Tử Thư Tây Hạ

hoahongden12

Active Member
Tử Thư Tây Hạ
Quyển 3 - Chương 11: Thế giới phía sau vách đá

Trước tiên anh ấy cho những học viên này bốc thăm; những ai bốc thăm trúng sẽ bị bịt mắt lại, rồi dẫn tới một hang núi ở rất xa căn cứ, đồng thời anh ta cũng nói rõ là sẽ không đi đón những học viên đó về, còn họ thì không được rời khỏi hang núi. Do xung quanh đều là sa mạc mênh mông, nên những học viên này chỉ còn biết ngoan ngoãn ở lại trong hang núi, chịu đựng nóng nực, giá lạnh, khủng hoảng, đói khát, cô độc, và tuyệt vọng……

1

Cuồng phong cuộn sóng lớn, đập âm âm lên vách đá phía dưới vực sâu, đại dương cuồng nộ nuốt chửng mọi thứ. Tới khi Shchedrin dẫn người tới bên vực thẳm, thì trên đó chỉ còn lại một đống máu, nhưng không có bát cứ một thi thể nào.

Shchedrin sững sờ nhìn đại dương tối đen phía dưới vực thẳm, mặc cho gió biển cuốn lấy những hạt mưa lạnh giá lên măt anh.

“Phía dưới vực núi toàn là đá lởm chởm, những gã đó đều bị thương nặng, nên nếu không ngã chết thì chắc chắn cũng Chết đuối rồi!”, Nicholas đứng sau Shchedrin nói.

Lúc này Shchedrin mới định thần lại, anh ra lệnh “Lập tức thông báo với bộ đội hải quân để họ tìm kiếm trên biển thi thể của những gã đó, bắt buộc phải tìm thấy!”

“Ngoài ra...”, Shchedrin lại ra lệnh, “Tăng cường giám sát tàu thuyền ra vào cảng, đặc biệt là tàu thuyền nước ngoài, tuyệt đối không cho phép trên thuyền của họ xuất hiện thêm người. Nhớ rõ, nếu cần thiết thì có thể lên thuyền kiểm tra”.

Shchedrin dặn dò xong, thẫn thờ nhặt khẩu AK-47 lên, đây chính là khẩu súng trong tay Lý Quốc Văn. Anh tháo băng đạn ra, trong đó đã hết đạn, anh lại nhặt một khẩu khác lên, cũng không còn đạn.

Shchedrin quẳng khẩu súng không cho Nicholas rồi than thở: “Chúng đã bắn hết sạch đạn, sau đó mới chọn cách tự sát.”

“Lúc trước Branch đã huấn luyện họ như vậy đấy!”, Nicholas có vẻ khá bình tĩnh.

“Ồ! Cậu hãy kể về Branch cho tôi nghe xem anh ấy đã huấn luyện lũ điên này thế nào?”, tuy Shchedrin đã ở cùng Nicholas hai năm nay, nhưng rất ít khi nói về Branch.

“Kể từ đâu bây giờ nhỉ? Anh hỏi rằng Branch đã huấn luyện lũ điên này thế nào ư, tôi có thể nói với anh rằng, người mà có thể huấn luyện ra lũ điên thì bản thân anh ta chắc chắn cũng là một gã điên.”

“Trước đây tôi vẫn không tin, giờ thì... giờ thì tôi tin rồi!”

“Điển hình như việc anh ấy huấn luyện nghị lực và gan dạ cho đám học viên này thì vô cùng tàn khốc. Anh ấy thường tổ chức cho đám học viên chơi một trò chơi gọi là trò chơi mạo hiểm với cái chết.”

“Trò chơi mạo hiếm với cái chêt ư?”

“ừm, trước tiên anh ấy cho những học viên này bốc thăm, những ai bốc thăm trúng sẽ bị bịt mắt lại, dẫn tới một hang núi ở rất xa căn cứ, đồng thời anh ta cũng nói rõ là sẽ không đi đón những học viên đó về, còn họ thì không được rời khỏi hang núi. Nghe nói trong hang núi đó rất đáng sợ, quỷ khóc sói hú, không có thực phẩm và nguồn mrớc. Học viên ít nhất phải ở trong đó một đêm, nhưng có lúc phải ở đó mấy ngày mấy đêm thì Branch mới đến đón họ về.”

“Lẽ nào những học viên đó không bỏ trốn sao?”

“Không thể! Bởi vì xung quanh toàn là sa mạc mênh mông, học viên lại đều bị bịt kín mắt đưa tới đó, nếu họ rời khỏi hang núi đó thì cuối cùng cũng chỉ có chết mà thôi.

Bởi vậy những học viên đó chỉ có thể ngoan ngoãn ở lại trong hang núi, chịu đựng nóng nực, giá lạnh, khủng hoảng, đói khát, cô độc, tuyệt vọng... và chỉ có anh ta, Branch, mới là cứu tinh của họ. Học viên trong hang núi chỉ biết chống mắt chờ đợi sự xuất hiện của Branch thì họ mới được cứu.”

“Hóa ra còn có cả cách huấn luyện tàn khốc như vậy, làm như vậy vừa có thể huấn luyện sự nhẫn nại và độ gan lì của học viên, lại vừa có thể khiến họ nảy sinh sự ỷ lại tuyệt đối vào Branch!”, Shchedrin chỉ nghe Nicholas kể lại mà cảm giác tim mình như bị bóp nghẹt, thật khó chịu làm sao.

“Bởi vậy sau khi Branch chết, những học viên này! Không! Phải nói là bầy sói hoang này không còn ai có thể trói buộc được chúng nữa.”

“Cậu đã tới hang núi đó chưa?”

“Chưa. Hang núi đó rất đáng sợ, tôi không muốn tới đó. Hơn nữa, Branch kể rằng ở đó rất nguy hiểm nên cũng chưa từng bảo bọn tôi tới đó, lần nào cũng là anh ấy tự đi. Nghe nói, có lúc... có lúc anh ấy cũng ở trong hang núi đó cả đêm, giám sát học viên, quan sát biểu hiện của họ.”

“Gã điên đó!”, Shchedrin hậm hực nói, “Giờ thì đem tới bao nhiêu là phiền phức cho chúng ta.”

Shchedrin đi xuống vực núi, nhìn những phần cơ thể đứt gãy ngổn ngang trên mặt đá mà không khỏi cảm thấy bi ai. Anh không ngờ lại phải trả giá đến mức này, cho dù tất cả những gã này đều chết rồi nhưng e rằng trong cơn thịnh nộ, đồng chí Yuri Andropov cũng không tha cho anh, đâu.

Shchedrin nhìn lại đồng hồ, đã là 7 giờ tối. Trời đã tối từ lúc nào, phía cảnh sát hải quân vẫn chưa có tin tức gì, ngoài cảng biển cũng không có tin tức gì chuyển tới. Anh hoảng loạn lo lắng rồi đột nhiên nghĩ ra, muốn cứu mình có lẽ chỉ có một người.

2

Tại chi nhánh của KGB, Shchedrin thay quần áo ướt mưa ra, Nicholas vào báo cáo: “Phía cảnh sát hải quân nói rằng mặt biển hôm nay sóng quá lớn, dù họ có ra biển tìm kiếm cũng chẳng thấy gì.”

“Vớ vẩn! Kiếm cớ, đều là kiếm cớ!”, Shcherin chửi toáng lên.

“Nhưng hôm nay mặt biển sóng cũng to thật!”

“Tôi không cần biết sóng có to hay không, cậu nói với họ bắt buộc phải vớt được những học viên đó lên, sống phải trông thấy người, chết phải nhìn thấy xác, đây là mệnh lệnh của đồng chí Yuri Andropov!”. Shchedrin bình tĩnh lại một chút, nói tiếp: “Còn nữa, cậu có thể đi động viên những chiếc thuyền đánh cá để họ dùng lưới vớt, vớt được thi thể của những gã đó sẽ có thưởng.”

Shchedrin dặn dò xong, cũng không buồn ăn tối, mà liền vội vàng tới buồng thẩm vấn. Anh nóng lòng muốn biết được những thứ mà mình hứng thú từ gã người Mỹ tên là “White’ đó.

White bị dẫn tới phòng thẩm vấn, rõ ràng là mấy tiếng bị nhốt ở đây đã khiến anh ta cảm thấy thật tồi tệ. Vừa trông thấy Shchedrin, anh ta liền gào lên: “Các anh thế này là vi phạm nhân quyền, tôi muốn gọi luật sư của tôi!”

“Luật sư của anh? Luật sư của anh ở tận bên Mỹ cơ!”, Shchedrin cười nhạt.

“Các anh không được đối xử với tôi như vậy, tôi là công dân nước Mỹ!”, White vẫn rất ngoan cố.

“Tôi nhắc nhở anh, ở đây không phải là nước Mỹ.”, Shchedrin ngập ngừng một lúc rồi móc thẻ của mình ra trước mặt White, và nói tiếp: “Hơn nữa tôi phải nhắc nhở anh rằng, chúng tôi không phải là cảnh sát, có biết quốc huy trên này không?”

White nhíu mày nhìn nhìn, lắc lắc đầu: “Không biết!”

“KGB, nghe thấy bao giờ chưa?”

Lúc White nghe thấy từ KGB, anh ta bỗng giật thót mình, tất cả những điều này đều không lọt qua được mắt của Shchedrin. “KGB, tôi đã nghe qua!”, White bình tĩnh nói.

“Nghe thấy thì tốt. Anh phải hiểu rằng, những vụ án bình thường thì không tới lượt chúng tôi quan tâm, chỉ có những vụ án lớn đặc biệt quan trọng thì chúng tôi mới ra tay. Nghe rõ chưa hả?”

“Tôi không hiểu mình đã liên quan tới vụ án gì mà lại coi là vụ án trọng đại?”, mặt White đầy vẻ vô tội.

“Vậy thì tôi nói cho anh biết, những gã mà anh gặp chiều nay đều là những phần tử nguy hiểm nhất, bởi vậy..

“Bởi vậy các anh nghi ngờ tôi?”

“Chẳng lẽ anh không đáng để nghi ngờ sao? Những thuyền viên cùng lên bờ với anh đều đã quay lại thuyền, tại sao chỉ có mình anh tới cái công xưởng hoang phế đó?”, Shchedrin chất vấn.

“Tôi đã nói rồi mà, tôi được một người bạn nhờ tới đó để gặp họ. Tôi cũng không quen biết những người đó, những gã mà anh gọi là phần tử nguy hiểm!”, tâm trạng của White lại trở nên bị kích động.

“Được rồi, tôi tin anh không quen những người đó. Vậy thì chúng ta sẽ nói về người bạn của anh, anh ta là ai?”

“Thực ra tôi cũng không biết anh ta là ai?”

“Anh không biết tên bạn anh?”, Shchedrin cười nhạt.

“Anh ấy nói rằng anh ấy tên là Martin, người Mỹ, phụ lái của một tàu chở dầu. Tôi và anh ấy quen nhau tại Yokohama Nhật Bản, lúc đó hai chúng tôi cùng uống rượu trong quán bar, quen nhau như vậy đấy!”

“Nói tiếp đi!”

“Tôi và Martin nói chuyện rất hợp nhau, anh ấy nghe nói tàu của chúng tôi sẽ tới Vladivostok nên đã đưa cho tôi năm nghìn đô la để tôi giúp anh ấy một việc.”

“Để anh giúp những gã đó vượt biên? Nếu vậy thì các anh ngây thơ thật đấy”

“Không! Anh ấy không bảo tôi giúp những người đó vượt biên. Thứ nhất, tôi chỉ là thuyền viên bình thường, không đủ tầm để thuyết phục thuyền trưởng; thứ hai, là những người đó quá đông, mục tiêu quá lớn, không thể đưa hết họ lên tàu. Ban đầu tôi cũng tưởng rằng Martin muốn nhờ tôi giúp những người đó vượt biên, nhưng anh ấy lại chỉ muốn tôi chuyển cho họ một bức thư.”

