rồi vạch mắt của cái xác đang nằm lạnh lẽo trên mặt bàn inox.

- Chị làm gì thế? Brolin bình thản hỏi, anh chưa từng thấy việc này.

- Tôi hút thủy dịch, chỉ cần 0,5 ml thủy dịch là đủ để cho chúng ta biết chính xác giờ chết. Hiện nay, đây là phương pháp đáng tin cậy nhất và chính xác nhất. Khi phân hủy, hồng cầu giải phóng với tốc độ chậm và ổn định khỏi kali đọng lại trong dịch của mắt. Bằng cách nghiên cứu lượng chất này, người ta dễ dàng xác định được thời điểm chết.

Chiếc kim tiêm cơ giờ đây đã cắm trong lòng trắng của con mắt tím nhợt. Một chất lỏng đặc dâng lên trong cái ống nhỏ bằng thủy tinh, rồi bác sĩ nhấc mũi kim bằng thép ra, đặt ống vào một cái hộp trên thành bồn rửa.

Cái xác không động đậy, không rùng mình, không làm động tác lùi lại, không gì cả, điều này vẫn còn khiến Bentley Cotland ngạc nhiên. Anh gần như chờ đợi mọi người vứt bỏ găng tay, cởi khẩu trang, "người chết" đứng dậy. Và tất cả mọi người chạy ra từ sau mấy cái tủ để vỗ tay và cười sự ngây thơ của anh. Thế nhưng hoàn toàn không có gì giống như thế xảy ra, chuyện này là thật, cái chết đã chạm vào da của ba người bằng sự có mặt của nó trong tầng hầm ẩm ướt và được khử trùng này.

- Để đỡ mất thời gian, tôi đã chụp các bức ảnh sơ bộ và đo đạc cái xác, bác sĩ Folstom nói.

Bà kiểm tra nhanh xem đã có đủ số lọ để đựng mẫu bệnh phẩm sẽ lấy ra trong quá trình giải phẫu tử thi chưa, rồi lại bật máy ghi âm. Sau đó, bà lại gần cái xác và bắt đầu khám nghiệm kỹ lưỡng.

- Ghi nhận đầu tiên là hai cẳng tay bị cắt ở đầu xương quay và mõm khuỷu, vì thế các tĩnh mạch và động mạch bị cắt đứt, khiến nạn nhân mất rất nhiều máu.

Sydney Folstom quay sang Brolin và hỏi:

- Khi anh thấy cái xác, xung quanh có nhiều máu không?

- Không nhiều, nhưng có, máu đã bị khô, nhưng quả thực có thể trùng hợp. Dường như nơi diễn ra vụ án là nơi chúng tôi tìm thấy cái xác.

Anh thanh tra biết chi tiết này có ý nghĩa quan trọng đến thế nào. Trước tiên là để thu thập các dấu vết mà phòng thí nghiệm có thể làm rõ và sau đó là để lập hồ sơ. Brolin sẽ phải quay lại hiện trường khi biết rằng đó chính xác là nơi hung thủ đã ra tay hành động, rằng anh đã thấy và đã cảm nhận được khung cảnh ấy. Việc lựa chọn địa điểm này chứ không phải nơi nào khác cũng có ý nghĩa quan trọng trong khi lập hồ sơ.

Sydney Folstom tiếp tục bằng việc sờ nắn đùi bên phải của cái xác rồi gập nhẹ chân cái xác lên.

- Trạng thái cứng của xác - rigor mortis - đã hầu như biến mất. Những vết tụ máu trên tử thi hoàn toàn phù hợp với tư thế của xác khi được phát hiện, chứng tỏ hung thủ đã không di chuyển xác. Hiện trường chính là nơi xảy ra án mạng.

Bentely nhíu mày.

- Vết tụ máu trên tử thi, hiện trường là nơi xảy ra án mạng? Anh hỏi.

Anh thuộc lòng lĩnh vực luật của mình, nhưng lại không có chút kiến thức nào về pháp y.

- Trạng thái cứng của xác là khi cái xác chuyển từ trạng thái sống axit sang trạng thái kiềm, hay nói cách khác là các cơ căng lên khiến cho cái xác khó thay đổi tư thế, cần phải "phá bỏ" trạng thái cứng này nếu muốn tạo một tư thế khác cho xác chết. Trạng thái này kéo dài khoảng từ 12 đến 48 giờ, sau đó các biến đổi hóa học mới lại khiến cơ thể trở về trạng thái tãi, tức là mềm.

Bà nhấc cái xác lên 1 chút để xem phần lưng và đặt bàn tay đeo găng lên những vết đỏ ở vùng thắt lưng.

- Các "livor mortis" hay vết tụ máu trên tử thi là những vết đỏ mà các anh thấy rải rác ở đây, bà nói. Đó là kết quả của sự ngừng lưu thông máu. Nói cách khác, khi máu không lưu thông nữa, trọng lực bắt đầu tác động và kéo máu xuống các phần dưới của cơ thể, chẳng hạn như xuống lưng nếu người ở tư thế nằm, hay xuống chân nếu người bị treo. Các vùng trên cơ thể tiếp xúc với mặt đất - chẳng hạn như vai và mông trong trường hợp người nằm ngửa - không chịu tác động, các vùng này vẫn trắng vì máu không thể tụ lại do sức ép của mặt đất lên da. Thuận lợi đối với chúng ta là các vết tụ máu này "cố định" trong vòng từ 15 đến 20 phút sau khi chết. Vì thế, nếu cái xác bị di chuyển sau khi các vết tụ này đã cố định, thì chúng ta sẽ nhận thấy rằng các vết trắng và các vết tụ đỏ không phù hợp với các vùng cơ thể mới có tiếp xúc với mặt đất.

- Còn sự khác biệt giữa hiện trường vụ án và nơi xảy ra vụ án là rất lớn, Brolin xen vào. Hiện trường là nơi cái xác được phát hiện, còn nơi này là nơi xảy ra vụ án là nơi hung thủ thực hiện hành động tội ác. Phát hiện xác người ở một nơi khác với nơi người đó bị giết là chuyện khá phổ biến.

- Tôi hiểu. Như chị nói thì các vết tụ máu quả là nói lên nhiều điều! Anh chàng biện lý thốt lên.

- Tôi mới chỉ cho các anh thấy phác họa sơ qua, còn rất nhiều ngoại lệ. Không có gì dễ dàng trong pháp y cả, đừng bao giờ quên điều đó. Tiếp tục nào.

Bentely Cotland lùi lại khi thấy bà bác sĩ cầm 1 con dao mổ lưỡi dài.

- Trên cái xác chỉ có vài vết bầm máu, màu đỏ tươi của chúng chứng tỏ chúng bị gây ra ngay trước khi chết, hẳn là nạn nhân đã bị đánh đập. Có nhiều vết thường do 1 thứ vũ khí lạnh sắc gây ra, chắc chắn là 1 con dao và.....

Bác sĩ Folstom nghiêng người phía bên trên cái xác để quan sát kỹ hơn nhiều miệng vết thương đỏ ở phần hông.

- Có thể nói đây là những vết cắn, rất nhỏ, chắc chắn là của loài gặm nhấm, của cáo chẳng hạn.

- Không có gì ngạc nhiên cả, Brolin xen vào, cái xác được tìm thấy giữa rừng và phải nằm ở đấy gần 24 giờ đồng hồ.

- Đúng, bác sĩ đáp. Nhưng còn có các miệng vết thương to bằng nắm tay, không thể do động vật gây ra, và hiện tượng không có vết chảy máu nhiều cho thấy những vết thương ấy xuất hiện sau khi nạn nhân chết. Rất có khả năng hung thủ đã cắt 1 số miếng thịt trên cơ thể nạn nhân. Rải rác ở vùng thắt lưng, trên 2 mạn sườn, 2 lần sau khi nạn nhân chết.

Bà nhìn Brolin chằm chằm.

- Tôi rất tiếc, thưa các anh, nhưng công đoạn tiếp theo có thể hơi lâu. Tôi phải đo chính xác kích thước của từng vết thương do vũ khí lạnh, độ sâu của vết thương để miêu tả tỉ mỉ trong bản báo cáo của tôi. Có...cứ cho là ít nhất 20 vết, tôi phải mất vài phút.

Trong 15 phút sau đó, bác sĩ Folstom khám nghiệm tỉ mỉ những vết thương bằng thước đo centimét không phản chiếu lại ánh sáng đèn flash khi bà chụp ảnh. Bà đọc to trước máy ghi âm lời miêu tả tất cả những gì ghi nhận được. Bentley không hiểu được tất cả vì anh hoàn toàn không biết dù chỉ 1 phần từ vựng chuyên môn.

- Vết thương sâu ở vùng hạ sườn, xuyên qua ruột già ngang.

"3cm trên 0.5cm. Vết đâm lớn do dao trên da, tạo nên vết thương sâu khoảng 14cm, sẽ khám nghiệm kỹ hơn sau khi mở xác."

"Bờ nhẵn và đều, vết thương hình trứng do dao 2 lưỡi gây ra."

Bentley nghe thấy hết nhưng không thực sự hiểu sự việc. Anh kiên nhẫn và thấy rằng Brolin rất tập trung vào công việc của bác sĩ, như thể ngôn ngữ đó không hoàn toàn khép kín đối với Brolin, đôi lúc anh lắc đầu chầm chậm, nhập vào những thông tin quan trọng. Rồi Sydney Folstom ngẩng đầu lên để đưa ra tổng kết đầu tiên.

- Chúng ta thấy 20 vết thương do vũ khí lạnh, tôi nghĩ rằng chúng được tạo ra bởi 1 con dao. Một con dao 2 lưỡi, lưỡi dài 14 hoặc 15cm và rộng 3cm. Một vài vết thương có thể gây chết người, tôi sẽ xác nhận lại với các anh sau khi mở xác. Chúng ta sẽ làm việc này. Ngoài ra còn nhiều vết gặm nhấm mà chúng ta không cần để ý lắm, 2 vết thương lõm trên hông đáng quan tâm hơn. Hai vết này không đối xứng, và vết cắt không sâu bằng, có thể cho rằng hung thủ muốn lấy phần này cho hắn.

- Có thể nạn nhân có hình xăm ở 2 bên nên hung thủ đã thô bạo cắt chúng đi, Bentley đành liều nói.

- Tôi nghiêng về những vết cắn hơn, Brolin khẳng định vẻ nghiêm khắc. Hung thủ đã cắn nạn nhân 2 lần, hắn cắn như 1 kẻ điên cuồng trong cơn khát hành động. Cơn khát này mạnh hơn hắn. Sau đó, hắn nhận ra đã để lại dấu vết nhận dạng nên hắn xẻo đi vết răng trên thịt nạn nhân. Đó là đặc điểm tiêu biểu của 1 vụ án tình dục như vụ này.

Bác sĩ bật 1 công tắc, và hệ thống quạt gió công suất cực mạnh bắt đầu chạy êm đến mức khó có thể nhận biết được.

- Trên thực tế, có thể xảy ra sự trùng hợp, bà nói.

Lần này, bà kiểm tra kỹ khuôn mặt vì có điều gì đó khiến bà chú ý. Bà cúi xuống gần đến mức mũi bà gần như chạm miệng xác chết. Ngón tay bà mở hàm tạo thành thứ tiếng như mút ngón tay, rồi dùng kẹp lấy 1 sợi chỉ trắng ra khỏi khóe miệng.

- Cái gì thế? Brolin hỏi.