“Một bức thư? Nội dung là gì?”

“Tôi không đọc thì sao mà biết được!”

“Mẹ kiếp!”, Shchedrin chửi rủa, bức thư đó chải chắn bị nuốt vào bụng cá cùng Lý Quốc Văn rồi. “Lẽ nào toàn bộ sự việc chỉ đơn giản vậy thôi sao?”, Shchedrin chằm chằm nhìn White bằng ánh mắt đầy nghi ngờ.

Chỉ đơn giản vậy thôi, còn thì tôi chẳng biết gì cả!”, White càng tỏ ra vô tội.

“Anh cho rằng tôi sẽ tin anh sao?”

“Tại sao lại không tin tôi?”

“Anh không cảm thấy câu chuyện mà anh bịa ra cỏ quá nhiều sơ hở sao?”

“Câu chuyện bịa ra? Những gì tôi nói đều là sự thật!”, White cuống lên.

“Sự thật? Vậy tôi hỏi anh, theo như những gì anh nói thì anh và Martin đó, còn cả đám phần tử nguy hiểm vốn không quen nhau, vậy tại sao anh lại biết những người đó lẩn trốn trong công xưởng bỏ hoang bên bờ biển?”

“Đó là do Martin nói với tôi!”, White rất bình tĩnh trả lời.

“Không thể như vậy! Đám người đó không thể có cách nào liên lạc được với thế giới bên ngoài, nhất là với nước ngoài, vậy tại sao Martin lại biết được chúng trốn trong công xưởng bỏ hoang cạnh bờ biển?”

“Biết đâu các anh để sót gì đó thì sao?”

Shchedrin tức tốc ngẫm nghĩ lại một lượt kí ức về cả chặng đường hành động lần này, nhất là những gì đã trải qua mấy ngày hôm nay tại Vladivostok, cuối cùng, anh tin rằng những học viên đó không thể có bất cứ sự liên lạc với thế giới bên ngoài, chứ đừng nói gì tới việc liên lạc với nước ngoài. “Mấy hôm nay tôi đã giám sát tất cả các cuộc gọi quốc tế từ Vladivostok, nhất là những cuộc gọi đi Nhật Bản, nên những phần tử nguy hiểm đó không thể làm nảy sinh bất cứ quan hệ gì với cái người tên là Martin ở Ykohama đó được!”, Shchedrin nói như đinh đóng cột.

White nhún vai: “Vậy thì tôi cũng không biết! Martin đưa địa chỉ cho tôi, bảo tôi tới công xưởng bỏ hoang bên bờ biển để tìm những người mà các anh gọi là phần tử nguy hiểm. Sự việc chỉ là như vậy, tôi chỉ là một người trung gian.”

Shchedrin không hỏi thêm được bất cứ thông tin có giá trị nào từ White, đành phải hạ lệnh cho người tạm áp giải White đi, sau đó tức tốc ra lệnh cho Nicholas: “Kiểm tra ngay xem tàu ‘Joyce’ trước khi tới Vladivostok, có phải đã từng cập cảng Yokohama hay không?”

Chẳng mấy chốc Nicholas đã kiểm tra ra kết quả:

Kiểm tra rồi, trước khi tàu ‘Joyce’ tới Vladivostok, quả thực đã cập cảng Yokohama, hơn nữa còn do trục trặc máy móc nên đã dừng lại tại Yokohama những ba tuần.”

“Thời gian ba tuần, đây quả thực là quãng thời gian khá dài để White quen biết cái gã Martin bí ẩn đó, nhưng giải thích thế nào về việc White có thể tìm thấy ngay được công xưởng bỏ hoang đó?”, Shchedrin vẫn không sao hiểu nổi, anh càng nghĩ càng cảm thấy cái gã White này nhất định vẫn còn giấu giếm điều gì đó.

3

Hai ngày sau đó, thời tiết dần đẹp lên, bộ đội hải quân và ngư dân vớt được mấy cái xác dưới biển lên, thi thể đều được đưa về KGB. Shchedrin kiểm tra cẩn thận tất cả những thi thể đó, những thi thể này đều thủng lõ chỗ, ngoài vết đạn trên người thì còn rất nhiều xương bị gãy, do nhảy xuống vực, nên thi thể nào trông cũng vô cùng thảm hại.

Tất cả những thi thể vớt từ biển lên, cộng thêm cả những thi thể trong công xưởng đổ nát, đều được để trong nhà lạnh. Shchedrin lại đợi thêm một tuần, nhưng không còn thi thể nào được vớt lên nữa. Shchedrin đếm tất cả thi thể trong nhà lạnh, tổng cộng là 41 thi thể, vẫn còn thiếu bảy thi thể. Anh muốn đối chiếu với danh sách, làm rõ thân phận của từng thi thể, nhưng hơn chục cái xác được vớt từ dưới biển lên do ngâm nước quá lâu nên đều bị trương phình, rất khó để nhận diện.

Nicholas an ủi Shchedrin: “Bảy người chưa tìm được chắc chắn đều chết hết cả rồi. Bị trúng bao nhiêu là đạn như vậy, rồi lại nhảy xuống vực, cộng thêm sóng lớn hôm đó thì ai mà sống sót được? Tìm thấy được bốn mươi mốt thi thể đã là không đơn giản rồi.”

“Đáng tiếc là cậu và tôi nghĩ vậy cũng chẳng để làm gì, cấp trên nghĩ vậy thì mới ổn!”, Shchedrin chán nản thở dài.

“Việc này nếu muốn trách, thì chỉ có thể trách Branch, tất cả đều do cái gã điên đó, không thì làm gì có ngày hôm nay!”

“Được rồi đấy, cậu chửi một người chết để làm gì!

Hiện giờ đành phải vậy thôi, nhưng tôi rất muốn xác định xác của Lý Quốc Văn.”

“Những thi thể vớt từ dưới biển lên đều không nhận diện được. Nhưng tôi nghĩ thi thể này chắc là của Lý Quốc Văn!”, Nicholas chỉ một thi thể có mã số tạm thời là “026” nói.

“Có tin được không?”

“Trước tiên nhìn từ ngoại hình, thi thể này có thân hình giống Lý Quốc Văn, tuy mặt rất khó nhận diện, nhưng vẫn có thể nhìn ra vài nét. Hơn nữa, khi thi thể này được vớt lên, quần áo trên người cũng giống hệt như hôm Lý Ọuốc Văn nhảy xuống vực.”

“Chỉ dựa vào những thứ này?”

“Còn nữa, đặc điểm khiến tôi chắc chắn thi thể này chính là Lý Quốc Văn là ở chỗ này...”, nói xong Nicholas đeo găng tay lật thi thể người này ra. Shchedrin kinh ngạc phát hiện ra phía sau lưng thi thể có một hình xăm lớn, gần như chiếm trọn toàn bộ tấm lưng. Tuy bị ngâm trong nước biển khiến hình xăm bị mờ đi nhưng Shchedrin vẫn nhìn ra hình vẽ: một con chim ưng đang dang cánh chực bay, đựng trên mình một con sói đang hú.

“Đây là cái gì?”, Shchedrin ngạc nhiên hỏi.

“Theo như tôi biết thì phía sau lưng Lý Quốc Văn cỏ một hình xăm lớn như vậy, nên tôi mới quả quyết rằng thi thể này chính là Lý Quốc Văn!”, Nicholas nói rất chắc chắn.

Shchedrin nhìn thi thể đã bắt đầu phân hủy này một lúc, mãi cho tới khi có cảm giác buồn nôn, anh ta mới từ từ đậy tấm vải trắng lên. Lúc này anh không còn hy vọng gì vào việc vớt được thi thể của tất cả học viên.

Lại một ngày trôi qua, tàu “Joyce” không đợi được White nên đã chầm chậm rời khỏi bến cảng Vladivostok. Trong những ngày này, dưới sự giám sát chặt chẽ của KGB, mỗi con thuyền vào cảng Vladivostok đều bị kiểm tra kĩ lưỡng, nhưng không phát hiện thấy bất cứ manh mối có giá trị nào.

Lẽ nào tất cả những học viên đó đều chết thật rồi sao? Mối nghi ngờ trong lòng cứ đeo bám lấy Shchedrin. Anh hiểu rằng, đã đến nước này thì rất khó có thể tiến triển thêm được gì, tổn thất bao nhiêu người như vậy mà vẫn chưa xác định được là có thể tóm hết tất cả số học viên đó về, xem ra bản thân mình gần vận đen chẳng mấy tấc. Shchedrin không cam tâm, nghĩ đi nghĩ lại, chỉ còn từ cái gã White người Mỹ đó, biết đâu lại có được sự đột phá.

4

Tia hi vọng cuối cùng của Shchedrin đều đặt cả vào White, nhưng khi thẩm tra White lần nữa thì anh ta rất bất hợp tác, nên ngoài những gì mà Shchedrin đã nắm được ra, thì không hỏi thêm được bất cứ câu nào có giá trị.

Trong lúc Shchedrin đang đối chất với White thì Nicholas bỗng đi vào, ra hiệu cho Shchedrin ra ngoài một Inc. Shchedrin theo Nicholas ra ngoài, Nicholas khẽ nói: “Người của tổng bộ đến rồi!”

Người của tổng bộ? Shchedrin giật thót tim, điều mà anh lo lắng đã thành hiện thực. “Ai đến vậy?”, Shchedrin lo lắng hỏi.

“Người này quân hàm còn chưa cao bằng anh, là một thiếu tá, xem chừng rất trẻ.”

“Chỉ có một người?”

“Còn cả trợ lý của anh ta nữa.”

“Thiếu tá? Phái một thiếu tá tới xử lý tôi ư?”, Shchedrin rất không phục.

Shchedrin cùng Nicholas đi qua dãy hành lang hun hút tới trước cửa một phòng họp. Shchedrin căng thẳng chỉnh đốn trang phục, anh hi vọng người này sẽ là đồng nghiệp cũ mà mình từng quen biết. Anh bỗng nhớ tới Makarov, nhưng anh biết rằng người ở phía sau cánh cửa không thể là Makarov.

Shchedrin đi vào phòng họp, một sỹ quan trẻ tuổi đứng dậy. Anh không quen người sỹ quan trẻ tuổi trước mặt này. Người này đứng nghiêm chào, xong liền đưa cánh tay phải rắn chắc ra. Shchedrin nghĩ, nếu như là đến để xử lý mình thì chắc chắn thái độ sẽ không như thế, vậy là anh có chút bình tĩnh trở lại, cũng đưa tay ra.

Lúc hai người bắt tay, người này tự giới thiệu: “Nikolay Dmitrievich Strenov, nhưng gần đây mọi người tặng tôi một biệt hiệu - Stechkin, anh cũng có thể gọi tôi như vậy.”

Người này rất hào sảng, không phải thuộc dạng ra mặt quan liêu, nên cũng khiến Shchedrin thở phào. Anh mỉm cười bắt chuyện với Stechkin: “Sao lúc trước ở tổng bộ tôi chưa từng gặp anh nhỉ?”

“Ồ! Tôi vừa mới bị điều chuyển tới Tổng cục 2 của tổng bộ, bởi vậy ở tổng bộ tất nhiên không quen rồi.”

Tổng cục 2? Shchedrin biết rằng Tổng cục 2 của KGB là bộ phận phản gián, vụ án này có liên quan gì tới Tổng cục 2 sao? Đúng lúc Shchedrin suy nghĩ lung tung thì Stechkin đi vào thẳng vấn đề, nói thẳng: “Lần này tổng bộ phái tôi đến chủ yếu là vì người Mỹ đang bị các anh giam giữ.”

“White Warren?”, Shchedrin khẽ giật mình, anh đang đau đầu về cái gã White này đây.

“Đúng vậy, chính là White. Ý kiến của tổng bộ rằng White là công dân Mỹ, chúng ta không thể giam giữ anh ta thế này được. Tuy tôi biết các anh hiện đang thực thi một nhiệm vụ quan trọng, tôi không can thiệp vào công vụ của các anh, nhưng về phía White, chúng tôi bắt buộc phải nhanh chóng đưa ra kết luận. Nếu có vấn đề, anh ta là gián điệp, thì sẽ danh chính ngôn thuận bắt anh ta lại; và nếu có như vậy, thì khi người Mỹ hỏi, chúng ta cũng sẽ dễ đối phó với họ. Nếu không có vấn đề gì, thì chúng ta phải khẩn trương thả anh ta ra.”

“Vì vậy mà tổng bộ cử anh tới để thẩm tra cái gã White đó?”

“Không, không phải ở đây. Bây giờ tôi muốn đưa White đi.”, Stechkin bỗng đổi giọng, nói bằng giọng như ra lệnh.

“Đưa White đi?”, Shchedrin vừa mới đặt tia hi vọng cứu mình cuối cùng lên White, giờ thì thiếu tá Stechkin này lại sắp dẫn anh ta đi mất.

Nhưng Shchedrin chẳng có cách gì để ngăn cản Slechkin, bởi Stechkin đã lôi mệnh lệnh của tổng bộ ra.

“Nhưng gã White này hiện giờ rất quan trọng đối với nhiệm vụ của chúng tôi...”, Shchedrin vẫn muốn cố níu kéo.

“Không! Hiện giờ anh ta không còn quan trọng nữa rồi, ít nhất là đối với anh - đồng chí Shchedrin, đã không còn quan trọng nữa rồi. Theo như tôi biết, tổng bộ đã quyết định chấm dứt cuộc hành động của các anh rồi!”

“Sao cơ? Vậy... vậy tôi sẽ thế nào?”

“Điều này thì tôi không biết, nghe nói rằng tổng bộ sẽ nhanh chóng cử người tới để cùng kết thúc hành động với các anh!”, nét mặt Stechkin vẫn tươi cười.

Mắt trân trân nhìn Stechkin và trợ lý của anh ta đem White đi, Shchedrin thực sự tuyệt vọng. Thời gian còn lại, anh chỉ có thể chờ đợi, chờ đợi sự trừng phạt của số phận đành ình.

5

“Căn cứ sau đó đã xảy ra chuyện đáng sợ như vậy ư?”, Đường Phong nghe Makarov kể xong, miệng lẩm bẩm.

“Vậy sau đó thế nào?”, Hàn Giang hỏi Makarov.

“Sau đó? Sau đó có người của tổng bộ nói giúp Shchedrin, cuối cùng thì anh ấy cũng không phải ra tòa án quân sự, nhưng lại bị giáng chức. Khoảng được mấy năm sau, do anh ấy lại phạm phải chút sai lầm, nên đã bị lệnh cưỡng chế cho phục viên sớm.”

“Không, cháu không hỏi bác về Shchedrin, là cháu quan tâm Stechkin, cái gã đáng sợ Stechkin bỗng trà trộn vào đó. Sau đó họ thế nào? Còn cái gã White người Mỹ đó nữa?”, Hàn Giang truy hỏi.

“Đúng vậy! Tôi cũng không ngờ trong đó còn có cả Stechkin”, Makarov than thở.

“Như vậy không phải là vừa khớp rồi sao, chuyện ở căn cứ Tiền Tiến vừa khớp với chuyện của Stechkin. Tôi càng nghe chuyện này, càng cảm thấy bên trong có vấn đề!”, Hàn Giang nói.

“Đúng vậy! vấn đề càng lúc càng phức tạp rồi!”, Đường Phong lên tiếng.

“Theo như Shchedrin kể lại, thì sau này Stechkin cũng vì chuyện này mà bị xử phạt!”, Makarov nói.

“Sao ông ấy lại bị xử phạt? Lẽ nào Stechkin liên quan tới vụ bạo động trong căn cứ Tiền Tiến?”, Đường Phong không hiểu.

“Bởi vì gã người Mỹ đó đã chạy mất!”

“Chạy mất?! Xem ra Shchedrin đã nghi ngờ không sai, cái gã White đó chắc chắn là có vấn đê!”, Hàn Giang nói.

“Stechkin và trợ lý của anh ta áp giải White về đến Mátxcơva. Đầu tiên anh ta ngồi máy bay để quay về Mátxcơva, nhưng giữa chặng bay thì lại xảy ra sự cố nên máy bay đã hạ cánh xuống Irkutsk, vậy là họ đành phải chuyển sang tàu hỏa để về Mátxcơva. Kết quả là trên tàu hỏa đã xảy ra chuyện. Vào một buổi sáng, khi nhân viên trên tàu mở cửa căn buồng được Stechkin bao trọn gói ra, thì phát hiện thấy người trợ lý của Stechkin đã bị bẻ gãy cổ, Stechkin cũng bị thương còn cái gã White không thấy đâu cả”, Makarov nói ra kết cục cuối cùng của toàn bộ sự việc.

“Xem ra bên trong có vấn đề. Nếu quả thật, cái gã White đó có vấn đề thì rất có thể Stechkin đã cố ý thả White đi!”, Hàn Giang suy đoán.

“Bây giờ nghĩ lại thì khả năng này là rất lớn!”, Makarov nói.

“Toàn bộ sự việc kết thúc như vậy sao?”, Đường Phong không khỏi thất vọng hỏi lại Makarov.

“Đúng vậy! Toàn bộ sự việc đến đó là chìm trong bế tắc, tất cả các đầu mối đều đứt rồi, thi thể của những học viên đó đều được hỏa táng, Shchedrin và Stechkin bị xử phạt, những người bị chết thì thân nhân của họ được hưởng trợ cấp, tất cả tài liệu liên quan tới sự việc này đều được liệt vào loại tuyệt mật cao nhất, vĩnh viễn rơi vào quên lãng. Nếu tôi mà không gặp lại Shchedrin, thì chuyện ở căn cứ sau này e rằng sẽ chẳng có ai biết.”

“Tuy việc trước đây kết thúc rồi, nhưng những gì mà lão Mã cung cấp lại cho chúng ta một manh mối quan trọng để hóa giải những bí mật đó. Lai lịch của hình vẽ bí ẩn, Khe Sói hoang, kết cục cuối cùng của học viên trong căn cứ, còn cả sự xuất hiện của Stechkin đều rất quan trọng cho việc hóa giải những bí mật của chúng ta!”, Đường Phong nói.

“Đúng vậy! Tôi cũng nghĩ vậy. Hình vẽ đó xuất hiện đi xuất hiện lại, khiến tôi liên tưởng tới nó có liên quan tới toàn bộ sự việc và căn cứ Tiền Tiến năm nào!”, Makarov nói.

“Đội ngũ mà Branch huấn luyện ra đó rất khả nghi, kẻ thù mà hiện giờ chúng ta đối diện, chắc chắn có liên quan gì đó với đội ngũ này. Ví dụ như kí hiệu hình tam giác bí ẩn mà chúng ta gặp trong rừng, lão Mã từng kể rằng Branch đã yêu cầu học viên khắc như vậy”, Đường Phong liên tưởng tới việc hiện tại.

“Không sai, chính vì những phát hiện mới này, nhất là hiện giờ phải đối diện với vách đá này, đã khiến tôi không thể không ngẫm nghĩ lại mọi chuyện. Theo như Branch nói thì hình vẽ này là tô-tem của một bộ lạc cổ xưa,

tôi đã từng nhìn thấy nó trong khe Sói hoang. Mấy chục năm sau bỗng lại nhìn thấy nó ở đây, đúng là số phận!”, Makarov than thở.

“Không! Tôi không tin đây là đường cụt, chắc chắn không thể vẽ một bức tranh lớn như vậy trước một con đường cụt thế này, bên trong chắc chắn ẩn giấu những bí mật mà chúng ta không biết!”, Hàn Giang bỗng bật lên.

“Anh nghĩ ra gì vậy?”, Đường Phong hỏi.

“Tìm kiếm kĩ trên vách đá và xung quanh vách đá, mỗi một gang tấc trên vách đá, thậm chí bao gồm cả trên đỉnh hang đều phải tìm một lượt. Tôi không tin ở đây chính là chỗ chết của tôi và cậu đâu!”, Hàn Giang hậm hực nói.

Chỗ chết?! Hàn Giang dùng từ này khiến Đường Phong và Makarov đều giật thót tim, lẽ nào ở đây chính là chỗ chết của mình sao?

Ba người lại bắt đầu tỉ mỉ kiểm tra vách đá trước mặt, mỗi tấc trên vách đá đều không bỏ qua. Đường Phong lấy báng súng gõ từng chút một lên vách đá và xung quanh vách đá, nhưng chẳng phát hiện ra thứ gì cả.

Đường Phong thất vọng lùi lại phía sau, đứng im tại vị trí cách vách đá khoảng chục mét, dùng ánh sáng đèn pin chăm chú quan sát lại vách đá khổng lồ lần nữa. Mãi lâu sau, Đường Phong mới lẩm bẩm nói: “Phía dưới đều xem qua rồi, vấn đề chắc chắn ở phía trên.”

“Ý là gì?”, Hàn Giang hỏi lại Đường Phong.

“Ban nãy không phải anh bảo rằng đỉnh hang động cũng không được bỏ qua sao, nhưng chúng ta không thể leo được lên trên đó.”

“Đúng vậy, tất cả những chỗ mà chúng ta leo được đều đã kiểm tra rồi!”, Makarov nói.

Cả ba người cùng ngẩng đầu nhìn lên đỉnh hang. Đỉnh hang lồi lõm mấp mô, xem ra chưa bị con người tác động. “Đỉnh hang chưa bị con người tác động tới thì chắc không thể có vấn đề đâu nhỉ?”, Hàn Giang suy đoán.

Đường Phong cũng không nhìn ra manh mối: “Nếu nói về lý thì là như vậy, nhưng vấn đề nằm ở đâu chứ?”

“Có lẽ chúng ta vẫn phải tìm kiếm câu trả lời trên hình vẽ!”, Makarov đột nhiên nói.

Đường Phong và Hàn Giang nghe thấy vậy đều giật mình, hai người đưa mắt nhìn tô-tem cổ xưa trên vách đá. “Lão Mã, bác nghĩ ra gì vậy?”, Đường Phong hỏi.

“Chẳng có gì cả, suy nghĩ của tôi rất đơn giản. Tôi đoán rằng nếu như ở đây có cửa nào đó, thì chắc chắn sẽ liên quan tới bức tranh này, nếu không thì họ vẽ bức tranh to như vậy lên trên vách đá làm gì?”, Makarov nói ra quan điểm của mình.

“ừm, lão Mã nói rất có lý!”, Hàn Giang khẳng định.

“Nhưng chúng ta nhìn bức tranh này cả nửa ngày rồi mà chẳng nhìn ra được gì cả?”, Đường Phong nghi ngờ nhìn bức tranh trước mặt.

“Đừng vội, chắc chắn đã có thứ gì đó bị chúng ta bỏ sót..Makarov cố gắng để mọi người giữ bình tĩnh.

6

Ba người lại bắt đầu kiểm tra từng chút một bức tranh trên vách đá khổng lồ. Lần này, ba người đều không chia nhau ra kiểm tra, mà chụm cả ba chiếc đèn lại, cùng nhau quan sát những đường nét màu đỏ thẫm trên vách đá.