- Một sợi vải, có lẽ là vải bông.

Sợi chỉ tơ được bỏ vào 1 cái túi nhựa có dán nhãn, sau đây nó sẽ được phân tích tỉ mỉ để có thể hiểu được nguồn gốc của nó và lý do tại sao nó lại ở vị trí đó.

Bà bác sĩ lại cầm lấy con dao mổ lưỡi dài rồi đặt nó lên đùi xác chết. Rồi bằng 1 đường dao ngọt và dứt khoát, bà rạch da làm đôi. Giống như quả chín, thịt tách ra trong sự im lặng gần như mang tính tôn giáo, để lộ những cơ bắp đỏ và 1 lớp mỡ vàng rất mỏng. Sydney Folstom làm y như vậy với đùi còn lại, rồi với phần cơ 2 đầu trên các cánh tay. Bà dừng lại ở đó, kéo mạnh 2 mép da lại gần rồi lại tách ra để phân biệt rõ hơn phần mỡ mềm của cánh tay.

- Đây, hãy nhìn màu đỏ sậm này. Đó là 1 vết bầm bên trong không thể hiện ra ngoài bề mặt da.

Bà quay sang Bentley Cotland và nói thêm:

- Cánh tay là vùng mà người ta gọi là "vùng nắm". Chắn chắn hung thủ đã hành hạ nạn nhân, túm cánh tay nạn nhân để kéo hay lôi đi, tổn thương này là do sức ấn của ngón tay. Người ta xẻ thịt chính là để xem loại dấu hiệu không nhìn thấy trên da này. Thịt lưu giữ mọi dấu vết của bạo lực dễ dàng hơn và lâu hơn.

- Thế chúng ta biết điều này để làm gì? Bentley hỏi.

- Nếu nạn nhân chết vào thời điểm gây các hành động này thì cơ thể không lưu lại dấu vết, Brolin giải thích. Giờ chúng ta đã biết là hắn ngược đãi cô gái, đánh và lôi cô đi hoặc bóp rất mạnh vào cánh tay khi cô còn sống, chắc chắn còn ý thức rất tốt, nếu không hắn đã không tóm chặt tay cô ấy. Chắc chắn cô gái đã chống cự, nhưng để biết được điều này, chúng ta phải khám nghiệm bàn tay và móng tay đã.

- Nhân tiện, bác sĩ Folstom đang khám nhgiệm kỹ lưỡng 2 khuỷu tay bị cắt bỗng xen vào, tôi có thể khẳng định với các anh rằng hung thủ có 1 số khái niệm về sinh học. Nhát cắt của hắn rất gọn gàng, hắn đã sử dụng 1 loại dao mổ nào đấy và rạch da rất chuẩn trước khi cắt xương trụ và xương quay. Hắn cũng nhanh chóng cắt lớp dây chằng và các cơ 2 đầu ở cánh tay.

- Điều đó có nghĩa là gì? Brolin hỏi và không chắc về câu trả lời.

- Là hắn đã chủ ý không làm hỏng da và xương, nhưng ít quan tâm hơn đến phần còn lại.

Brolin nhắm mắt.

Leland Beaumont đã giết 3 phụ nữ trẻ năm ngoái, làm bỏng trán họ bằng axit và chặt cánh tay đến ngang khuỷu. Ở vụ nào bác sĩ pháp y cũng nhận xét rằng hắn làm rất giỏi, rằng đó là tác phẩm của 1 người có kiến thức sơ đẳng về sinh học và biết sử dụng dao mổ. Nhưng điều kỳ lạ hơn là trong tất cả các vụ, Leland đều cắt da và rút xương cẩn thận, song lại cố tình làm rất ẩu với cơ và dây chằng. Câu chuyện lại lặp lại mặc dù thiếu vắng nhân vật chính.

Sydney Folstom bỏ găng, lau trán và đeo đôi găng tay mới vào.

- Thế này nhé, vết bỏng do axit trên trán quá sâu nên không thể cho chúng ta biết gì khi phân tích vĩ mô, tôi sẽ nghiên cứu bằng kính hiển vi và báo cho các anh biết. Bây giờ chuyển sang vết thương ở bộ phận sinh dục.

Bà bác sĩ cúi xuống, khẽ giạng 2 đùi cô gái ra một chút, 2 đùi cử động tạo thành tiếng òng ọc ghê tởm, và sau khi lấy 1 số mẫu bệnh phẩm, bà bắt đầu rút cán đen nằm giữa 2 môi âm hộ. Một dòng máu đen dạng nước rỉ ra ngay lập tức trên mặt inox của bàn phẫu tích. Bác sĩ Folstom rút chậm từ âm hộ ra 1 con dao lưỡi dài khoảng 20cm, dính nhiều loại dịch sinh học khác nhau, chủ yếu là máu.

Một tiếng kêu nghẹn vang lên trong phòng khi Bentley cảm thấy bữa sáng của anh dồn ngược lên họng. Sydney Folstom thở dài khi thấy Bentley chạy về phía bồn gạn rồi nôn thốc tháo ra. Anh vừa lắp bắp vài lời xin lỗi vừa súc miệng, nhưng từ chối đi ra ngoài, lấy cớ phải tham dự ca phẫu thuật tử thi đến cùng. Nhất là khi anh biết mình chẳng còn gì để nôn nữa, dạ dày giờ đây đã rỗng không.

- Tôi nghĩ là chúng ta đã tìm được vũ khí mà hung thủ sử dụng trên phần còn lại của xác, bác sĩ Folstom thông báo, không mấy ngạc nhiên. Anh vừa nói về vụ án bạo lực tình dục phải không, thanh tra Brolin?

- Vâng. Có hành động cưỡng hiếp không? Có vết tinh dịch không?

Brolin hy vọng nhận được câu trả lời khẳng định vết tinh dịch, điều này sẽ cho phép xác định hung thủ nhờ ADN. Ngay sau đấy, anh nhận ra đó là kiểu hy vọng gì, anh hy vọng cô gái bị cưỡng hiếp để có thể tóm được thủ phạm!

"Ttrời ơi, mình là loại quái vật gì thế này?" anh nghĩ. Sự méo mó cảm xúc mang tính nghề nghiệp đã làm què cụt khả năng lĩnh hội tình hình của anh. Anh tự tạo cho mình thái độ dửng dưng đối với nạn nhân để không đau khổ vì không cảm thông.

- Tôi không nghĩ thế, bác sĩ pháp y đáp. Tôi sẽ nói với anh nhiều hơn về chuyện này sau vài phút nữa.

Bà cầm dao mổ và rạch 1 đường từ chân cằm đến tận xương mu, tránh các vết thương. Bentley Cotland không thể ngăn nổi mình quay lưng lại khi bà rạch phần ức sườn bằng 1 chiếc kéo giống như kéo cắt dây loại to. Tiếng sườn gãy dưới lưỡi thép khiến anh nghĩ tới bộ xương gà bị người ta giẫm nát. Sau đó, mặt tái mét, anh theo dõi quá trình moi toàn bộ nội tạng của cái xác, bác sĩ Folstom dừng lại để khám nghiệm tỉ mỉ tất cả các vết thương do dao gây ra để kết luận về mức độ gây tử vong của chúng.

Mùi xác chết bốc lên xuyên qua lớp khẩu trang phẫu thuật và mùi sáp Vicks trên môi Bentley không đủ để át đi. Mùi thịt chết, mùi thối hoắc len lỏi khắp nơi, ngấm vào quần áo. Nhưng điều kinh khủng nhất là cảm giác bản năng về cái chết, anh cảm thấy toàn bộ thân thể mình ám mùi người chết, cả người anh run rẩy vì anh cảm thấy đây là 1 người cùng chủng tộc với mình. Anh sẽ không bao giờ quên được cảm giác này, và anh biết rằng trong người anh, trong gien của anh, đã khắc sâu mùi và sự nhận biết cái chết, cái chết có trong mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, và thức tỉnh với tiếng gọi của hư vô.

Sydney Folstom đưa cho anh và Brolin 1 tấm che mặt bằng nhựa rồi cầm lấy 1 vật giống như cái cưa thạch cao. Cái cưa rung rung làm văng mảnh vụn xương ra khắp xung quanh, vì nó đang xẻ hộp sọ để phơi trần bộ não. Bà bác sĩ đưa ra nhiều lời bình luận khó hiểu, nhất là tầm quan trọng của việc lấy mẫu màng cứng. Bà cũng lấy vài mẫu trong miệng rồi quay trở lại phía dưới cùng của nửa thân trên.

Khi Sydney Folstom lật âm đạo đơn giản như lật 1 chiếc găng, Bentley suýt nữa ngất xỉu, nhưng cuối cùng anh cũng ý thức được về việc đang diễn ra xung quanh lúc bà dốc hết vào muôi chỗ máu đầy trong cái lỗ há miệng là nửa thân trên.

Bentley nhìn 2 người bên cạnh. Họ không tỏ ra bất cứ thái độ gì, bất cứ cảm xúc gì. Nếu nhìn kỹ, nạn nhân hẳn phải là 1 cô gái rất đẹp, cao ráo và mảnh mai, khuôn mặt nhỏ nhắn, đường nét thanh tú. Anh không thể kìm nén sự ngạc nhiên hơn nữa và hỏi bằng giọng hơi ghê tởm:

- Mọi người không cảm thấy gì trước 1 khung cảnh như thế này sao?

Sydney Folstom quay về phía anh, vẫn ánh mắt lạnh lùng.

- Ttrong nghề này, không thể cho phép mình đau xót trước tất cả các nạn nhân mà mình mở xác. Tôi thể hiện tối đa sự tôn trọng với tất cả, nhưng nghề nghiệp cho phép tôi làm những việc mà gia đình họ không muốn biết. Cần phải đóng khung về mặt "kỹ thuật" anh Cotland ạ, đừng nghĩ về người phụ nữ chắc hẳn phải rất đẹp và chiếm được nhiều thiện cảm của đàn ông, mà chỉ nghĩ về kỹ thuật.

Bentley tự hỏi liệu bản thân bà có khả năng bày tỏ chút cảm xúc nào trong đời tư hay không, nhưng không cố tìm hiểu thêm, anh không thích cái cách bà nhìn thẳng vào mắt anh bằng ánh mắt nghiêm khắc và dò xét anh. Còn Brolin dường như ý tứ hơn, có lẽ nhạy cảm hơn với việc vừa diễn ra, nhưng nghề nghiệp buộc anh không được yếu đuối. Lần đầu tiên kể từ khi làm quen với anh thanh tra trẻ - từ chính ngày hôm nay - Bentley bắt đầu có thiện cảm với anh. Xét cho cùng thì anh ấy cũng không đến nỗi khó chịu, chỉ là bệnh nghề nghiệp thôi.

- Vâng, bây giờ tôi có thể tổng hợp các yếu tố và thời gian diễn ra. Dĩ nhiên là các phân tích mô học và mô học miễn dịch sẽ giúp tôi đưa ra kết luận chính xác hơn, nhưng loại công việc kỹ thuật này, fibronectin hay bạch cầu đa nhân trung tính, rất chán và nhất là lại đòi hỏi nhiều thời gian. Điều mà hiện tại tôi có thể nói với các anh là nạn nhân bị đánh đập trước khi bị đâm 20 nhát dao chủ yếu vào nửa thân trên, trong đó có ít nhất 4 nhát gây tử vong. Về các sự việc diễn ra sau đó, tôi sẽ không nói nhiều trước khi khám nghiệm giải phẫu bệnh học. Nhưng tôi nghĩ rằng hung thủ đã bị kích động dữ dội trên xác nạn nhân, hắn đã cắn xé, và cuối cùng là cắt bộ phận sinh dục trước khi bỏ đi. Còn về vết bỏng axit trên trán, tôi sẽ lấy mẫu và phân tích, tôi cố gắng làm càng chính xác càng tốt, nhưng đừng kỳ vọng vào phép màu, tôi rất sợ rằng khó mà rút được từ đây những kết luận hữu ích.