Đường nét này không ngừng hướng lên trên, chùm ánh sáng đèn pin lần theo đường nét này soi tới phía trên đôi cánh chim ưng dang rộng, đó là điểm cao nhất của toàn bộ bức tranh. Sau đó, chùm ánh sáng đèn pin bắt đầu lần theo đôi cánh chim ưng di chuyển lên xuống. Khi soi tới phần đầu của chim ưng, chùm ánh sáng đèn pin của Makarov và Hàn Giang tiếp tục lần theo đó mà hướng xuống dưới, nhưng ánh sáng đèn pin của Đường Phong lại dừng lại trên phần đầu chim ưng...

“Đường Phong, cậu phát hiện ra gì vậy?”, Hàn Giang hỏi.

“Hai người nhìn mắt chim ưng này!”, đèn pin của ba người lại chụm lại làm một.

“Hình như mất của chim ưng hơi lồi lên!”, Makarov nghi ngờ nói.

“Không biết là tự nhiên hay là nhân tạo?”, Đường Phong vẫn chưa nhìn ra manh mối.

“Ở đây chắc chắn có vấn đề!”, Hàn Giang lắc lắc đèn pin trong tay, “Chẳng biết thế nào, lên trên đó xem mới biết được.”

“Lên bằng cách nào? Vách đá cao vậy mà!”

Hàn Giang nhìn nhìn Đường Phong rồi lại nhìn sang Makarov, nói: “Như vậy nhé, tôi sẽ làm bậc thang. Đường Phong, cậu giẫm lên lưng tôi leo lên!”

“Đành phải vậy thôi, khó mà tránh được nỗi khó nhọc này!”

“Trời! Cậu giẫm lên tôi mà còn khó nhọc gì nữa?!”, Hàn Giang nổi cáu.

“Tôi ở phía trên cũng rất nguy hiểm mà, ngộ nhỡ trong mắt chim ưng bắn ra vũ khí bí mật nào đó thì người đầu tiên đen đủi chính là tôi đấy!”, Đường Phong phản bác lại.

“Được rồi! Đừng có lèm bèm nữa, mau lên đi!”

Nói xong, Hàn Giang ngồi xổm xuống, Makarov đỡ Đường Phong giẫm lên lưng Hàn Giang, anh nghiêng nghiêng ngả ngả leo lên vị trí chim ưng trên vách đá. Bức tranh này quả thực rất lớn, chính bởi vậy mà đầu Đường Phong cũng chỉ tới phần cổ của con chim ưng. Anh run rẩy đưa tay phải lên, từ từ, chầm chậm, và rốt cuộc khi tay anh vừa chạm vào mắt chim ưng, thì một cảm giác lạnh buốt thấu tận xương tủy bỗng chốc xâm chiếm cơ thể anh. Đường Phong khẽ run rẩy, rụt ngay tay lại, suýt thì lộn nhào từ trên lưng Hàn Giang xuống, may mà có Makarov đỡ anh. “Cậu sao thế?”, Makarov lo lắng hỏi.

“Không biết nữa! Tay cháu vừa chạm vào mắt chim ưng thì bỗng có cảm giác lạnh buốt từ đầu ngón tay lan tỏa khắp cơ thể...”

Hàn Giang phía dưới càu nhàu.

“Thôi đi! Lại thấy cái lạnh giá của vùng Siberia chắc! Cậu nhanh lên cho tôi, anh đây sắp chịu hết nổi rồi đấy!”,

Đường Phong đành phải thò tay phải ra, chạm lại vào mắt chim ưng. Anh lần sờ từng chút một, quả nhiên, mắt chim ưng lồi lên một khoảnh so với những chỗ xung quanh, sờ lên thấy lạnh cóng, ươn ướt, nhưng vách đá xung quanh lại khô ráo và cũng không lạnh như vậy. Đường Phong nghi ngờ, ra sức dùng tay ấn vào mắt chim ưng, không có bất cứ phản ứng nào. Anh hụt hẫng, xem ra mình nhìn lầm rồi, ở đây chẳng có gì cả. Vậy đây là cái gì?

Đường Phong lấy tay sờ mó mắt chim ưng, ánh đèn phía trên quá tối, chỉ có thể dựa vào cảm giác để phán đoán.

Đột nhiên, anh cảm thấy chỗ nhô ra trên mắt chim ưng hình như có khe nứt so với những chỗ xung quanh. Đường Phong cảm giác có “cửa” rồi, anh ra sức ấn ấn, nhưng vẫn chẳng có phản ứng gì cả, vậy là, anh đã dùng tay làm ngược lại, lôi chỗ nhô ra lên. Không ngờ, khi anh vừa lôi mạnh một cái, cơ thể liền mất thăng bằng ngã ngửa ra phía sau.

7

Chính trong giây phút cơ thể bị mất thăng bằng đó, Đường Phong vẫn tóm chặt vào mắt chim ưng. Anh không biết đó là thứ gì, mà chỉ cảm thấy xung quanh là một vùng tối đen.

May mà lần này lão Mã phản ứng kịp thời, lấy thân mình đỡ cho Đường Phong. Nhờ đó Đường Phong mới không bị ngã xuống vách đá.

“Cậu giẫm cho tôi sắp chết đến nơi rồi mà còn như vậy đấy hả?”, Hàn Giang bóp bóp cái vai đang đau nhức hỏi:

“Anh làm thang mà chẳng vững chắc gì cả, lại còn nói thế mà không thấy ngại à?”, Đường Phong đứng dậy, trong tay vẫn còn nắm chặt “mắt chim ưng”.

Đúng lúc này, phía sâu trong hang động vọng ra âm thanh ầm ầm. “Mẹ kiếp, cậu lại động vào cái gì rồi! Sắp động đất rồi đấy!”, Hàn Giang kêu lên.

Đường Phong hoảng hốt nhìn xung quanh, nhưng xung quanh chẳng mấy chốc lại chìm trong tĩnh lặng. Mãi lâu sau, Đường Phong mới cảm thấy trong tay mình có cảm giác khang khác, có thứ đó lạnh cóng. Anh từ từ mở lòng bàn tay ra, kinh ngạc phát hiện ra trong bàn tay phải của mình hóa ra đang nắm một viên đá màu xanh.

“Đây là cái gì? Là ngọc ư?”, Makarov hỏi.

“Ban nãy nhìn trên đó đâu có thấy ngọc đâu?”, Hàn Giang không hiểu.

Đường Phong cẩn thận quan sát một hồi: “Đây là một viên đá quý Turquoise”.

“Đá quý Turquoise?”

“ừm, trên mắt của chim ưng có nạm một viên Turquoise. Nhưng viên Turquoise này có vẻ kì lạ, cầm trong tay sao lại lạnh vậy nhỉ?”

“Tạm thời đừng quan tâm tới viên đá vớ vẩn đấy nữa, xem tiếp xem trong mắt sói có thứ gì đi!”, Hàn Giang nói.

Ba người lại cùng soi thẳng đèn pin vào mắt sói. Đường nét màu đỏ sậm vẽ rõ thành hình mắt sói, nhưng trong đó lại trống trơn, chẳng có gì cả, Đường Phong nghi ngờ dùng tay sờ lên vị trí mắt sói: “Vị trí mắt sói hình như hơi lõm xuống, lẽ nào ở đây trước đó cũng có một viên Turquoise?”

“Đường Phong, loại đá này dùng để làm gì vậy? Lẽ nào chỉ để trang trí thôi sao?”, Makarov hỏi.

“Bây giờ xem ra thì không chỉ là trang sức thôi đâu, tiếng động ầm ầm ban nãy chắc chắn là do viên Turquoise trong tay cháu gây ra!”, Đường Phong lại nhìn viên Turquoise trong tay.

“Được rồi, đừng nói nhiều nữa, xem lại vị trí mắt chim ưng còn có gì nữa không!”, Hàn Giang thúc giục.

“Giờ đến lượt ai lên đây?”, Đường Phong hỏi lại Hàn Giang.

“Cậu chẳng được tích sự gì, lần này để tôi lên!”

“Nhưng tôi không đỡ được anh đâu.”

“Hai chúng ta cùng đỡ đi!”, lúc này Makarov cất lời.

Hàn Giang thử nhìn Makarov: “Được thôi! Vậy thì vất vả cho bác quá, lão Mã!”

“Cậu vẫn còn khách sáo với tôi sao?”, Makarov xua xua tay đầy vẻ vô tư.

Mãi cho tới tận giây phút cuối cùng, Hàn Giang vẫn lo lắng không biết bờ vai của Makarov có đỡ được mình không nữa, nhưng đến khi được đỡ lên thì anh biết rằng mình lo lắng hơi thừa. Vai Makarov rắn rỏi giống nlnr một tảng đá, chân của Hàn Giang giẫm lên đó vô cùng thăng bằng.

Hàn Giang đưa tay ra sờ mắt chim ưng, ở đó đã lõm xuống một miếng, anh cảm giác ngón tay mình ươn ướt nên đã dốc hết sức ấn mạnh xuống một cái. Mắt chim ưng lại lõm xuống, rồi ngay sau đó, tiếng động ầm ầm kì quái lại vang lên lần nữa, thậm chí còn vang lên những mấy lần, Hàn Giang vội vàng nhảy xuống.

Ba người nhìn nhau, không biết rốt cuộc đã động vào thứ gì. “Anh đã ấn xuống phải không?”, Đường Phong hỏi.

“Đúng là ấn xuống, lần này chắc là có phản ứng rồi!”.

Hàn Giang vừa mới dứt lời, mọi người liền nghe thấy tiếng nước chảy. Ba người không hẹn mà gặp cùng lúc soi thẳng đèn pin vào vị trí mắt chim ưng, chỉ thấy trong đó có nước róc rách chảy ra.

“Mẹ ơi! Anh ấn cái gì thế, hóa ra là ấn ra nước!”, Đường Phong ngạc nhiên kêu lên.

“Sao tôi biết được!”, Hàn Giang gào lên.

Lúc này, lượng nước chảy ra từ cái hốc đó càng lúc càng nhiều, dòng nước róc rách đã dần biến thành tia nước bắn phụt ra!

“Toi rồi, toi rồi, lần này chúng ta bị chết đuối trong cái hang này rồi! Cuộc đời tôi bị anh hủy hoại thế này đây!”, Đường Phong vừa lùi lại phía sau vừa tuyệt vọng kêu lên.

“Cậu tưởng rằng tôi muốn chết ở đây chắc?”

“Kể cả tôi xuống âm ti địa phủ biến thành quỷ dữ cũng không tha cho anh đâu, đều tại anh đấy!”

“Chỉ sợ cậu không thoát ra nổi cái hang này chứ đừng nói gì là đến được âm ti địa phủ.”

Hai người vừa lùi lại vừa gào lên với nhau! Makarov không chịu nổi nữa: “Đủ rồi! Hai cậu có muốn sống nữa không hả?”

“Muốn!”, cả hai cùng đồng thanh đáp.

“Nếu muốn sống thì phải nghe tôi. Mau tìm chỗ nào trên vách đá có thể cố thủ được đi, xem ra phía sau vách đá có nước, phải đề phòng nước bất ngờ ập ra cuốn chúng ta đi!”

“Lẽ nào đằng sau vách đá là sông ngầm ư?”, Hàn Giang lại nhớ tới dòng sông ngầm hoành tráng trong thác nước ở Thất sắc cẩm Hải.

“Sao có thể như vậy được? Trong thác nước đó là dưới lòng đất, hiện giờ chúng ta đang ở trong núi!”, Hàn Giang gào lên với Đường Phong.

“Tôi không biết phía sau vách đá là gì, mau làm theo lời tôi đi!”, Makarov nói bằng giọng ra lệnh.

Ba người vừa lùi lại phía sau vừa tìm kiếm chỗ có thể cố thủ trên vách đá. Makarov buộc dây thừng lên người rồi tiếp tục đưa cho Hàn Giang và Đường Phong. Ba người vừa mới buộc dây xong, thành một dãy hàng dọc nối đuôi nhau thì nước trong mắt chim ưng bỗng ngừng chảy! Nhìn lại nước trên mặt đất thì cũng chưa tới bắp chân.