Bentley Cotland quay về phía cái xác. ít nhất vẫn còn một phần giống với cơ thể người, phần còn lại chỉ là 1 đống thịt toang hoác màu đỏ sậm. Hộp sọ rỗng, các chi bị xẻ đôi và nửa thân trên bị rạch từ mu đến cằm đã lấy đi mọi dấu vết sự sống của cái hình hài này. Hai vạt da với lớp mỡ hơi bóng lên dưới ánh đèn phòng mổ rũ xuống 2 cạnh bàn, khiến nửa thân trên giống như 1 cái túi dài đang mở.

Khi bác sĩ Folstom bỏ đôi găng vào thùng rác sinh học, Bentley chợt tỉnh khỏi trạng thái ngây dại.

- Thanh tra Brolin. Tôi sẽ gửi các kết luận của mình cho anh qua fax hoặc email sớm nhất.

Brolin gật đầu rồi quay về phía cái xác. Có điều gì đó lạ lùng trong cách thức của kẻ giết người. Cơn điên cắt tay, nhiều vết buộc ở âm đạo, nhưng vẫn đủ thông minh để không để lại bất cứ dấu vết nào, không tinh dịch, không nước bọt, không vân tay. Nếu giả thiết về hành động cắn đối với 2 vết thương sâu trong thịt là đúng, chứng tỏ hung thủ còn lấy lại được ý thức về tình trạng của hắn sau sự việc. Hắn hành động theo 1 xung năng điên cuồng.

Xung năng muốn cắt tay, hận thù và giết chóc không thể kiểm soát được. Nhưng hắn thông minh và biết lấy lại khả năng kiểm soát khi chuyển sang hành động.

- Cảm ơn bác sĩ, nhanh nhất là tốt nhất, Brolin ấp úng. Tôi có cảm giác rất lạ là chúng ta còn rất ít thời gian.

Hắn sẽ lại tiếp tục ra tay.

Và hắn rất đáng sợ đối với nạn nhân, không để nạn nhân có cơ hội nào sống sót.
 

hoahongden12

Active Member

Juliette liên tục trở mình trên giường trong phòng ngủ của khách. Sau khi đã chạy trốn cánh nhà báo, cô đến trú tạm ở nhà Camelia và ngủ qua đêm tại đó. Cô không biết chính xác sau đây sẽ phải làm gì, rõ ràng là cô không thể trốn chạy báo chí mãi được, sớm hay muộn cô cũng phải trở về nhà mình, nhưng hiện tại cô cảm thấy không đủ dũng cảm. Không hoàn toàn vì sự ầm ĩ của báo chí, mà chủ yếu là vì những câu hỏi sẽ đặt ra cho cô, cô sợ nỗi đau lại thức tỉnh và sợ rơi vào một dạng của chứng sợ không gian rộng kịch phát khiến cô không dám ra khỏi ngôi nhà. Cô đã phải chịu đau khổ và buồn bã và đã chiến đấu khá lâu để tạo lại cho mình sức khỏe tâm thần và niềm tin vào người khác, không thể tin nổi là giờ đây tất cả sẽ tan tành.

Như mọi khi, Camelia dang tay đón tiếp cô ân cần, cho cô một chỗ dựa vững chắc. Và cũng như mọi khi, Camelia biết tỏ ra nghiêm túc và động viên lúc đầu sau đó khéo léo nói chuyện hài hước để Juliette bớt căng thẳng. Cuối cùng, cả hai cô gái trẻ đã cười rất nhiều, và vì hôm sau không phải đến trường nên Juliette đã uống những ly cocktail mà Camelia mời cô. Cùng với những tràng cười như điên và rượu cocktail, buổi tối kết thúc nhanh chóng khi cả hai đều mệt mỏi.

Hơi choáng váng vì rượu, Juliette nghĩ sẽ ngủ ngay khi đặt lưng xuống giường nhưng không phải thế. Cô cảm thấy mệt lử, kiệt sức vì các sự kiện mới đây, nhưng không thể khiến đầu óc lang thang đến với xứ sở của những giấc mơ được. Đầu đặt trên gối, cô lại nghĩ đến cậu bạn có tên Thomas mà cô đã đuổi cổ chiều nay. Cậu ta không muốn điều gì xấu cho cô cả, ngược lại, cô cảm nhận được lòng tốt trong cách xử sự của cậu ta, tất cả những gì cậu ta mong muốn là giúp đỡ cô. Và cô đã đuổi cậu ta đi. Đúng là cô cần phải kiểm soát mình, nhất là không được để cảm xúc, nỗi sợ hãi và chứng cuồng ám điều khiển trí óc. Rốt cuộc, chuyện gì đang xảy ra vậy? Một gã điên thích giết phụ nữ đúng theo cách của Leland Beaumont? Một kẻ khùng, một copycat nếu gọi theo thuật ngữ chính xác. Nhưng đó không phải là Leland Beaumont, hắn đã chết và đã bị chôn từ cách đây hơn một năm.

Juliette mở mắt. Căn phòng tối om, toàn bộ ngôi nhà chìm trong im lặng, Camelia hẳn đã ngủ được ít nhất nửa tiếng rồi.

Cô ngồi trên giường, bật ngọn đèn ngủ đầu giường. Biết rằng không thể ngủ được ngay, cô lấy cuốn tiểu thuyết mang theo trong túi ra. Một cuốn sách của Davod Lodge. Cô không biết tại sao mình lại thích các tiểu thuyết gia Anh đến thế, nhưng đó là những tác giả cô đọc say sưa nhất. David Lodge, Nick Hornby hay Ken Follet…Cô tìm thấy ở đó cách viết thông minh xa rời mọi tham vọng, những cuốn tiểu thuyết này nói về cuộc sống, đôi khi với lời khẳng định xứng đáng là những câu châm ngôn vĩ đại nhất, nhưng không tự phụ, không tham vọng. Cô đắm chìm trong câu chuyện về một thầy giáo người Anh trong cuộc cách mạng tình dục vào cuối những năm 1960 ở Mỹ, nhưng cũng không tìm lại được nụ cười.

Đọc được vài trang, cô nhận ra rằng mắt cô lướt trên các hàng chữ, nhưng đầu óc cô không nhìn thấy chúng. Cô đang ở nơi khác.

Cô lại nghĩ đến chuyện xảy ra tối hôm qua, đến người phụ nữ được tìm thấy đã chết trong rừng. Cô không thôi trằn trọc trên giường, cô cảm thấy khó ở. Cô muốn biết liệu có phải, giống như các phương tiện truyền thông đã loan tin, là cô gái trẻ đó cũng bị cắt tay như các nạn nhân của Đao phủ Portland hay không. Câu hỏi này khiến cô lo lắng, và tồi tệ hơn nữa, khiến cô bị ám ảnh.

Cô muốn biết chính xác.

Liệu đây có thực sự là một copycat bắt chước cách hành động của Leland Beaumont hay chỉ là sản phẩm tưởng tượng của các nhà báo?

Nhưng người duy nhất có thể trả lời được câu hỏi này hoặc ít nhất có thể biết thông tin là Joshua Brolin. Cô không thể quấy rầy anh mãi được, anh có cuộc sống riêng mà cô phải tôn trọng. Thế nhưng anh đã đến thăm cô chỉ sau một cú điện thoại, họ đã chuyện trò khá lâu trong đêm và ngủ trong cùng một phòng. Dường như điều này đủ để cô gọi cho anh, một kiểu tình bạn, cho dù rất mong manh.

Nghĩ tới đây, Juliette biết rằng cô sẽ gọi cho Brolin ngay hôm sau.

Cô không có gì nhiều để hỏi anh cả, cô chỉ cần biết.

Leland Beaumont đã chết.

Nhưng có lẽ hồn ma của hắn thì chưa.
 

hoahongden12

Active Member

Ở trụ sở cảnh sát trung tâm Portland, thứ Bảy cũng không được nghỉ. Tội ác không hề có ngày nghỉ, không bao giờ tạm dừng cuối tuần. Đã sắp hết các buổi sáng, và các lò sưởi mới được bật làm tường kêu răng rắc. Ngày đã mát mẻ hơn những tuần trước, bầu trời màu xám và làn gió mát thổi từ hướng Tây đập vào mặt tiền các ngôi nhà khiến người dân thành phố bị bất ngờ khi thức giấc.

Hôm nay là thứ Bảy, ngày 2 tháng Mười, cuối cùng mùa thu cũng đến, xua tan cái nóng muộn cuối cùng của mùa hè. Bọn trẻ con thích thú thấy vài cơn giông tới ngay trước lễ Halloween, nông dân trồng nho ở Oregon vui sướng vì có được quãng thời gian cuối hè quá đẹp để thu hoạch nho.

Còn Salhindro lẩm nhẩm đằng sau ô cửa sổ phòng làm việc, tâm trạng bực bội và không thích ý nghĩ sắp bước vào mùa đông. Ông thấy nơi làm việc của mình quá lạnh, còn cà phê lại quá nóng. Ngày sẽ chẳng ra gì cả, ông tin chắc như thế. Quả thật, cả tuần đã chẳng ra gì thì hai ngày nghỉ cuối tuần cũng không thể khá hơn. Lại thêm buổi họp sáng nay về vụ án mạng trong rừng mà ông được mời dự. Ông biết rằng Brolin muốn ông có mặt, nhưng đại úy Chamberlin không thích ông tham gia trực tiếp vào cuộc điều tra. Chamberlin luôn miệng nhắc nhở ông: “Salhindro, anh phụ trách điều phối chung, chứ không điều tra cụ thể!”

Salhindro quá rõ một điều, ông không được giao vị trí này vì thừa cân nặng. Người ta thích ông giám sát các cuộc tuần tra hơn là khó nhọc di chuyển khối mỡ của mình trên đường phố. Để bảo vệ ông hay chăm chút cho hình ảnh đẹp của cảnh sát Portland? Đây chính là điều khiến ông phiền lòng. Ông biết mình là một điều tra viên tốt, và Brolin thích ông có mặt để giúp một tay, vậy thì tại sao người ta lại không cho ông làm công việc mà ông thích chứ, mẹ kiếp! Có cấp bậc, được tôn trọng và đã qua thử thách, Salhindro không thể chịu đựng được việc phải ngồi mốc đằng sau màn hình chờ nghỉ hưu.

Điều khiến ông khó chịu hơn nữa là biết rằng “đầu đất” cũng dự họp. Bentley Cotland, trợ lý tương lai của chưởng lý Gleith, chỉ là một thằng ngốc nghĩ mình cao hơn mọi người vì bằng cấp đầy mình. Nhưng anh ta biết gì về cuộc sống của một cảnh sát ? Anh ta chỉ biết những giờ làm việc dài dằng dặc, mài đít quần trên ghế với khoản thù lao 600 đô la để bằng cách trữ tình nhất giảng giải xem làm thế nào có thể tổ chức được một cuộc chào bán cổ phiếu ra công chúng – điều mà Salhindro tự biết mình không đủ khả năng hiểu, nhưng ít nhất ông cũng không lên mặt xem thường mọi người. Suốt ba mươi năm cuộc đời, Bentley Cotland đã tích lũy lý thuyết và sự tự tin, nhưng không hề có ý niệm về khoảng cách giữa chúng và thực tế, ít nhất là trong thế giới tội phạm còn hơn cả thực dụng.