“Sao nước lại ngừng chảy nhỉ?”, Đường Phong nghi ngờ nhìn mắt chim ưng.

Đường Phong vừa mới dứt lời thì phía sau vách đá bỗng vang lên những tiếng động lớn. Sau những tiếng động đó, Đường Phong bỗng kinh ngạc phát hiện ra, vách đá trước mặt họ đã từ từ mở. Khi vách đá mở ra từng chút từng chút một, Đường Phong ngạc nhiên, vui mừng, anh sắp được nhìn thấy thế giới phía sau vách đá. Thế nhưng, đó là một thế giới tối đen, dòng nước lớn phụt bắn ra từ thế giới tối đen đó, hăm hở cuốn phăng mọi thứ, quét sạch mọi bụi bặm trong hang động.

8

Đường Phong định hét một câu: “Hồng thủy, chạy mau!”, nhưng chưa kịp đợi anh hét xong thì một cơn sóng lớn đã đổ ập xuống trùm lên đầu anh. Ngay tức khắc Đường Phong cảm thấy xung quanh tối đen, tiếng động đinh tai nhức óc khiến anh không còn nghe thấy gì nữa.

Trong không gian chật hẹp này, sức công phá của hồng thủy khiến người ta kinh ngạc. Trong bóng tối, Đường Phong tưởng đã bị nước lớn cuốn đi hơn chục mét.

Đúng lúc anh tưởng rằng mình bị nước cuốn phăng đi thì bỗng phát hiện ra mình đang được kéo lại bởi một sức mạnh to lớn... Không biết bao lâu sau, sức nước giảm dần, Đường Phong liền ngoi đầu lên, rốt cuộc cũng đã hít được chút không khí trong lành. Đúng lúc này, anh nghe thấy tiếng Hàn Giang: “Đường Phong, mau bám vào vách đá bên cạnh đi!”.

Đường Phong mò mẫm tìm vách đá nhô ra bên cạnh, cuối cùng cũng sờ thấy một tảng đá. Anh bám chặt vào tảng đá, rốt cuộc chân cũng đã chạm được đất. Anh nhô đầu lên, hít một hơi lớn không khí trong lành, đầu óc dần tỉnh táo trở lại. Anh ngửi thấy mùi vị là lạ trong không khí trong lành này, anh biết rằng đây là không khí phía sau vách đá.

Đường Phong lấy tay sờ lên lưng mình, may mà trước khi con nước lớn ập tới, anh đã cất đèn pin vào nong ba lô. Lúc này anh mới móc đèn pin ra, đây là loại đen pin chống nước chuyện dụng của bộ đội đặc chủng, nên cho dù soi trong nước thì ánh sáng cũng có thể chiếu xa cả chục mét.

Đường Phong giơ đèn pin lên đỉnh đầu, soi về phía mrớc. Trong thế giới tối đen, anh nhìn thấy đầu Hàn Giang, bên cạnh Hàn Giang là Makarov. Giờ thì anh mới hiểu ra sức mạnh to lớn kéo mình ban nãy chính là nhờ Hàn Giang và Makarov.

“Đừng soi linh tinh nữa! Cậu không sao chứ?”, Hàn Giang hỏi.

“Tôi không sao! Hai người thế nào?”

“Tôi vẫn ổn, lão Mã hơi yếu một chút, ban nãy may mà bác ấy tóm được cậu trước, nếu không bây giờ còn đâu cái mạng quèn của cậu nữa!”

“Sau này ra được ngoài tôi nhất định sẽ mời lão Mã một bữa!”

“Thôi đi! Xem chúng ta ra ngoài bằng cách nào đã!”

Đường Phong giơ đèn pin lên cao hơn, soi thẳng về phía trước. Vách đá khổng lồ bị sức nước tách ra, lộ ra khe hở giữa vách đá và nước, vài pho tượng khổng lồ thấp thoáng ẩn hiện. Đó là gì vậy? Trong giây phút hoảng hốt. Đường Phong đã trông thấy thế giới phía sau vách đá.
 

hoahongden12

Active Member

Hàn Giang chưa từng biết tới tay nghề mở khóa của Đường Phong, anh muốn thử xem rốt cuộc Đường Phong sẽ mở cái khóa của Tây Hạ này thế nào. Và cảnh tượng khiến Hàn Giang lác mắt đã xuất hiện. Đường Phong rút khẩu súng ngắn 92 của anh ra, nhắm vào chiếc khóa trên cánh cửa rồi bắn một phát, một tia lửa lóe lên, khóa cửa được mở.

1

Cũng không biết qua bao lâu sau, nước trong hang đãtừ từ rút đi, và nước đọng lại vẫn chưa tới đầu gối ba người. Đường Phong bị nước cuốn đi xa nhất, nên lúc này, thấy nước đã rút, anh liền nắm lấy sợi dây thừng trên lưng, từng bước từng bước một tiến lại gần Hàn Giang và Makarov.

Đường Phong bước tới cạnh Hàn Giang và Makarov, thấy lão Mã không có vấn đề gì, chỉ là mặt mũi khá phờ phạc, vì dù sao thì ông cũng có tuổi rồi.

“Lão Mã, bác phải gắng lên đấy!”, Đường Phong đưa cho lão Mã uống hai viên thuốc cho tỉnh táo.

“Yên tâm, tôi chưa chết được đậu!”, Makarov xua xua tay.

Hàn Giang dùng đèn pin soi phía trước hồi lâu, rồi nói: “Cuối cùng vách đá cũng chịu mở ra rồi, chúng ta phải mau chóng tiến lên phía trước, ít nhất cũng là để tìm chỗ nào ấm áp. Tôi không muốn mặc quần áo ướt chờ chết ở đây đâu.”

“Ai nói chúng ta sắp chết?”, Đường Phong bực mình gào lên.

“Đừng lải nhải nữa! Ban nãy tôi trông thấy phía sau vách đá thấp thoáng hiện lên vài bức tượng đấy!”, Hàn Giang nói.

“Tôi thấy rồi!”

“Đó là cái gì nhỉ?”

“Ai mà biết được!”

“Có phải là ‘Thượng tự’ không nhỉ?”

“Thượng tự? Không phải anh cho rằng mặt phẳng đá bên ngoài chính là di chỉ thượng tự sao?”

“Nhưng ở đó chẳng có gì cả, còn trong này lại..

“Biết đâu là phát hiện mới.”

Nói xong, ba người lội trong dòng nước đục ngầu, từng bước từng bước tới trước vách đá. Makarov sờ lên vách đá, không khỏi thốt lên: “Cần bao nhiêu năng lượng mới có thể nhấc được vách đá này lên nhỉ!”.

“Trong tình huống không dựa vào sức người, thì trong thế giới tự nhiên cũng chỉ có hồng thủy mới chứa đựng được năng lượng lớn như vậy”, Đường Phong nói.

“Đây lẽ nào cũng là kiệt tác của người Đảng Hạng?

Giờ thì tôi càng lúc càng không hiểu, di chỉ Hạ tự, Phật tháp đều có thể hiểu được, nhưng đại Phật ở đây, thậm chí cả mê cung khổng lồ trong này là để làm gì? Tại sao người Đảng Hạng lại phải kiến tạo những thứ này?”, Hàn Giang thắc mắc.

“Có thể tất cả những thứ này vốn dĩ đã có từ trước rồi thì sao?”, Đường Phong đưa ra ý kiến.

“Ý cậu là sao? Thế nào gọi là vốn dĩ đã có từ trước?”

“Lịch sử nhân loại chính là quá trình nhận thức tự nhiên, cải tạo tự nhiên, nhưng sau khi nhận thức tự nhiên xong, nhân loại thường dùng nhiều cách khác nhau để cải lạo tự nhiên. Có người cải tạo trời đất, tái tạo núi non sông núi, có người lại tận dụng tự nhiên để đạt được mục đích cải tạo nó.”

“Ý cậu là trong núi này vốn đã có mê cung phức tạp như vậy, sau này mới được người Đảng Hạng cải tạo?”

Đường Phong không trả lời câu hỏi của Hàn Giang, bởi anh đã chui qua vách đá đầu tiên, và sửng sốt khi trông thấy cảnh tượng trước mắt. Anh cảm nhận được sự biến đổi dưới chân mình, địa hình phía sau vách đá cao dần lên, cùng với địa hình mỗi lúc một cao, mực nước dưới chân cũng thấp dần đi, cho tới khi anh sững sờ bởi cảnh tượng trước mắt, mà không thể nhấc chân được nữa, thì mực nước phía dưới cũng chỉ còn tới mắt cá chân.

2

Đường Phong, Hàn Giang, Makarov, ba người chụm đèn pin lại với nhau cũng không thể soi sáng huyền cung khổng lồ trong núi này. Thứ đầu tiên mà họ nhìn thấy là cây cầu trước mặt. Đường Phong nhìn không rõ cây cầu là do những tảng đá xếp thành hay là làm bằng gỗ hoặc là do tự nhiên hình thành!

Đầu cầu, phía đối diện họ có hai pho tượng võ sỹ to lớn sừng sững hai bên. Đường Phong cẩn thận quan sát hai pho tượng võ sỹ này, giống hệt như tượng võ sỹ của Phật tháp trên Hạ tự, chỉ có điều thể hình của tượng võ sỹ ở đây to hơn.

Đường Phong ngồi xuống quan sát mặt cầu. Anh kinh ngạc phát hiện ra mặt cầu không phải làm bằng gỗ, cũng không phải bằng đá hoặc gạch, hay đá đen xây thành. Vì ngoài hai pho tượng sừng sững ở đầu cầu ra, thì gần như không thấy bất cứ dấu vết nhân tạo nào trên cây cầu này. Đường Phong thầm giật mình, lẽ nào cây cầu này đúng là do tự nhiên tạo thành?

Cây cầu đá tự nhiên nhô ra bắc ngang qua khe núi tối đen, xung quanh vẫn là một vùng đen kịt. Đường Phong không nhìn rõ không gian xung quanh, vì ánh sáng đèn pin soi chiếu ra xa hơn chục mét, nhưng vẫn chỉ dừng lại trên mặt cầu.

“Cây cầu đá này dài bao mét? Bên kia cầu là chỗ nào nhỉ?”, giọng Đường Phong có chút run rẩy.

“Điều mà tôi quan tâm hơn là: phía dưới cầu là cái gì, Hàn Giang hỏi.

“Phía dưới cầu? Chắc là sông!”, Đường Phong đoán mò.

“Không nghe thấy tiếng nước chảy mà!”

Trong lúc nói chuyện, ba người đã đi lên cầu. Đường Phong phát hiện hai bên cầu không có lan can, đúng là một chiếc cầu đá tự nhiên. Ba người cẩn thận tiến lên phía trước. Đi được hơn hai chục bước, Đường Phong bỗng phát hiện thấy mặt cầu càng lúc càng nhỏ hẹp. Anh dừng lại, cần thận quan sát. Dưới ánh sáng đèn pin, anh vẫn không trông thấy điểm cuối của cây cầu, còn mặt cầu nơi anh đang đứng rộng chưa tới hai mét, hơn nữa mặt cầu trước mặt vẫn tiếp tục thu hẹp.

“Có khi nào cây cầu này đi mãi đi mãi xong tự nhiên cụt lủn không vậy?”, giọng Đường Phong vọng lại oang nang trong bóng tối mềnh mông.

Hàn Giang lấy đèn pin soi về mặt cầu trước mặt, nói:

Tiếp tục thăm dò phía trước xem sao!”, giọng Hàn Giang cũng không có chút bảo đảm nào.

Ba người lại tiếp tục tiến lên phía trước hơn hai chụ bước, mặt cầu đã hẹp lại còn khoảng một mét. Đường Phong lấy đèn pin soi xuống dưới cầu, không có tiếng nước, không có ánh sáng, và ngoài bóng tối, anh chẳng nhìn thấy gì cả. “Dưới này lẽ nào đúng là sâu không thấy đáy?”, giọng Đường Phong run rẩy.

“Cẩn thận phía trước...”, Hàn Giang dùng đèn pin soi xung quanh. Ánh sáng từ đèn pin phát ra chọc thủng màn đêm dày đặc, rồi bị bóng tối thăm thẳm nuốt chửng Thế nhưng khi anh soi đèn men theo mặt cầu thì bỗng kinh ngạc phát hiện ra chỗ xa nhất, mà đèn pin có thể chiếu tới, mặt cầu ở đó hẹp tới nỗi chỉ một người có thể qua được.

Đường Phong và Makarov cũng trông thấy đoạn mặt cầu hẹp tới mức dị thường trước mắt, họ đều muốn nhìn rõ phía sau mặt cầu nhỏ hẹp này sẽ như thế nào, nhưng ánh sáng của đèn pin lại chỉ soi được đến đấy. “Nếu mặt cầu phía sau còn hẹp hơn hoặc cụt lủn thì không đáng để chúng ta đi tiếp!”, Đường Phong nói.

“Không đáng? Không đi tiếp thì lẽ nào cậu định quay lại?”, Hàn Giang hỏi lại.

“Bất luận thế nào, tiếp tục tiến lên phía trước hai chục bước, thì ít nhất cũng có thể nhìn rõ tình hình phía sau đoạn mặt cầu nhỏ hẹp này”, Makarov nói.

“Tôi chỉ sợ sau mười bước chúng ta sẽ nhìn thấy mặt cầu còn hẹp hơn!”, Đường Phong ưu tư não nề nói.

“Cậu nhát gan thì đi đằng sau, để tôi đi trước cho!”,

Hàn Giang ca thán.

“Anh bảo tôi đi sau là tôi sẽ đi sau, bảo tôi đi trước thì tôi sẽ đi trước sao? Quá là mất mặt! Không phải chỉ có hai chục bước chân thôi sao? Anh xem tôi có dám đi qua không nhé!”

Đường Phong bị Hàn Giang kích thì bỗng muốn đấu trí, một bước, hai bước, ba bước... mãi cho tới bước mười bảy, anh bỗng dừng lại.

“Sao cậu không đi tiếp đi?”, Hàn Giang phía sau hỏi.

“Anh đi trước đi!”, giọng Đường Phong có vấn đề.

“Tôi đã bảo cậu không ổn rồi, để tôi đi trước cho!”,

Hàn Giang bước tới sau lưng Đường Phong, rồi dừng lại chỗ cách Đường Phong hai bước chân, thì thấy bạn mình vẫn đứng im, chặn phía trước nên liền thúc giục: “Cậu đi đi chứ!”

“Anh... nhìn phía trước!”, Đường Phong vừa nói vừa khẽ nghiêng người sang một bên.

Hàn Giang phát hiện ra, trước mặt Đường Phong, mặt cầu hẹp tới nỗi chỉ có thể ột người đi qua, nhưng điều đáng sợ hơn là không ai biết phía dưới cầu là gì, vì ngoài mặt cầu ra thì những không gian khác đều là bóng tối.

“Vậy cậu vòng qua đây để tôi đi đầu cho!”, Hàn Giang ra lệnh.

“Tôi... tôi không quay lại được nữa rồi...”, Đường Phong muốn lùi lại nhưng không nhấc được chân.

3

Chân Đường Phong không ngừng run rẩy, anh không xoay người lại được. Anh nghiêng người, đành phải bước một bước ngắn lên phía trước, gần như đã cận kề với nơi hẹp nhất trên cầu đá. Anh muốn quay lại, nhìn xem mặt cầu phía trước, nhưng vẫn không nhúc nhích được. Tim Đường Phong đập loạn xạ, anh bất giác lấy đèn pin soi xuống dưới chân. Kết quả, chưa kịp đợi anh nhìn rõ thứ gì thì chiếc đèn pin đã rơi xuống dưới. Anh giật mình, suýt chút nữa là mất thăng bằng, rơi xuống vực sâu thăm thẳm tối đen.

Đường Phong cố giữ bình tĩnh, nhưng mãi lâu sau anh cũng không nghe thấy tiếng đèn pin rơi xuống vực vọng lại, nên tim anh cũng rớt xuống vực thẳm theo nó.

Hàn Giang và Makarov thấy phía Đường Phong bỗng tối thui thì đều giật mình, hai người vội vàng dùng đèn pin soi tìm Đường Phong, phát hiện thấy anh vẫn đứng đó mới yên tâm trở lại. “Cậu sao thế? Đừng có dọa chúng tôi chứ?”, Hàn Giang hét lên.

“Dọa... dọa anh? Rốt cuộc là ai dọa... ai đây?”, giọng Đường Phong như sắp khóc.

“Cậu đứng im đừng có nhúc nhích!”, Hàn Giang nói xong cũng liền nghiêng người tiến lên phía trước hai bước, đi tới cạnh Đường Phong, giơ đèn pin lên soi về phía trước, “Hình như mặt cầu phía trước lại rộng ra rồi!”, Hàn Giang nói.

“Thật sao?”, Đường Phong không tin.

“Thật! Cậu bước hai bước nữa là qua đấy rồi!”, thực ra Hàn Giang cũng không dám chắc chắn mặt cầu rộng ra nhường nào.

Câu động viên của Hàn Giang quả nhiên có công hiệu, rốt cuộc Đường Phong đã lấy lại can đảm, nghiêng người tiến lên phía trước vài bước, mặt cầu dưới chân quả nhiên rộng hơn một chút.

Hàn Giang và Makarov cũng theo sau. Lúc này, không biết một cơn gió mát từ đâu bỗng thổi tới khiến Đường Phong tỉnh táo linh hoạt hơn, rồi rốt cuộc cũng khiến anh bình tĩnh trở lại sau sự hoảng hốt tột độ.

“Xem ra chúng ta đã đi qua đoạn hẹp nhất rồi, hơn nữa còn như kiểu đi xuống dốc, hình như chúng ta đã đi tới đầu cầu bên kia rồi!”, Makarov phấn khởi nói.

Hàn Giang lấy một chiếc đèn pin dự phòng từ trong ba lô ra đưa cho Đường Phọng và nói: “Rơi tiếp là hết rồi day nhé!”, sau đó, anh dẫn đầu, bước nhanh về phía trước. Chẳng bao lâu sau, lại có thêm hai bức tượng võ sỹ xuất hiện trước mặt ba người.

Hai bức tượng võ sỹ, một trái một phải đứng ở đầu cầu, giống hệt như tượng võ sỹ đầu cầu bên kia. Ba người lấy đèn pin soi một lượt phía trước, trước mặt xuất hiện ngổn ngang vài cửa hang. Đường Phong suy đoán: “Chúng ta nhất định phải chọn đúng phương hướng, dù gì thì chúng ta cũng mở được vách đá ra rồi, lại đi qua được Cầu, có thể đi tới đây, vậy thì chắc chắn sẽ có đường thông ra bên ngoài”.

“Biết đâu lại dẫn tới nơi mà chúng ta cần tới…”, Hàn Giang nói.

“Nhưng nên đi đường nào đây? Xem ra chẳng có đường nào là có dấu vết được con người tác động, giống như thiên nhiên hình thành vậy!”, Makarov nói.

“Sợ nhất là lại rơi vào một mê hồn trận...”, Hàn Giang nhớ lại lối đi chằng chịt giống mê cung trước đó mà vẫn hết hồn.

Trong lúc Hàn Giang và Makarov đang tính toán xem nên đi đường nào thì Đường Phong quay lại thẫn thờ nhìn bức tượng võ sỹ bên phải phía đầu cầu. Hàn Giang quay người nói: “Đường Phong, cậu nhìn cái gì thế? Chúng ta mau nghĩ cách rồi đi thôi!”

“Hai người xem này, bức tượng võ sỹ bên trái khác với ba bức tượng còn lại!”, Đường Phong đột nhiên nói.

Hàn Giang và Makarov đều giật mình, lẽ nào lại có ý gì đó giống như các bức tượng tại góc đông bắc Phật đường trong Hạ tự? Nhưng Hàn Giang chăm chú nhìn hai bức tượng võ sỹ hồi lâu mà vẫn chưa nhìn ra: “Chỗ nào không giống vậy?”

“Đúng thế! Không giống chỗ nào?”, Makarov cũng không nhìn ra.

“Bức tượng này không dễ nhìn ra điểm không giống như bức tượng tại góc đông bắc Phật đường trong Hạ tự, hai người có để ý đến đôi mắt của bức tượng này không?”, Đường Phong chỉ vào mắt trái của bức tượng.

“Lại là mắt à?”, giờ thì Hàn Giang cứ nhìn thấy mắt là thấy đau đầu.

Quả nhiên, Hàn Giang và Makarov phát hiện ra, đôi mắt của bức tượng bên phải mở trừng trừng, nhìn thẳng về phía trước. Còn đôi mắt của bức tượng võ sỹ bên trái rất kì lạ, tuy con ngươi vẫn ở giữa khoang mắt nhưng lại cho người ta cảm giác nó đang nhìn về bên trái.

“Thế này là thế nào? Mắt của bức tượng này rất kì lạ, nhưng nhìn gần thì con ngươi của nó rõ ràng ở giữa khoang mắt giống như bức tượng bên phải mà!”, Hàn Giang không hiểu.

“Đây chính là kỹ thuật cao siêu của những người thợ Tây Hạ, con ngươi cũng khắc giữa khoang mắt, nhưng chỉ tính toán một chút, khắc con ngươi dày mỏng khác nhau là đã cho người ta một cảm giác đặc biệt”, Đường Phong giải thích.

Hàn Giang lại chăm chú nhìn tượng võ sỹ thêm một lúc, quả nhiên, con ngươi của bức tượng bên trái dày mỏng không đều, tạo cho người ta cảm giác võ sỹ đang nhìn về phía bên trái. “Những người thợ năm đó tốn bao nhiêu là công sức để chạm khắc những bức tượng võ sỹ thành thế này chắc chắn là có mục đích cả?”, Hàn Giang suy đoán.

“Bởi vậy tôi mới để hai người chú ý tới sự khác biệt của bức tượng bên trái.”

“Cậu chắc chắn hai bức tượng bên đầu cầu bên kia không có vấn đề gì chứ?”

“Tôi đã xem kĩ rồi, chỉ có mắt của bức tượng bên trái này mới có điểm đặc biệt. Tôi nghĩ nó được làm như vậy chắc chắn là có hàm ý, nếu không để ý kĩ, hoặc không biết nội tình, thì sẽ không phát hiện ra được!”, Đường Phong nói.

“Vậy thì chúng ta nên đi về phía bên trái thôi!”, nói xong, Hàn Giang lấy đèn pin soi về phía trước, quả nhiên ở đó có một lối đi trải dài về phía trước.

4

Đường Phong, Hàn Giang và Makarov quyết định, đi theo lối đi mà pho tượng võ sỹ bên trái chỉ lối. Đường Phong dẫn đầu bước vào lối đi này. Lối đi đó cũng gần như giống hệt lối đi phức tạp như mê cung trước đấy, không trông thấy mấy vết tích do con người tác động, nhưng anh lại ngửi thấy rõ mùi vị mà cố nhân đã từng đi qua đây.

Hàn Giang và Makarov không thế có được khứu giác này của Đường Phong, hai người theo anh chui vào lối đi này, nhưng cả ba đều có một mối lo lắng giống nhau, không biết lối đi này sẽ dẫn họ tới đâu.

Mười phút sau, Đường Phong đã tìm lại được sự tự tin bị rơi xuống vực thẳm lúc đi qua cây cầu đá, vì một cánh cổng màu đỏ thẫm đã hiện lên trước mắt họ.