Suy cho kỹ thì đó phần nào cũng là hình ảnh mà Brolin thể hiện lúc mới tới đây, khi vừa chân ướt chân ráo rời khỏi FBI ba năm về trước. Nhưng Brolin ngay lập tức tìm cách phá bỏ vẻ bề ngoài giỏi lý thuyết để chứng tỏ rằng ít nhất anh cũng giỏi như vậy trên hiện trường.

Salhindro lùa tay vào mái tóc điểm bạc trên đầu.

Hơn nữa, dù muốn hay không, anh chàng Bentley Cotland này cũng có một cái đầu không thuộc về anh ta. “Đầu đất”, phải, với cặp mắt lồi, tai hơi vểnh ra và mái tóc được cắt cẩn thận trước gương trong phòng tắm.

Salhindro chợt nhận ra mình đang kết tội Cotland mà chưa thực sự hiểu anh ta. Ông ác cảm với anh ta chỉ vì hình thức bề ngoài và thái độ trong khi mới gặp anh ta trong vòng một giờ đồng hồ. Người khác có thể nghĩ gì về ông khi ông đến làm một nơi xa xôi? Với tình trạng thừa cân, tính tình khó chịu và sự tự tin quá mức vào bản thân? Rõ ràng là người ta sẽ ghét ông, thế nhưng Salhindro nghĩ mình không phải loại người xấu.

Còn anh chàng Cotland này, tất cả mọi người đều bực bội vì sự hiện diện của anh ta do chưởng lý Gleith áp đặt, nhưng xét cho cùng thì họ đánh giá anh ta hơi khắt khe, trong khi đang tức giận. Có lẽ anh chàng đáng thương này chỉ muốn hòa vào nhóm, để học hỏi và thay đổi, làm mất đi vẻ tự mãn của mình. Rốt cuộc, tất cả họ đều bêu xấu anh ta đủ điều, nhưng cần phải cho anh ta một cơ hội tự hoàn thiện mình.

Salhindro gật đầu đồng ý.  

Ông sẽ nói chuyện này với Joshua vào chiều nay, cần phải bớt nghiêm khắc với Bentley Cotland, và họ sẽ thấy ngay kết quả thế nào.

Ông thỏa mãn vỗ lên bụng.

Nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất. Ông có tin mới cho cuộc điều tra, đây mới là điều quan trọng.

Ông cầm cuốn sổ ghi chép và đi ra khỏi phòng.
 

hoahongden12

Active Member

Brolin có thói quen từ khi làm thanh tra ở Portland là tổ chức họp trong phòng làm việc của mình. Khi anh tới phòng điều tra tội phạm, đại úy Chamberlin đang họp đầu tuần với các cấp phó để tổng kết tình hình các cuộc điều tra hiện tại và các tiến bộ, sau đó phân công người cho các cuộc điều tra. Nhưng hiếm khi một thanh tra lại yêu cầu họp đột xuất trong tuần để tổng kết về cuộc điều tra của mình, trừ trường hợp khẩn cấp. Brolin dần dà lập nên nguyên tắc này, nguyên tắc mà anh mang tới đây từ FBI, điều khiến một vài đồng nghiệp coi anh là loại ngựa non háu đá. Thế nhưng ý tưởng của anh lại chẳng liên quan gì đến một tham vọng nung nấu, anh tuân theo nguyên tắc động não thông thường, giúp kích hoạt nhiều bộ não về một vấn đề, nhằm rút ra được tối đa thông tin. Nhưng việc này đòi hỏi nhiều thời gian mà Phòng thường không có. Tất cả những người có mặt ngày hôm đó trong phòng của Brolin đã phải làm việc suốt tuần với những cuộc điều tra khác đang được tiến hành, đôi khi đến tận tối muộn. Tất cả mọi người đều muốn được nghỉ ngơi chút ít và dành thời gian cho gia đình nhưng tất cả đều có mặt khi Brolin mời tới.

Thế là đại úy Chamberlin và cấp phó Lloyd Meats, cán bộ phụ trách phòng thí nghiệm của cảnh sát kỹ thuật và khoa học Carl Dimestro, trợ lý chưởng lý Bentley Cotland và tất nhiên cả Larry Salhidro, đều có mặt trong phòng của Brolin.

Brolin đứng dậy để đóng cửa.

- Vâng, chúng ta có thông tin mới, anh bắt đầu. Nhưng trước khi nói về suy nghĩ của mình, tôi muốn chúng ta tổng kết công việc đã làm và các kết quả có thể nhận được. Đứa trẻ tìm thấy cái xác bây giờ thế nào nhỉ?

Melt phát biểu, tay vuốt bộ râu như thể việc đó giúp anh đảm nhận vai trò tốt hơn.

- Leslie Taudam ở đội vị thành niên đang phụ trách cậu bé. Cậu bé bị sốc, và mặc dù Leslie đã nỗ lực hết sức, nhưng chúng ta không biết gì thêm cả. Cái xác vẫn chưa được xác định danh tính hay sao?

- Tôi sẽ nói về chuyện này, Brolin đáp. Carl, anh có tin gì cho chúng tôi không?

Carl hít mạnh quá khiến hai lỗ mũi anh phát ra tiếng kêu nhẹ. Anh mặc bộ vét không chê vào đâu được và mang cặp kính hai tròng.

- Khá phức tạp. Ngôi nhà đổ nát nơi xác chết được tìm thấy là một nơi vô cùng lộn xộn, là điểm trú chân của tất cả các thanh niên, những kẻ ngoài lề xã hội, nghiện ngập và vô gia cư. Tôi đã lấy rất nhiều mẫu xét nghiệm, đủ để buộc tội một phần tư dân số thành phố! Nói nghiêm túc hơn, tôi có rất nhiều sợi vải đủ loại, không thể biết được cái nào là do hung thủ để lại, cái nào là do những người từng qua lại vài ngày trước đó để lại.Tôi sợ rơi vào ngõ cụt. Chúng tôi sẽ thống kê tất cả chất sinh học thu được và kiểm kê lại. Đây là toàn bộ những gì tôi có thể làm được ở thời điểm này. Tuy nhiên, tôi có một yếu tố có thể khiến các anh quan tâm. Chúng tôi đã tìm thấy những giọt nhỏ của một hỗn hợp hóa học và tôi đã phân tích. Đó là Mercaptan, nói cách khác là một chất hóa học thường dùng để bảo vệ nhà cửa. Chất này có tính chất ngăn cản, khi có báo động dù là nhỏ nhất, nó phụt vào kẻ gian khiến hắn bốc mùi hôi như một con chồn trong bán kính mười mét.

Brolin ghi chép lại mà không biết nên nghĩ gì về chuyện này. Chất Mercaptan thì có tác dụng gì ở đây?

Sanhindro ngồi không yên trên ghế:

- Chờ một chút, tôi có một chi tiết có thể liên quan đến thứ này! Ông hăng hái nói. Như đã thỏa thuận, tôi cử nhiều đội điều tra đến khu vực Washington Park, nơi tìm thấy cái xác. Không có nhân chứng, dường như không ai nhìn thấy điều gì trong đêm thứ Tư, rạng sáng thứ Năm. Cần phải nói rằng ban đêm, ở đó có rất ít người qua lại. Nhưng một cảnh sát đã hỏi một nhóm người vô gia cư hay vãng lai qua đó. Họ trả lời rằng hồi đầu tuần, họ định vào ngủ đêm ở ngôi nhà đó nhưng không được.

Một tật thần kinh khiến má của Brolin giật giật, sự chú ý của anh vừa bị khơi dậy mạnh mẽ.

Salhindro nói tiếp.

- Họ kể rằng đêm thứ Hai, khoảng 23 giờ, họ tới ngôi nhà hoang. Lối vào bị bịt bằng một tấm ván, không giống như mọi khi. Họ tháo tấm ván ra thì một thứ mùi ghê tởm bốc lên khiến họ bất ngờ. Một mùi, tôi xin trích nguyên văn “khủng khiếp, hơi giống như nước thối trong trò đùa của trẻ con và mùi trứng thối trộn lẫn với đồ ăn bị nôn ra”, hết đoạn trích. Cả ba gã quay đi và không ngủ đêm ở đó vì lý do mùi thối.

- Điều này có ý nghĩa gì với cuộc điều tra? Bentley phản đối, tôi muốn nói là có lẽ do bọn trẻ con trêu chọc nhau.

- Đôi khi trẻ con cũng hay chơi khăm nhưng trước tiên, chúng thường làm trò với lọ nước muối chứ không dùng Mercaphan. Hơn nữa, khi đùa kiểu này, chúng thường làm ở trường học hoặc siêu thị nơi có nhiều người qua lại, chứ hiếm khi trong một ngôi nhà hoang đổ nát giữa rừng, nơi hầu như không ai biết cả, Lloyd Meat phân tích. Ngược lại, nếu tôi phải cất công mua Mercaptan để vẩy vào một ngôi nhà nát nơi hẻo lánh thì tôi phải có mục đích chết tiệt gì đó trong đầu. Kẻ đã vẩy chất này có thể là hung thủ giết người.

- Anh không thấy là đã đi quá xa hay sao? Bentley vừa nói vừa nhướn mày khiến mặt anh nom giống như một hình biếm họa. Một kẻ đổ chất Mercaptan và bịt lối ra vào một ngôi nhà hoang, thế mà các anh lại cho là một kẻ tâm thần nguy hiểm.

- Ngược lại tôi chỉ thấy một lý do duy nhất để tìm mua loại chất này. Hung thủ biết rằng thỉnh thoảng có người qua lại đó, nên hắn đổ chất Mercaptan và bịt lối vào để mùi càng thối hơn, để không ai tới đây cả. Hắn muốn chắc chắn rằng trong này không có ai khi hắn mang nạn nhân đến. Có nghĩa là hắn đã chuẩn bị trước từng chi tiết nhỏ nhất, nhiều ngày trước đó, có thể hắn đã đến trước đó vài giờ để làm mùi bay đi rồi mới ra tay hành động, ai mà biết được? Đúng là một kẻ tâm thần nguy hiểm!

Bentley nhìn Meats như thể Meats đang nói chuyện đâu đâu.

- Anh có tin chuyện này không? Bentley hỏi Brolin.

- Một cách giải thích có thể chấp nhận được. Này Carl, mua chất Mercaptan có dễ không?

- Ồ dễ thôi. Rất nhiều nơi bán, tất cả các cửa hàng chuyên về an ninh, có thể liệt kê một danh sách dài dằng dặc, và nếu hung thủ xảo trá như hàng loạt hành động của hắn đã chứng tỏ, thì chắc chắn hắn đã trả bằng tiền mặt. Lại thêm hàng trăm nơi bán qua bưu điện trên cả nước. Nếu anh định rà soát tất cả khách hàng của họ thì hãy cố lên.

Brolin lắc đầu, miệng lẩm bẩm câu trả lời phủ định.

- Còn về hung thủ, anh đã bắt đầu lập mô tả tâm lý chưa Joshua? Đại úy Chamberlin hỏi Brolin.