Ba người dừng lại tại chỗ cách cánh cổng khoảng hai chục bước chân. “Rốt cuộc không có mê cung!”, Hàn Giang thở phào nhẹ nhõm.

“May mà Đường Phong nhìn ra bí mật của bức tượng võ sỹ!”, Makarov cũng thốt lên.

“Hai người đừng vui mừng vội, bên trong cánh cổng vẫn chưa biết là cái gì đâu đấy!”, Đường Phong cố gắng hết sức giữ bình tĩnh, nhưng tim anh vẫn đập rộn ràng.

Đường Phong đi thẳng tới cánh cổng đó. “Cẩn thận vũ khí bí mật đấy!”, Hàn Giang phía sau nhắc nhở.

“Thôi đi! Không phải sợ, kể cả người xưa có để lại ám khí đi chăng nữa, thì bao nhiêu năm vậy cũng mất linh rồi!”, xem ra Đường Phong cũng có chút tự tin, “Tôi thấy anh đọc nhiều tiểu thuyết trộm mộ quá nên tin rằng trong – cổ mộ có cung tên bí ẩn sát thương phải không? Hơn nữa đây mà là cổ mộ ư? Đây vẫn chưa phải là cổ mộ đâu!”, Đường Phong nói xong thì cũng đã bước tới trước cánh cổng màu đỏ.

Hàn Giang và Makarov cẩn thận đi theo, Hàn Giang còn căng thẳng rút súng ra. Lúc này, Đường Phong lại thấy hứng thú: “Trông anh lo lắng kìa, chẳng phải chỉ là một cánh cổng thôi sao?”

“Đề phòng thì càng tốt chứ sao... hơn nữa không hiểu sao tôi cảm thấy cánh cổng này rất giống cổng địa cung bên trong lăng mộ?”, Hàn Giang nói.

Đường Phong lấy tay chạm lên cánh cổng, một lớp hụi dày khiến màu đỏ tươi vốn có của nó đã chuyển thành màu đỏ sậm. Anh vuốt lớp bụi đi, phát hiện ra bên ngoài cánh cổng này thực ra được phết một lớp chu sa, anh còn phát hiện ra rất nhiều vật màu vàng trên cánh cổng.

Đường Phong quan sát những vật màu vàng này dưới anh đèn pin, mắt anh mở to, kinh ngạc reo lên: “Cánh cổng này thật quý giá!”

“Đây là cái gì vậy?”

“Sơn vàng!”

“Gì cơ?”

“Đây là một cánh cổng sơn vàng. Thực sự tôi không thể tưởng tượng được hình dạng của cánh cửa này lúc nó mới được làm xong, trên lớp chu sa lại được phết thêm một lớp sơn vàng. Nếu không phải bao năm qua đi đã khiến lớp sơn vàng này bong tróc, thì trong lối đi tối tăm này cánh cổng trước mặt chúng ta sẽ là một cánh cổng hoành tráng đấy!”, Đường Phong thán phục.

“Hóa ra cảnh cổng này vốn lấp lánh ánh vàng?”, Hàn Giang không tin.

“ừm, là vậy đấy. Mọi người nghĩ mà xem, lúc đầu cánh cổng này sẽ huy hoàng đến nhường nào, thật quý giá!”

Makarov nghe vẫn chưa hiểu lắm: “Đường Phong, ý cậu đây là một cánh cổng bằng vàng?”

“Không phải là cổng bằng vàng, nhưng cũng gần như thế!”

“ô! Chúa ơi, bên trong cánh cổng này có gì nhỉ?”, Makarov ngạc nhiên nói.

“Không biết, nhưng năm đó ở đây chắc chắn là một nơi quan trọng của Tây Hạ!”, Đường Phong suy đoán.

“Đừng sốt sắng vào vội, phải kiểm tra cẩn thận đã, chắc chắn không có nguy hiểm hãy vào!”, Hàn Giang vẫn chưa quên vụ ám khí.

Ba người lùi lại vài bước, quan sát lại cánh cổng sơn vàng quý giá trước mặt. Đường Phong phát hiện ra hai bên cánh cổng là vách đá được xếp thành từ những tảng đá lớn, vách đá vốn chưa được mài mòn đến đây là kết thúc. Bên trong lẽ nào là huyền cung trong núi được xếp thành từ những tảng đá khổng lồ? Đường Phong không dám nghĩ tiếp nữa, nhưng có thể khẳng định rằng, bên trong chắc chắn là một vùng đất khác, và anh vô cùng nóng lòng muốn mở cánh cổng thần kì đó ra.

5

Hàn Giang kiểm tra lại một lượt, không thấy chỗ nào có ám khí, anh không khỏi thất vọng: “Một cánh cổng hoành tráng thế này mà không có ám khí, đúng thật là chẳng lợi hại gì cả!”

“Hình như anh rất muốn có chút ám khí thì phải nhỉ?”, Đường Phong cười, nói.

“Tôi khuyên cậu hãy cẩn thận chút đi, bên ngoài không có, bên trong càng phải cẩn thận!”, Hàn Giang dặn dò.

Đường Phong vốn không nghe Hàn Giang, anh nhoài tới bên khe cửa, nhìn vào bên trong, trong đó tối om, không thấy lấy một tia sáng. Trong lòng anh bỗng trào lên một nghi ngờ: “Hai người nói xem, nếu ngay từ đầu chúng ta đã đi sai đường vậy thì người hại chúng ta phải vào đây trước chúng ta một bước chứ nhỉ, nhưng tại sao trong này chẳng có động tĩnh gì cả?”

“Biết đâu bên trong không phải là nơi mà gã bí ẩn đó muốn tìm!”, Hàn Giang đoán mò.

“Ý anh là chúng ta cứ đánh bừa gặp bừa rồi vô tình đi tới huyền cung trong núi này?”

“Tôi không biết, chỉ tới khi vào được bên trong mới biết thế nào! Anh xem chúng ta vào bên trong bằng cách nào bây giờ?”

Đường Phong lại soi đèn pin vào khe cửa, ánh sáng xuyên thủng bóng tối ngàn năm khói bụi trong huyền cung; anh thấp thoáng trông thấy vài bức tượng và cả vách đá là những tảng đá khổng lồ.

Đường Phong ra sức đẩy cánh cổng sơn vàng trước mặt, cánh cổng lõm vào bên trong, nhưng chiếc khóa sắt hoen gì vẫn nguyên vị, phát huy tác dụng của nó. Đường Phong không đẩy được cửa ra, nhưng anh vẫn nhìn lại tình hình phía sau cánh cửa, sau đó rất tự tin nói: “Phía sau cánh cổng này không có đá tự nhiên, chỉ có cái khóa này, chỉ cần phá hỏng được nó thì sẽ mở được cổng ra.”

“Cái này thì dễ thôi, nghề của chúng ta mà!”, nói xong, Hàn Giang liền móc ra một chiếc kẹp ghim, bẻ thẳng, nhét vào lỗ khóa. Nhưng lần này Hàn Giang lại vấp một cú lớn, anh dùng kẹp ghim chọc ngoáy mãi trong ổ khóa mà cũng không mở được: “Ôi trời! Anh mày hôm nay lại thua ở đây sao?”

Đường Phong đứng bên cạnh, cố ý nhìn Hàn Giang cười, nói: “Anh nhanh chút được không, đến cái khóa của cổ nhân mà anh cũng không mở được là sao?”

“Lắm lời! Sao mà tôi biết được, khóa nào tôi cũng từng mở rồi, chỉ có mỗi khóa từ thời cổ đại là chưa mở thôi. Kể cả phức tạp như két sắt, chỉ cần cho tôi thời gian thì chẳng có gì là tôi không mở được cả!”

“Được! Vậy bọn tôi sẽ cho anh thời gian.”

Đường Phong lại nhìn Hàn Giang chọc ngoáy năm, sáu phút mà vẫn chưa mở được khóa.

“Khóa của người xưa cấu tạo rất đơn giản, rốt cuộc anh có mở được không nào?”, Đường Phong thúc giục.

“Mẹ kiếp! Ai thiết kế ra cái khóa này vậy nhỉ? Chẳng đúng quy cách gì cả!”

“Đừng có kiếm cớ nữa, không được thì thay người đi!”

“Vậy cậu đi mà làm!”, Hàn Giang tức tối hậm hực gào lên.

“Làm thì làm!”, Đường Phong hất Hàn Giang sang một bên.

Hàn Giang chưa từng biết tới tay nghề mở khóa của Đường Phong, anh muốn thử xem rốt cuộc Đường Phong mở cái khóa thời Tây Hạ này thế nào. Và cảnh tượng khiến Hàn Giang lác mắt đã hiện ra: Đường Phong không chần chừ rút luôn khẩu súng ngắn 92 của anh ra, nhắm chuẩn chiếc khóa trên cánh cửa bắn một phát, một tia lửa lóe lên, khóa đã được mở.

Hàn Giang không ngờ Đường Phong lại giở chiêu này ra, anh bị lửa do đạn bắn ra làm cho giật bắn mình:

“Tốt xấu gì thì cậu cũng là một học giả, mà lại thản nhiên phá hoại văn vật như vậy à?”

“Cái khóa này gỉ sét hỏng cả rồi, anh không thể dùng chiêu chọc ngoáy để mở nó được đâu!”, Đường Phong nói.

“Phí lời! Dùng súng bắn thì tôi cũng làm được!”, Hàn Giang tức tới nỗi mũi muốn xì khói.

“Đáng tiếc là anh không nghĩ ra, hoặc nói thẳng ra là ngốc! Kể cả nói rằng đây là phá hoại văn vật đi chăng nữa thì đây cũng là việc cấp bách, nếu là bình thường thì cũng cầm cái cưa mà cưa từng chút một.”

Đường Phong nói xong liền đưa hai tay ra, rồi ra sức đẩy cánh cổng sơn vàng trước mặt. “Két” một tiếng, cánh cổng đã mở ra. Đường Phong rất kinh ngạc bởi đã mấy trăm năm sau mà bản lề của cổng này vẫn tốt như vậy.

Ba người lại bước vào một thế giới tối đen, sự lo lắng và hưng phấn đi kèm với nhịp tim đập loạn xạ của mọi người. Đường Phong là người đầu tiên phát hiện ra cái máng lõm vào trên vách đá để đựng đèn dầu và nến: “Mọi người nhìn những cái máng lõm vào này, giống hệt như cái máng hình đầu sói mà chúng ta nhìn thấy trong Hắc Đầu Thạch Thất”.

“Xem ra đây quả thực được kiến tạo từ thời Tây Hạ!”, Hàn Giang lấy nến mang theo ra, đốt từng cây cắm lên những cái máng này, chẳng mấy chốc cả cung điện bằng đá khổng lồ đều đã được chiếu sáng.

6

Dưới ánh nến âm u, Đường Phong nhìn xung quanh, anh phát hiện ra đây là một gian thạch thất có chút kì quái, không theo quy chuẩn nào cả, hoặc có thể gọi nó là “Thạch điện”. Thạch điện rộng chừng hai, ba trăm mét, hai bên thạch điện đều có hai cánh cổng lớn, một mặt lại là một lối đi rộng rãi, còn một mặt là hang động tối om.

Đường Phong phát hiện ra ở đây không những không có sóng điện thoại mà đến cả GPS cũng không có tín hiệu, họ chỉ có thể dựa vào một công cụ duy nhất là la bàn để xác định phương hướng.

Theo chỉ dần của la bàn thì cánh cổng ban nãy họ vừa mở ra là cổng phía tây của thạch điện, đối diện với cổng tây, ở phía đông vẫn còn một cánh cổng khác. Nhìn bên ngoài, cánh cổng này chẳng khác gì cánh cổng gỗ sơn vàng phía tây, từ kích thước, hình dáng đều giống hệt, gần như có thể đoán định hai cánh cổng này được tạo thành cùng lúc.