- Vẫn chưa. Hiện giờ tôi đang thu thập tối đa dữ liệu, sau khi thấy đã có đủ, tôi sẽ bắt tay vào công việc. Tôi không muốn đi sai đường chỉ vì không đủ các yếu tố để phán xét tình hình một cách đúng đắn.

Meats, Sanhindro và Demestro cũng đồng tình.

- Nhưng tôi e là có một tin rất nghiêm trọng, anh thanh tra trẻ nói tiếp. Trước tiên chúng ta vẫn chưa xác định được danh tính nạn nhân. Do phần trên của mặt bị hủy hoại nặng nề, nên không thể đưa ảnh lên mặt báo được. Mặt khác, hồ sơ về những người mất tích không có gì trùng hợp, chúng tôi vẫn tiếp tục tìm kiếm. Chúng tôi sẽ phải so sánh hồ sơ răng của nạn nhân với hồ sơ của tất cả các nha sĩ trong vùng việc này đòi hỏi nhiều thời gian và hy vọng sẽ đem lại kết quả tích cực. Nhưng một vấn đề quan trọng khác là việc giải phẫu tử thi cho thấy những điểm chung đáng lo ngại với cách hành động của Leland Beaumont.

- Đến mức đó cơ à? Meats ngạc nhiên.

- Thẳng thắn mà nói chỉ còn thiếu dấu ấn “đao phủ Portland” nữa thôi.

Brolin ngừng một lát.

- Kẻ đã làm việc này biết về vết axit trên trán, trong khi chúng ta vẫn luôn giữ kín bí mật ấy, như đã nói rồi. Nhưng tồi tệ hơn, hắn đã cắt hai cẳng tay theo cách giống hệt, cũng hết sức cẩn thận để không làm hỏng da và xương, hoàn toàn không để ý gì đến cơ và dây chằng. Kẻ giết người trong rừng cũng có khái niệm về sinh học như Leland Beaumont, hắn có modus operandi giống hệt.

Biết là Bentley thể nào cũng đặt câu hỏi, Sanhindro lên tiếng trước:

- Modus operandi, hay phương thức hành động, là cách ra tay của hung thủ. Đó là toàn bộ các hành động và cách thức mà hắn sử dụng để giết nạn nhân. Đừng nhầm với dấu ấn thể hiện ảo ảnh trong đầu hắn, dấu ấn của cùng một tên sát nhân thường giống nhau qua các vụ án hắn gây ra bởi đó là nguyên nhân khiến hắn giết chóc, do đó hắn không thể gian lận dấu ấn, đây là một hay nhiều yếu tố đóng vai trò đối với quá trình diễn tiến của ảo ảnh trong đầu hắn. Một tên tội phạm có thể thay đổi phương thức hành động để cải thiện quá trình diễn tiến của ảo ảnh trong hắn, nhưng không thay đổi dấu ấn vì nó mạnh hơn lý trí của hắn, nó chính là khởi nguồn của động cơ giết người, hắn không thể kiểm soát được nó.

Bentley gật đầu đồng tình để tỏ ý đã hiểu.

- Thế mà ở đây chúng ta lại thấy cùng một phương thức hành động, Brolin giảng giải. Cách giết người bằng cách cắt hai cẳng tay và đổ axit lên trán nạn nhân; nhưng tôi cảm thấy dấu ấn có nét khác biệt.

Mọi con mắt đều đổ dồn vào Brolin.

- Anh nói rõ hơn đi, Meats đề nghị.

- Thế này, vẫn còn quá sớm để rút ra kết luận, nhưng tôi cảm thấy hung thủ không hoàn toàn kiểm soát được tình hình, tôi nghĩ hắn đã bị hành động cuốn đi, điều vốn không thể xảy ra với Leland Beaumont vì hắn thích thú với việc kiểm soát toàn bộ tình hình và cả nạn nhân nữa. Nhưng tôi không muốn đi quá xa về vấn đề này, ít nhất là ở thời điểm hiện nay tôi phải mô tả tâm lý hung thủ trước đã.

- Vâng, trong trường hợp này chúng ta phải tổng hợp tất cả những gì đã biết về Leland Beaumont, nếu kẻ giết người đêm thứ Tư muốn bắt chước hắn và biết nhiều về hắn thì chúng ta phải điều tra theo hướng này, đại úy Chamberlin đề xuất.

Brolin đứng dậy đi về phía chiếc tủ sắt và lấy ra một tập hồ sơ với dòng chữ “Đao phủ Portland, Leland Beaumont” được viết bằng bút dạ.

- Trước tiên, chúng ta hãy điểm qua sự việc, chúng ta biết gì về hắn?

Sanhindro mở đầu, chỉ nói theo trí nhớ:

- Đàn ông, khoảng hai mươi tuổi, Leland Beaumont là con trai duy nhất của một gia đình kỳ dị. Cha hắn là thợ nhôm sống chủ yếu bằng buôn bán vì thu nhập từ nghề nghiệp của ông ta không cao. Sau khi Leland chết, chúng tôi đã mời ông ta đến đặt câu hỏi về con trai, ông ta tỏ ra rất biết điều nhưng cứ hỏi một đằng lại trả lời một nẻo, một con người tội nghiệp với chỉ số IQ không cao lắm. Ngược lại, mẹ của Leland là một người được cả gia đình tôn thờ, cha hắn nói như vậy, Leland rất yêu quý và thân thiết với mẹ. Mẹ hắn bị giết năm 1994 trong một cuộc ẩu đả với một bà hàng xóm cũng kỳ dị không kém, hai người đàn bà đánh nhau và bà hàng xóm đã chặt đứt tay của mẹ Leland và đâm con dao vào cổ họng bà ấy. Kiểu “tai nạn” thi thoảng vẫn xảy ra ở những xó xỉnh hẻo lánh, nơi các cuộc hôn nhân cùng dòng máu khiến phần lớn cư dân trở nên hơi đần độn.

- Chúng tôi nghĩ rằng động cơ của Leland Beaumont bắt nguồn từ chính tai nạn này, Brolin xen vào. Cái chết của bà mẹ gây thương tổn nặng nề cho hắn, và chúng tôi nghĩ rằng hắn cắt hai cẳng tay để lý tưởng hóa hành động báo thù, hắn làm với các phụ nữ khác điều mà người hàng xóm làm với mẹ hắn. Ở đây có cả lý do bái vật giáo mang tính giết chóc vì sau đó hắn giữ lại những cẳng tay ấy làm chiến lợi phẩm. Một chi tiết lý thú là gia đình Beaumont dành phần lớn thời gian để di chuyển khắp đất nước, hiếm khi dừng lại ở một nơi quá một hoặc hai năm, cho đến khi định cư ở vùng Portland. Leland là một đứa trẻ cô độc, chắc chắn hắn chưa bao giờ có cơ hội vượt qua tính nhút nhát của mình, hắn luôn sống ở những nơi tách biệt và không có nhiều cơ hội kết bạn khi còn nhỏ. Và khi có bạn rồi, hắn lại phải làm lại từ đầu bởi gia đình Beaumont chuyển nhà vì lý do công việc của người cha. Chúng tôi cảm thấy cha hắn khá thân thiện, mặc dù có “hạn chế”, ông ta khẳng định với chúng tôi là bản thân ông ta và vợ không bao giờ đánh đập hay đối xử tệ với Leland, tôi nghi ngờ điều này nhưng chúng ta không bao giờ biết rõ cả. Người cha thường vắng mặt, có lẽ ông ta chính là người đánh đập thậm chí hành hung hắn. Leland hướng tình cảm về phía bà mẹ luôn ở cạnh và thương yêu hắn. Xa lánh mọi người, hắn dồn tình yêu chủ yếu cho mẹ vì xung quanh hắn không có người phụ nữ nào khác để huyễn tưởng khi ở tuổi thiếu niên.

- Anh muốn nói là hắn không hề có một mối tình nào khi còn là thiếu niên? Bentley Cotland ngạc nhiên.

- Có lẽ không, gia đình Beaumont thích sống tách biệt để được yên tĩnh, người cha đã nói như vậy. Điều này chắc chắn đã khiến cho Leland phát triển không giống những thiếu niên cùng tuổi, hắn rất cô độc và sống trong bầu không khí gia đình vô cùng đặc biệt. Có thể các anh cho là quá lời nhưng tôi không ngần ngại so sánh gia đình Beaumont với việc làm tồi tệ nhất trong vùng nông thôn hẻo lánh của nước Mỹ, nơi một số người theo luật lệ hoàn toàn khác với chúng ta.

“Ngoài ra, nhà Beaumont liên tục di chuyển, chủ yếu sống trong một chiếc caravan lớn kéo sau ô tô. Năm 94, khi bà Abigail Beaumont bị giết trong một vụ đất đai mờ ám, Leland mới mười tám tuổi. Sự việc diễn ra ở Oregon, phía tây cánh rừng núi Hood. Mất nhân vật chính của đời mình, Leland mất luôn tất cả phương hướng. Hắn tìm cho mình một công việc nhỏ trong một xưởng phá dỡ ô tô xa hơn một chút và rời khỏi ngôi nhà mà cha hắn đã xây xung quanh chiếc caravan cũ kỹ. Ở đó hắn biết được về cuộc sống xã hội, và trong nhiều năm, hắn đã ít nhiều gia nhập hệ thống. Không biết sợ hãi, với hình thức khá dễ coi và cũng từng đi đây đi đó, hẳn là hắn biết mình có thể điều khiển những kẻ cả tin nhất. Tôi nghĩ hắn đã dần dần học cách điều khiển, chi phối, hắn đã thấy thích thú với việc làm này, thậm chí tán tỉnh những cô gái nông thôn, do đó hắn trở nên tự tin. Bởi vì ngược lại với cha mình, Leland không phải một kẻ đáng thương mà là một người khá thông minh. Dần dần hắn cảm thấy mình không thể bị tổn thương và hắn đã đánh đổi quá khứ là thằng bé sợ sệt và không ổn định lấy bề ngoài của một chàng trai thích quyến rũ và của một người đàn ông đầy tự tin. Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất ở Leland Beaumont là vẻ chững chạc mặc dù hắn ta còn ít tuổi. Người ta dễ dàng đoán hắn hơn hai mươi lăm tuổi mặc dù thật ra hắn mới hai mươi ba tuổi vào lúc…hắn chết.”

Brolin lưỡng lự một lát, anh không thích nhớ lại ngày hôm đó, mỗi lần như vậy anh đều cảm thấy sức ép ngón tay trỏ của anh lên cò súng và lại thấy cái đầu của Leland vỡ tung.

- Nhưng sau khi trở nên tự tin đến thế, tại sao hắn lại giết chóc khi mà hắn có thể quyến rũ được phụ nữ? Carl DiMestro hỏi, anh vẫn quan tâm đến mặt này của cuộc điều tra mà anh không trực tiếp tham gia, kinh nghiệm của anh chỉ hạn chế ở những chi tiết to bằng hạt bụi mà thôi.

- Bởi vì hắn đã đi trên con đường giết chóc từ lâu, Brolin đáp, cao giọng hơn chủ ý. Nhân cách của hắn đã được hình thành và bị ngược đãi suốt thời thơ ấu và phần lớn thời thiếu niên, khi hắn bị chấn thương vì cái chết của người mẹ, có lẽ đã quá muộn. Năm ngoái một số nhà báo còn khẳng định Leland đã quan hệ tình dục với mẹ hắn, điều này có thể không phải là không có cơ sở! Khi Leland rời khỏi nhà để sống một mình, hắn đã khổ sở, nhưng thoát khỏi tình trạng đó, và hắn, đứa trẻ thường xuyên cô độc, bị người khác xa lánh vì thường xuyên chuyển nhà và có lẽ vì hơi quá thô bạo, lại được chấp nhận. Hắn còn chinh phục được nhiều phụ nữ! Nhưng đặc biệt, hắn khám phá ra khả năng chi phối, và lấy làm thích thú. Tôi không biết nguyên nhân tại sao hắn chuyển sang hành động, lẽ ra phải nói chuyện với hắn. Những nạn nhân đầu tiên rất giống với mẹ hắn, tôi nghĩ điều này là một lời lý giải tự thân.

- Nhưng có phải hắn lựa chọn nạn nhân cuối cùng qua Internet không? Bentley hỏi.

- Julliette? Brolin hỏi lại cụ thể. Làm ơn đừng gọi là nạn nhân, cô ấy vẫn khỏe mạnh. Còn với những người khác… Leland lựa chọn nạn nhân của hắn theo những ảo ảnh xuất hiện trong lúc lang thang, một khuôn mặt, một con người, một thái độ…Với Juliette, hình như hắn thường trò chuyện với cô ấy trên Internet, nhưng cô ấy đã trốn chạy hắn, từ bỏ hắn, khiến hắn phát điên. Các anh đều biết phần tiếp theo của câu chuyện. Trên thực tế, Leland đã thể hiện khả năng tiếp thu rất nhanh, kể từ khi không còn bị giam kín trong gia đình ảm đạm, hắn ra ngoài xã hội và học được rất nhiều. Vốn là một thằng bé không biết mở đĩa CD, sau đó hắn đã đủ khả năng lướt web. Chúng tôi tìm thấy ở nhà hắn nhiều sách vở, trong đó phần lớn liên quan tới Internet và tin học. Thật đáng buồn, nhưng tôi nghĩ nếu sống trong một gia đình khác, hẳn là Leland đã có thể trở thành người tốt, có địa vị tốt.

Đâu là phần trách nhiệm của gia đình Beaumont trong chuyện xảy ra? Tất cả đều cố tránh bắt đầu cuộc tranh luận gai góc này.

Im lặng bao trùm căn phòng. Rồi một cơn gió ào tới đập vào vách kính, tạo thành tiếng kêu như muốn hét lên điều gì đó.

- Thế còn sinh học? Anh vừa nói hắn có khái niệm về sinh học, hắn có kiến thức đó như thế nào?

- Vâng, đây là một trong những bí mật mà Leland đã mang theo xuống mồ, Brolin đáp, hơi lúng túng. Chúng tôi không biết, ở nhà hắn không có bất cứ cuốn sách nào về đề tài này, cha hắn cũng không biết trả lời gì khác ngoài cho rằng hắn học được những điều hắn biết khi đi câu cá…

- Câu cá ư? Bentley ngạc nhiên.

- Phải, cha hắn hơi đần độn, Salhindro nhắc lại.

- Hắn sử dụng dao mổ rất thành thạo và điều này hắn không thể học được qua sách vở, nhưng tôi không thể khẳng định được hắn đã luyện tập trước đó bằng cách nào. Có thể trên động vật.

- Nhưng dù sao cũng có sự khác biệt sinh học giữa con vật và con người, Dimestro không đồng tình.

Brolin nhún vai.

- Tôi đã nói rồi đấy tôi không giải thích được.

- Thế còn những cẳng tay mà hắn đã chặt của các nạn nhân, hắn làm gì với chúng? Bentley Cotland hỏi.

- Cuối cùng, chúng tôi đã phát hiện ra hắn dùng chúng để làm khuôn cho các sản phẩm điêu khắc của hắn. Hắn đã thử nhiều phương pháp lưu giữ chúng, bằng cách tiêm hóa chất hoặc đặt chúng trong thạch cao, nhưng các thử nghiệm của hắn đều không có tính thuyết phục.

Một cơn gió nữa lại đập mạnh vào ô cửa sổ dài.

“Nhưng các anh sẽ bất ngờ khi tới ngôi nhà nơi hắn sống. Hầu như trống trơn, với ít đồ đạc tối thiểu. Không có biểu hiện của sự sống, không thể hiện tính cách con người, chỉ đơn thuần là chức năng. Như thế là bất bình thường. Đến mức sau cuộc điều tra, nhiều người cho rằng hắn phải có chỗ khác, một nơi riêng tư hơn, nơi hắn cất giữ những bí mật, nơi trú ngụ thực sự của hắn, nhưng không ai tìm thấy bất cứ dấu vết nào dù là nhỏ nhất cho phép khẳng định chắc chắn rằng có tồn tại một nơi như thế.”

Lloyd Meats mân mê chòm râu của mình rồi lên tiếng phá vỡ bầu không khí im lặng:

- Vậy thì chúng ta tập trung nỗ lực vào đâu, những người xung quanh Leland à?

- Kẻ giết người hôm thứ Tư biết rất nhiều về Letland, Salhindro nhận xét, hắn làm những việc mà chỉ chúng ta và Leland mới biết. Như vậy hắn là một người biết rất rõ về Leland, bạn hay đồng nghiệp hoặc là ai đó tiếp cận được với hồ sơ của chúng ta.

- Anh nghĩ đến một cảnh sát hay sao? Đại úy Chamberlin lên tiếng.

- Sao lại không, ở đâu chả có kẻ điên rồ, Salhindro đồng tình.

Meats bực tức.

- Thế cơ đấy! Từ đó suy ra đó là một người trong chúng ta…

- Tôi không nói là…

- Thôi! Đại úy Chamberlin ngắt lời.

Ông quay sang Brolin.

- Joshua, anh phụ trách cuộc điều tra này, anh có suy nghĩ gì?

Brolin đưa tay lên cằm vẻ nghĩ ngợi.

- Tôi muốn cảnh sát tiếp tục tuần tra quanh ngôi nhà đổ nơi tìm thấy xác chết, hung thủ có thể quay lại đó để sống lại ảo ảnh của hắn. Mặt khác, cần nghiên cứu tỉ mỉ các tư liệu, ghi lại tất cả những người đã tiếp cận với các báo cáo pháp y năm ngoái, chỉ ít người từng đọc chúng nên diện điều tra được thu hẹp lại. Nhưng tôi không nghĩ rằng chúng ta sẽ tìm được cái gì đó bằng cách ấy. Kẻ đã làm vụ này không biết Leland qua các báo cáo của chúng ta mà trực tiếp biết hắn, tôi tin chắc như vậy. Tôi sẽ chờ đợi những kết quả cuối cùng của bác sĩ Folstom và tôi sẽ lập hồ sơ tâm lý kẻ sát nhân. Sau đó tôi sẽ tới gặp các đồng nghiệp cũ ở nơi làm việc của Leland.

- Tôi có thể cử hai thanh tra nghiên cứu tư liệu. Meats nói.

- Còn tôi sẽ đảm bảo sao cho một xe tuần tra để mắt đến hiện trường vụ án với tần suất cao nhất có thể, Sanhindro khẳng định.

Bentley Cotland nhìn mọi người náo động xung quanh mình mà thực sự không biết phải làm gì hay nói gì, lại một lần nữa anh cảm thấy mình là một người thừa.

Đại úy Chamberlin cúi xuống phía anh.

- Anh sẽ trợ giúp thanh tra Brolin từ thứ Hai, nhưng trong lúc chờ đợi anh hãy làm theo tất cả mọi người, hãy nghỉ ngơi một chút.

Bentley gật đầu, anh không thích cái giọng độc đoán mà đại úy dùng để nói với anh, nhưng thông báo về một ngày nghỉ khiến anh lập tức quên đi mọi ý định xung đột thoáng qua. Lâu lắm rồi anh chưa có một ngày nhàn hạ nào.

Tất cả mọi người đứng dậy trừ Brolin. Anh nghĩ đến kẻ giết người mới đang tung hoành, một copycat biết rất nhiều về phương pháp của Leland. Nếu có điểm khác biệt trong cách hành động của chúng, thì đó chỉ là các chi tiết nhỏ, và trong một thoáng Brolin rùng mình, hoàn toàn không phải do lạnh. Anh vừa mới nghĩ rằng nếu Leland không chết mà bị tù, thì anh sẽ cầm điện thoại và gọi ngay người để kiểm tra phòng giam của đao phủ Portland.

Gió đập dữ dội vào cửa kính như báo cho anh biết về một mối nguy hiểm bí ẩn.
 

hoahongden12

Active Member

Mệt mỏi vì 1 đêm đầy xáo động và ít ngủ, Juliette gà gật suốt đầu buổi sáng thứ 7 ở nhà Camelia. Cô bạn gái tỏ ra đầy sức sống – như mọi khi – và quanh quẩn bên Juliette, không để cô được yên chút nào. Camelia lựa chọn kỹ càng trong tủ quần áo của mình xem món đồ nào thích hợp nhất với Juliette và cẩn thận tìm cho cô 1 bộ làm nổi bật dáng người. Camelia cảm thấy mình có nghĩa vụ chăm sóc Juliette, “không thể nào xinh đẹp và cao ráo như thế mà lại không tận dụng!” cô lúc nào cũng nhắc đi nhắc lại như vậy. Và hôm đó, Camelia quyết định rằng đã đến lúc 2 chị em đi chơi cùng nhau và buộc Juliette phải cảm thấy thứ mà cô ấy có: 1 phụ nữ tuyệt vời vừa duyên dáng, vừa xinh đẹp. Còn việc khó nhất phải làm: thuyết phục Juliette.

Giống như 1 con ong bận rộn, Camelia chạy đi chạy lại giữa các tủ quần áo, mở nước nóng chảy vào bồn, pha tinh dầu thơm, bày tất cả các món đồ làm đẹp trên bàn phấn – đồ trang điểm, sơn móng tay và đủ loại son – và còn chuẩn bị cả nước ép trái cây từ sáng sớm. Kế hoạch rất đơn giản nhưng hiệu quả: dành cả buổi sáng chuẩn bị, buổi chiều đi mua sắm và buổi tối đi chơi.

Lúc đầu, Juliette phản đối lấy lệ nhưng không đủ dũng cảm tranh luận với Camelia, cô cảm thấy quá mệt mỏi để có thể làm điều đó. Thế là cô nằm 1 giờ trong bồn tắm, nước nóng vuốt ve làn da và giúp cô tránh bị lạnh trong phòng tắm. Cô dần dần ngủ thiếp đi trong hơi tinh dầu mùi hoa quả rồi bị kéo ra khỏi giấc ngủ khi Camelia hỏi vọng qua cửa xem có phải cô định biến thành động vật thân mềm không. Cô không thích chiếc quần mà Camelia chọn cho mình. Nó bó chặt phần mông và loe rộng phần ống, thế mà Camelia lại thấy tuyệt vì nó làm nổi mông. May mà chiếc áo pull đúng với sở thích của cô, mặc dù cổ khoét hơi sâu. Cuối cùng, Juliette cũng rút ngắn được thời gian trang điểm vì cô trang điểm rất ít, chỉ tô viền mắt để tôn thêm màu xanh của đôi mắt và khẽ đánh 1 chút son môi. Lần này, Camelia chỉ thử 1 loạt phấn, rồi chọn 1 loại kem để tạo nước da rám nắng và rạng rỡ.

Trong lúc bận rộn ấy, Juliette đã nhiều lần định gọi cho Brolin khi nhìn thấy chiếc điện thoại nhưng lần nào Camelia cũng xuất hiện và bảo cô làm 1 việc gì đó.

Vào đến trung tâm thành phố, 2 cô gái đi tàu điện đến tận trung tâm thương mại thời thượng Pioneer Place. Ở đó, Camelia ngắm nhìn không mệt mỏi những thứ đồ gợi cảm nhất và cả những người đàn ông đi lại trong lối đi chính. Nhiều lần, Juliette nhắc nhở Camelia rằng cô đang thay quần áo trước mặt những ánh mắt những người đàn ông đi cùng bạn gái họ, nhưng Camelia chỉ nhún vai rồi lẩm bẩm ”mặc kệ!”. Rồi cứ nhìn Camelia thử chiếc áo bó sát hay váy dạ hội, cuối cùng Juliette cũng buông xuôi và ra về với vô số túi đồ trên tay.

Sau đó, Camelia còn phải thuyết phục mãi mới kéo được cô đến đỉnh Waterfront Park. Ngày sắp hết, sông Willamette phản chiếu ánh hoàng hôn giống như 1 dòng lửa lỏng chảy dài. Những chiếc du thuyền nhảy múa chậm chạp trong bến, còn các tòa nhà lần lượt tỏa sáng như vô vàn ngọn nến khổng lồ bên trên hàng cây trong công viên. Juliete và Camelia đến cổng “chợ thứ 7”, nơi thu hút khách du lịch nổi tiếng khắp cả nước. Ngoài hàng trăm sản phẩm, mặt hàng nào cũng vô cùng phong phú, chợ thứ 7 còn có hàng chục tiết mục biểu diễn đường phố, những quầy thực phẩm độc đáo và những quán bar náo nhiệt. 2 cô gái trẻ bước vào 1 quán bar giống quán rượu Anh, khắp nơi ốp gỗ và treo những chiếc đèn giả đèn ga để chiếu sáng các phòng. Ti vi đang phát lại 1 trận bóng đá, môn thể thao vẫn còn ít phổ biến trong nước, nhưng cũng tập hợp được 1 nhóm nam giới quanh quầy bar và gào thét mỗi khi có 1 pha suýt vào, cứ như họ nghĩ mình đá giỏi hơn vậy. Buổi tối trôi đi giữa những tiếng gào hét của các cổ động viên và tiếng nhạc Ailen đặc trưng của các quán rượu. Nhanh hơn Juliette nghĩ, các ly đã chất đống trên bàn của họ, rồi ngay sau đó cô nhận ra mình đã say. Camelia liên tục cười phá lên, cả Juliette cũng cười như điên vài lần. Nếu là 1 ngày khác, Camelia có lẽ đã tìm 1 bạn trai, 1 anh chàng đẹp trai đi 1 mình, có thể qua đêm với anh ta, tính cô là thế. Nhưng tối nay, Camelia hiểu rằng Juliette cần khuây khỏa hơn lúc nào hết và quá hiểu Juliette để biết rằng sự có mặt của 1 người đàn ông lúc này là không cần thiết. Juliette tuyệt nhiên không thích như vậy, cô không chịu nổi dù 1 hành động tán tỉnh đơn giản trong quán bar, cô cần cái gì đó lãng mạn hơn, lý tưởng hóa hơn, mặc dù kết cục luôn giống nhau. Tính cô là thế.

Cuối cùng họ về nhà bằng taxi với nụ cười mãn nguyện trên khuôn mặt. Đêm hôm đó, Juliette không kịp buồn, cô ngủ say ngay, thậm chí không biết rằng mình đang ở nhà Camelia.

Trưa hôm sau, cô quyết định gọi cho Joshua Brolin. Sau khi nghĩ đến chuyện này suốt cả buổi sáng và nghĩ ngợi cho đầu bớt đau, cuối cùng cô đã bấm số máy riêng của anh đúng lúc cô nghĩ mình sẽ vững vàng được mà không cần gọi cho anh.

Brolin tỏ ra rất có thiện cảm và thân mật. Họ nói với nhau vài chuyện không đâu mà không dám đi xa hơn, rồi Juliette đề nghị anh cùng đi chơi buổi chiều, Brolin đồng ý ngay. Anh có vẻ thích thú khiến Juliette cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Cô sợ mình trở thành 1 con đỉa, sợ rằng Brolin sẽ tìm ra cái cớ vớ vẩn nào đó để không gặp cô. Nhưng anh thú nhận với cô rằng anh cần trao đổi suy nghĩ, và họ hẹn gặp nhau vào đầu buổi chiều ở vườn hồng quốc tế.

Vườn hồng quốc tế nằm trong Washington Park nổi tiếng khắp thế giới vì sự đa dạng cũng như vẻ đẹp rực rỡ của các loại hồng. Hơn 500 loài hoa hồng làm sáng rực cả công viên từ tháng 5 đến tháng 9, tỏa sáng óng ánh giữa những lối đi yên tĩnh. Nếu đem đặt giữa rừng có thể nói đây là 1 dấu tích chốn địa đàng.

Juliette cùng Brolin đi bên nhau giữa những đám hoa sáng rực mà tiết trời đầu tháng 10 chưa tác động tới. Mùa hạ đã thực sự nhường chỗ cho mùa thu, mầu trời xám xịt, thứ màu xám đồng đều đến mức không thể nhận ra 1 vết lồi lõm nào, không thể biết trời bắt đầu từ đâu và kết thúc từ đâu. 1 cơn gió mát thổi tới khiến hàng ngàn cánh hoa nhăn lại giống như những tấm ga bằng lụa,

- Ít người quá, thật ngạc nhiên vì hôm nay chủ nhật, Brolin nói, co người trong chiếc áo vest da.

Vì tháng 10 đã bắt đầu rồi, mọi người đều nghĩ là vườn hoa đã tàn.

Gió làm tung những lọn tóc đen thò ra ngoài chiếc mũ bê rê của Juliette. Đằng xa, 1 đám mây cánh hoa rời ra và bay lên thành hình xoáy.

- Đẹp quá! Cô thốt lên. Như 1 cơn bão hoa hồng.

Brolin gật đầu và nhìn cô gái trẻ có cặp mắt xanh sáng lấp lánh như mắt trẻ con.

- Tinh thần em thế nào? Anh hỏi

- Tốt anh ạ. Em ở bên nhà chị Camelia suốt để trốn cánh nhà báo cứ chầu trực trước cửa nhà em. Em không thể tập trung nổi vào bài học, em có cảm tưởng sẽ không qua được năm cuối ngành tâm lý! Trừ việc đó ra, em cảm thấy rất ổn.

- Họ sẽ thấy mệt mỏi, các nhà báo ấy. Rồi họ sẽ chuyển sang chuyện khác. Sau vài ngày nữa, họ sẽ quên em thôi.

- Em hy vọng thế.

Juliette còn nhớ năm ngoái họ xúm vào cô dai dẳng như thế nào. Gây sức ép với cô bằng những câu hỏi thiếu tế nhị, soi mói cuộc sống của cô, để cuối cùng quên đi sau vài tuần.

- Joshua... em muốn biết 1 điều.

Họ dừng lại trên 1 lối đi phủ đầy cánh hoa đủ màu sắc.

- Em muốn anh nói cho em biết suy nghĩ của anh về kẻ đã giết người phụ nữ hôm trước. Có thật là hắn bắt chước Leland Beaumont không?

Vài giây thật dài, sau Brolin mới đáp:

- Đúng, có thể nói như thế. Hắn đã hành động theo đúng cách đó.

- Phương thức hành động giống hệt nhau sao? Juliette hỏi, cô không lạ lẫm với loại từ vựng chuyên môn này vì cô đã học ở trường.

Brolin gật đầu. Họ tiếp tục bước đi.

- Anh đã nói chuyện với cấp trên chiều hôm qua. Anh đề xuất cử 1 người tới bảo vệ em.

Juliette mở to mắt.

- Bảo vệ em ư? Tại sao? Mọi người nghĩ hắn có thể làm điều xấu gì với em sao?

Brolin ngần ngừ 1 lát rồi giải thích:

- Không hẳn như vậy. Chỉ là đề phòng thôi, để em được an toàn. Đại úy Chamberlin đã đồng ý.

- Các anh nghĩ kẻ điên khùng đó tự cho mình là Leland beaumont, hắn có thể quyết định kết thúc việc mà đao phủ Portland đã khởi sự ư? Cô vừa giả thiết vừa khẽ rùng mình.

Brolin liếm môi. Anh không loại trừ khả năng này, thậm chí chính vì nghĩ như vậy mà anh đã đề nghị cử người để mắt tới Juliette.

- Anh không nghĩ thế, anh nói dối. Không hoàn toàn giống hệt, nhưng có lẽ nên thận trọng hơn để không gặp rủi ro nào.

Thật khó mà nói được điều gì có thể diễn ra trong đầu 1 kẻ giết người kiểu này, nhưng cực kỳ hiếm khi, thậm chí là không thể, xảy ra việc hắn có thể có cùng ham muốn và thèm muốn cái chết của kẻ mà hắn bắt chước. Juliette từng là 1 nạn nhân của Leland Beaumont. Thế nhưng cũng có thể kẻ giết người lần này quyết định kết thúc việc mà hình mẫu của hắn đã bắt đầu. Như 1 hành động tôn sùng, 1 bằng chứng tỏ lòng kính trọng.

Joshua đợi 1 lát rồi mới nói thêm:

- Thực ra, 1 chiếc xe bình thường đã đậu trước cửa nhà em từ chiều qua.

Juliette sững người.

- Nghiêm trọng thế sao?

Đây là câu khẳng định chứ không phải 1 câu hỏi thực sự.

- Cứ cho là để đảm bảo an ninh tốt hơn. Nhưng nếu em ở cùng ai nữa thì không phải lo sợ gì cả. Có lẽ em nên ở nhà Camelia 1 thời gian, được không?

Juliette dứt khoát lắc đầu.

- Không, không thể được! Em sẽ không để cho 1 kẻ điên làm xáo trộn cuộc sống của mình, em đã quyết định rồi.

Nỗi thất vọng hiện lên trên khuôn mặt Brolin.

- Chỉ trong vài ngày thôi mà, cùng lắm là 1 hoặc 2 tuần, anh nói, hy vọng làm cô bớt căng thẳng.

- Anh nghĩ hắn sẽ bị đưa ra tòa trong 2 tuần hay sao? Cô hỏi với giọng mỉa mai chứ không phải vì tò mò.

- Anh không biết. Chỉ là để em được an toàn.

- Không, cảm ơn. Leland Beaumont đã làm mất 1 phần đời em, bây giờ không phải là lúc em phải thoát khỏi tình cảnh mà 1 kẻ giết người bẩn thỉu sẽ lại nhấn em vào. Em sẽ về nhà ngay tối nay và tiếp tục sống ở đó!

Giọng cô lên cao hơn chủ ý của cô, ngay lúc đó cô tự trách mình đã cáu giận với Brolin. Xét cho cùng thì anh cũng chỉ muốn giúp đỡ cô.

- Em rất tiếc. Cô xin lỗi.

- Anh hiểu. Ít nhất em cũng nên chấp nhận có cảnh sát giám sát nhà em.

Cô chậm chạp gật đầu.

1 cơn gió rít dài táp vào mặt họ. 1 đám cánh hoa hồng dày đặc xoay quanh họ rồi bay lên.

- Thời tiết thế đấy! Juliette thốt lên và đưa tay lên giữ chiếc mũ bê rê cho nó khỏi bay mất.

- Đây chính là Portland vào tháng 10!

- Đây chính là Portland, chỉ cần ngắn gọn thế thôi! Cô sửa lại khiến anh mỉm cười.

Brolin cúi về phía Juliette để không phải nói to trong gió.

- Anh mời em đi xem phim được không? Hình như đang có phim hay lắm...

Brolin không muốn quay về nhà. Cả sáng nay anh đã ngồi đọc lại toàn bộ hồ sơ về Leland Beaumont và cần xả hơi vài giờ trước khi lại chìm vào địa ngục đầy máu.

1 nụ cười hiện ra khá lâu trên môi Juliette.

- Đúng là thứ em cần!

Cô luồn cánh tay mình vào dưới cánh tay Brolin và họ quay lại trong khi cỏ cây xung quanh đang bị cuốn lên đầy ấn tượng. Trời sắp nổi cơn giông.
 

hoahongden12

Active Member

Ngày thứ 2, mùng 4 tháng 10, bắt đầu rất xấu. 1 cơn giông dữ dội vừa mới hoành hành cả đêm trong thành phố, và Brolin ngủ không ngon giấc. Cho dù anh đã lên giường đi ngủ với cảm giác ngọt ngào và êm dịu hiếm khi có được. Ngày hôm qua bên Juliette là 1 trong những ngày đẹp nhất. Đi xem phim là khoảng thời gian thư giãn dễ chịu, và 2 tiếng sau đó ở hiệu kem Ben amp; Jerry, họ đã trò chuyện và cùng cười trong sự đồng cảm mới nảy nở. Joshua yêu Juliette. Trên thực tế, anh yêu cô rất nhiều theo gu của mình. Anh cảm thấy ngày càng bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp thuần khiết và tính cách riêng của cô. Cô không giống nhiều cô gái cùng tuổi chỉ nghĩ đến chuyện đi chơi và vui đùa bằng mọi cách. Anh thích phần bí ẩn trong cô, và cả tính lãng mạn cổ hủ mà cô cố gắng che giấu nhưng không được. Cô 24 tuổi, còn anh biết rằng điều này không phải vấn đề. Điều khiến anh lo lắng hơn cả là quá khứ chung của 2 người. Anh là người đã cứu sống cô, và chính vì cô mà lần đầu tiên trong đời anh giết người. Anh sợ rằng đây không phải là cơ sở cho 1 mối quan hệ tốt đẹp. Có thể gắn bó với anh vì sự kiện đó, cô đã thiêng liêng hóa sự có mặt của anh, đặt anh trên 1 chiếc bệ mà anh không xứng đáng, càng không đúng với ý thích của anh vì anh đã giết 1 con người – dù có phải kẻ giết người hay không. Nhưng có thể anh đã nhầm, Juliette chỉ gắn bó với anh bằng tình bạn thôi sao? Cô thật xinh đẹp, đứng trước cô, anh muốn ôm cô trong vòng tay. Sáng nay khi thức giấc, anh biết mình đã mơ thấy cô ấy. Anh cảm thấy vị đắng của nỗi thất vọng, trong mơ, anh và cô gần nhau, thân thể họ chạm vào nhau, tim anh đập nhanh vì cô. Nhưng khi anh thức dậy, không có gì ngoài mưa đang đập vào cửa sổ.

Ngày mới bắt đầu được vài giờ, nhưng anh đã hiểu mình nhớ Juliette.

Cửa phòng làm việc mở ra, Lee Fletcher xuất hiện. Đây cũng là 1 thanh tra ở đội tội phạm giống anh, nhưng Lee khoảng 40 tuổi, với chiếc bụng phệ và đầu bắt đầu hói, bộ ria mép dày để che giấu những thất vọng trong nghề nghiệp và tình cảm.

- Này, QB, đây là báo cáo của pháp y.

Lee bước vào và đặt nhiều trang giấy fax lên chiếc bàn đã chật chội

- Dường như đao phủ Portland đã trở lại! Ở địa vị của cậu, tôi sẽ dè chừng kẻ mà tôi đã bắn viên đạn 9mm vào đầu.

Fletcher cười phá lên. Anh ta không thích Brolin, anh ta thấy anh còn quá trẻ để làm việc ở đội chống tội phạm, và nhất là không nên làm việc 1 mình. Anh ta thấy 1 người từng là điệp viên liên bang không nên chõ mũi vào việc của anh ta, lại càng không nên khi cậu ta có vẻ mặt 1 siêu sao bóng đá. Chính Fletcher đã đặt cho Brolin biệt hiệu QB và thấy rằng biệt hiệu này rất hợp với hình thể giống 1 ngôi sao thể thao trẻ của Brolin. “Mặt mũi đẹp, cơ bắp đẹp nhưng số 0 trong feeling”, Fletcher thường công kích như thế khi nói về Brolin. Nghĩ cho cùng thì Fletcher tin chắc rằng nếu anh chàng thanh tra trẻ này không chuyển đến phòng tội phạm, thì anh ta sẽ là người phụ trách cuộc điều tra về đao phủ Portland chứ không phải kẻ vô dụng đó. Lẽ ra người ta phải thấy mặt mũi anh ta trên bản tin buổi tối những ngày sau cái chết của Leland Beaumont. Rồi ai mà biết được? Có thể nhờ thế mà các rắc rối với Liz được dàn xếp ổn thỏa và anh ta tránh được vụ ly hôn.

- Coi chừng hồn ma đấy, QB!

- Tôi sẽ nghĩ đến chuyện đó, cảm ơn anh Fletcher.

Fletcher nháy mắt và kêu lên 1 tiếng “Bouh!” hài hước khi đi ra, rồi lại cười và biến mất.

- Ngớ ngẩn...

Brolin vừa lẩm bẩm vừa cầm lấy hồ sơ pháp y.

Bác sĩ Sydney Folstom đã tiến hành phân tích giải phẫu bệnh học và sau khi quan sát nhờ vào các loại kính hiển vi cực mạnh và các kỹ thuật tiên tiến, bà đã lập lại diễn biến sự kiện. Ngay khi có 1 tổn thương trên cơ thể người, nhiều yếu tố tế bào tích dồn lại theo 1 trật tự nhất định và với 1 chức năng rất chính xác, sau đó, chuyên gia giải phẫu bệnh học chỉ cần nghiên cứu tỉ mỉ các dữ liệu thu thập được đối với từng vết thương. Khi ấy, chuyên gia sẽ nhận thấy sự hiện diện của 1 số yếu tố và sự vắng của 1 vài yếu tố khác, từ đó thấy rõ vết thương nào có trước vết thương nào có sau. Rồi sau khi so sánh, chuyên gia có thể xác định trình tự diễn ra sự việc.

Brolin lật thật nhanh những trang đầu tiên diễn giải và kết luận về giải phẫu tử thi vì anh đã có mặt trong khi tiến hành, và dừng lại ở phần tiếp theo.

“Nghiên cứu tế bào học sau khi chết, đặc biệt là nghiên cứu về potassium trong thủy dịch, khẳng định cái chết diễn ra vào đêm thứ 4 ngày 29 tháng 9, rạng sáng thứ 5, ngày 30 tháng 9. Khoảng 12 giờ đêm đến 4 giờ sáng.”

Anh bỏ qua vài dòng miêu tả. Toàn các danh từ và lời giải thích về các kỹ thuật được sử dụng, với những thuật ngữ lạ lẫm như fibronectin, acid phosphatase, rồi alcalin, hay cả của bổ sung, 1 loạt từ vựng chính xác của pháp y, khó hiểu ngay với 1 thanh tra trẻ từng được đào tạo ở FBI.

Phân tích máu của nạn nhân cho thấy có metan và suy ra là có chloroform. Các vết tụ máu bên trong ở cánh tay và các sợi bông tìm thấy trong miệng cho phán đoán rằng kẻ tấn công đã xuất hiện từ phía sau nạn nhân và chụp 1 tấm vải tẩm chloroform lên miệng để nạn nhân ngủ lịm đi.

Không có bất cứ dấu hiệu lâm sàng nào cho thấy nạn nhân tỉnh lại sau đó. Hung thủ chắc chắn đã mang nạn nhân đến ngôi nhà để tối mới giết chết. Đầu tiên bằng những nhát dao đâm mỗi lúc 1 mạnh hơn, như thể tên giết người không tự kiểm soát được nữa. Rồi những vết chảy máu nghiêm trọng ở âm đạo cho thấy sau đó hắn tập trung chú ý vào bộ phận sinh dục của nạn nhân lúc nạn nhân vừa mới chết. Mặc dù có động mạch và tĩnh mạch chính ở cánh tay, nhưng những vết chảy máu nhỏ được xác minh bằng kính hiển vi cho thấy hung thủ đã cắt 2 cẳng tay cuối cùng, cũng tương tự như vậy với 2 vết thương há miệng ở ngang hông. Khó mà xác định chính xác được vết cắt nào xảy ra trước.

Cuối cùng, phân tích vết bỏng axit ở trán bằng kính hiển vi không cho phép nói gì hơn vào thời điểm hiện tại. Không lộ ra gì cả tuy nhiên, dường như khó có chuyện hung thủ gây ra vết bỏng khi nạn nhân còn sống, mặc dù không có gì khẳng định điều này. Hiện tại, máy sắc ký khí của phòng thí nghiệm đang xác định loại axit được sử dụng.

Brolin đặt báo cáo pháp y cạnh hồ sơ của anh về vụ này cùng nhiều tấm ảnh nằm rải rác trên mặt bàn. Anh đã có những yếu tố cần thiết đầu tiên để phác họa tâm lý hung thủ. Chuyên ngành nghiên cứu nạn nhân học, bao gồm nghiên cứu nạn nhân, cũng đóng vai trò quan trọng, nhưng hiện tại nạn nhân chỉ là 1 cái xác X, như trong tiếng lóng. Anh chỉ cần rút ra những kết luận đầu tiên từ lô dữ liệu không đầy đủ.

Anh đã có những ý tưởng chính xác, những nhân tố đặc biệt mà anh nhặt ra trong quá trình điều tra, nhưng hiện tại anh phải quên đi tất cả và nghiên cứu toàn bộ hồ sơ từ con số 0 mô tả tâm lý kẻ giết người.

Anh rót nước từ ấm đun của văn phòng và pha cho mình 1 ít trà. Thời tiết âm u khiến ánh sáng trở thành màu xám xanh không chút ấm áp. Phần lớn các tòa nhà đối diện đều sáng đèn, mặc dù đang là giữa buổi sáng.

“Cứ như thế giới không muốn bước ra khỏi đêm”, Brolin tự nhủ khi nhìn quang cảnh qua cửa sổ.

Anh nhìn được khắp thành phố và cảm thấy toàn thành phố được bao phủ bằng 1 bầu trời và 1 thứ ánh sáng xám xịt. Gần giống như mọi thứ được bao phủ bởi 1 lớp màn thần bí. Và trong vài giây, Brolin lại nghĩ về những buổi tối thơ ấu, khi anh thích thú tự kể cho mình các câu chuyện về phù thủy và phép thuật hắc ám.

“Cứ như trong phim siêu thực vậy”, anh lẩm bẩm.

Pha trà xong, Brolin ngồi vào bàn, bật đèn bên cạnh và đặt tách trà bốc khói xuống. 1 công việc còn dài, vô vị và khó chịu đối với thần kinh, đang chờ đợi anh.
 
Bên trên