Đường Phong vòng ra sau cánh cổng phía tây trước, anh đẩy đẩy cửa, cửa không chặt, không giống cánh cổng phía tây ban nãy, vừa đẩy một cái đã hở ra một khe to. Anh nhìn qua khe cửa nhỏ hẹp, một vùng tối đen, không trông thấy bất cứ thứ gì cả, cũng không trông rõ khóa cửa của cánh cổng phía nam. “Xem ra cánh cổng này chưa từng được mở ra!”, Đường Phong thầm nghĩ.

Đường Phong lại men theo vách đá đi tới phía nam, ở đây có một cửa hang tối om om. Anh dùng đèn pin soi vào bên trong, lối đi tối đen không nhìn thấy điểm kết thúc.

"Vách đá bên ngoài chưa từng được mài giũa!”, Đường Phong phán đoán.

“ừm, giống hệt như lối đi trước đó của chúng ta!”, Hàn Giang có vẻ ngạc nhiên.

Đường Phong không đáp lại mà cẩn thận kiểm tra tình trạng của cửa hang. Giống tình trạng bên ngoài cổng phía tây ban nãy, hai bên cửa, hang xuất hiện vách đá được xếp bằng những tảng đá khổng lồ, chỉ có điều ở đây không có cánh cổng lớn sơn vàng đó. Nghĩ tới đây, Đường Phong nói: “Hình như ở đây từng có một cánh cổng lớn, một cánh cổng sơn vàng giống như cổng phía tây và phía đông.”

“Làm thế nào cậu biết được?”, Makarov hỏi.

“Đầu tiên, hình dáng của cửa hang này giống như cánh cổng phía đông mà chúng ta vào đây; thứ hai, phía đông, phía tây đều có cửa thì phía nam cũng không thể để trống vậy chứ? Dĩ nhiên cháu vẫn cần tới bằng chứng cụ thể hơn”, Đường Phong vừa nói vừa chỉ vào một cái máng bên cạnh cửa hang, “Bác xem, ở đây chắc là vị trí mà trước đây vốn đặt bản lề cửa!”

Quả nhiên, Hàn Giang và Makarov cũng phát hiện ra một cái máng hõm vào để đặt bản lề cửa phía bên kia cửa hang. Đường Phong lại bò ra đất dùng đèn pin lục soát từng chút từng chút một. “Cậu đang tìm gì vậy?”, Hàn Giang không hiểu.

“Tôi đang tìm dấu vết sơn vàng hoặc là chu sa.”

Nhưng khiến Đường Phong thất vọng là anh tìm mãi mà chẳng phát hiện ra chút dấu tích nào của sơn vàng và chu sa. Lẽ nào ở đây ngay từ đầu đã trống trơn như vậy, không có cửa? Không thể, máng và cửa hang trên vách đá khổng lồ đã chứng minh rằng ở dây đã từng có một cánh cổng lớn.

Đường Phong chìm trong suy tư, Makarov bỗng đột nhiên hỏi: “Giả sử ngay từ đầu chúng ta đã đi sai đường, đường chính xác phải là mắt phải của tượng Phật, vậy thì lối đi bên mắt trái sẽ thông tới đâu đây? Vậy thì cánh cổng vốn dĩ có ở đây, có khi nào bị cái gã bí ẩn đó nhanh tay phá hủy trước rồi không?”

Makarov nói vậy khiến Đường Phong giật mình.

Ngược lại Hàn Giang rất bình tĩnh: “Ban nãy tôi quan sát kĩ ở đây xem có kí hiệu nào của gã bí ẩn đó để lại hay không nhưng đáng tiếc là chẳng có gì cả.”

“Nếu có thì đã chứng thực cho suy đoán của tôi rồi!”, Makarov nói.

“Không!”, Đường Phong bỗng hét lên một tiếng,

Tôi cho rằng ở đây vốn dĩ có một cánh cổng sơn vàng giống như ở phía tây và phía đông, nhưng chắc chắn không phải đã bị gã bí ẩn đó phá hoại.”

“Ồ! Làm thế nào cậu biết được?”

“Rất đơn giản, nếu như mới bị phá hoại thì phải để lại dấu vết, kể cả gã ta có phá hủy cả cánh cổng đi chăng nữa, thì cũng phải còn dấu tích sót lại. Nhưng chúng ta thấy ở đây rất sạch sẽ, rõ ràng không thể là do gã bí ẩn đó làm dược!”, Hàn Giang phán đoán.

Makarov gật gù: “Cậu nói cũng có lý, nhưng cánh cổng ở đây đâu?”

“Chỉ có hai khả năng, thứ nhất là ở đây vốn dĩ không có cổng, hoặc đã bị phá hoại từ trước đó rất lâu rồi. Bản thân tôi nghiêng về giả thiết sau hơn.”

“ừm, rất có khả năng là vậy!”, Hàn Giang gật gù, “Chắc là có người vào đây từ lâu rồi, nên vì thế mà trong thạch điện này chẳng còn lại gì cả.”

“Vậy thì không phải chúng ta đã uổng công tới đây sao?”, Makarov đầy vẻ thất vọng.

Ba người chìm trong trầm tư. Đường Phong quay lại chính giữa thạch điện, ngẩng đầu quan sát, trên đỉnh thạch điện có chạm khắc hoa sen tinh xảo: “Đây lẽ nào chính là Thượng tự trong truyền thuyết ư?”

“Hiện giờ xem ra quả thực như vậy đấy!”, Hàn Giang nói.

“Công trình hoành tráng này rốt cuộc là vì cái gì, rốt cuộc ở đây từng cất giữ cái gì?”

“Có thể là chất đầy vàng bạc, ngọc ngà châu báu, có thể là kinh điển Phật giáo. Ai mà biết được? Cái này thì cậu phải đi hỏi người đầu tiên vào đây!”, Hàn Giang bĩu môi rồi lại bước vài bước về phía bắc, phía trước chính là lối đi thênh thang.

“Anh có để ý thấy lối đi này không?”, Đường Phong bỗng hỏi Hàn Giang.

“Thấy rồi, giống như một lối đi vẫn chưa thi công xong, bởi vậy ở đây cũng không cần xây cổng”, Hàn Giang trả lời.

“Biết đâu... biết đâu lối đi này không đơn giản như chúng ta tưởng tượng...”, Đường Phong đột nhiên thốt ra một câu.
 

hoahongden12

Active Member

Đường Phong cũng không hiểu lại sao lúc này tim mình đập nhanh như vậy. Anh lại liến lên phía trước nửa bước, và đột nhiên, mắt anh mở to, đèn pin trong lay suýt nữa thì rơi xuống đất. Anh trông thấy... anh trông thấy trước mặt là phần dưới của bộ hài cốt bị kẹp trung cánh cửa đồng bọc vàng nặng trịch.

1

Hàn Giang nhìn lối đi thênh thang phía bắc. Hình như lối đi chưa đục đẽo xong, nên chỉ sâu chưa tới chục mét, trong lối đi còn chất đống rất nhiều đá vụn, thậm chí còn có cả hai chiếc xẻng sắt đã gỉ sét.

“Anh không phát hiện thấy sao? Lối đi này rộng rãi hơn lối đi chúng ta đã đi qua”, Đường Phong ở bên cạnh nhắc nhở Hàn Giang.

“Chỉ dựa vào điều này mà nói rằng lối đi nảy không đơn giản ư?”

“Không! Quan trọng hơn là đống đá vụn đó!”

“Đá vụn?”, Hàn Giang không hiểu.

Đường Phong dẫn Hàn Giang, Makarov, ba người đi vào lối đi rộng rãi này, đi mãi cho tới tận cuối đường. Ba người cẩn thận rón rén di chuyển về phía trước vài bước, mũi chân Đường Phong chạm vào một viên đá hình bầu dục. Anh dùng đèn pin soi xung quanh, vách đá được mài kĩ lưỡng, gần như không khác gì so với vách đá trong thạch điện, nhìn tiếp phía trước, chặn đứne đường đi của họ không phải là vách đá, mà là những hòn đá vụn được chất đống như núi.

Đường Phong nhặt một hòn đá dưới đất lên, nhìn ngắm một lúc, nói: “Những hòn đá này xem ra không phải là đá vụn thông thường mà là những viên đá hình tròn hoặc hình bầu dục đã được mài giũa kĩ lưỡng.”

Hàn Giang gật gù: “Hình như là được mài giũa, nhưng điều này cũng không thể thay đổi được sự thật đây là một ngõ cụt.”

“Đối với chúng ta là ngõ cụt, nhưng đối với lối đi này mà nói thì nó không phải là ngõ cụt. Từ tình hình xung quanh phán đoán, lối đi vẫn trải dài về phía trước, chỉ có điều hiện giờ đang bị những hòn đá này chặn đứng mà thôi.”

“Ý anh là lối đi này chưa hết, phía sau những hòn đá vẫn còn đường?”, Hàn Giang ngạc nhiên.

“Phía sau những hòn đá này sẽ có gì nhỉ?”, Makarov hỏi.

“Không biết, có lẽ đằng sau vần là một vách đá, vậy thì lối đi này đúng là một ngõ cụt. Nếu là như vậy thì những hòn đá này chỉ là những vật liệu kiến trúc vứt bừa bãi mà thôi!”, Đường Phong suy đoán.

“Nhưng tôi thấy không giống. Nếu phía sau đống đá này chính là một vách đá, vậy thì tại sao còn phải đục đẽo mở thêm hướng bắc để làm gì? Hình thế của phía bắc đều khác ba mặt phía đông, nam, tây, nên chắc chắn là ban đầu làm vậy đều có ý cả!”, Hàn Giang cũng cảm giác có điều gì đó bí ẩn phía sau những hòn đá này.

“Tôi cũng nghĩ như vậy, bởi vậy mới nói phía sau những hòn đá chắc chắn có điều gì đó hay ho”.

Đường Phong vừa nói vừa nhìn Hàn Giang, hỏi ý kiến: “Anh xem chúng ta hiện giờ nên làm thế nào?”

“Ý cậu là gì?”

“Ngu công dời núi thôi!”

“Cậu điên rồi! Cậu có biết chỗ đá này nhiều thế nào không? Hiện giờ còn chưa trông thấy phía sau có bao nhiêu đá nữa!”

Tính ngang ngạnh của Đường Phong lại trỗi dậy, khiến Hàn Giang cũng không neãn được. Chỉ thấy Đường Phong xắn tay áo, vung tay khởi động, bắt đầu bê những hòn đá trước mặt, anh xếp ngay ngắn từng hòn từng hòn đá dọc theo lối đi. Chẳng mấy chốc hai bên lối đi đã hình thành hai bức tường đá.

Hàn Giang và Makarov cũng đành phải đen giúp Đường Phong bê đá. Đường Phong bò lên đống đá, chẳng mấy chốc đã vạch ra được một lối đi trên đó. Lại bê tiếp thêm một lúc, anh đứng trên đống đá, bỗng hưng phấn hét lên với Hàn Giang và Makarov: “Ở đây, phía sau không phải là đá, đã có thể nhìn thấy đằng sau rồi!”

“Phía sau là gì vậy?”, Hàn Giang đứng dưới hỏi.

Đường Phong vẫn đứng trên đống đá, nhưng mãi một hồi lâu không thấy trả lời...

“Rốt cuộc cậu trông thấy gì vậy?”, Hàn Giang lại thúc giục hỏi.

“Không nhìn rõ lắm, hình như... hình như lại là một cái cổng...”, Đường Phong ngập ngừng nói.

“Cổng?!”, Hàn Giang và Makarov giật mình.

“Đừng quan tâm nhiều nữa, dọn đống đá này đi đã!”, Đường Phong kêu lên.

May mà đống đá này không nhiều lắm, ba người mất hơn nửa tiếng đồng hồ mới dọn được hơn một nửa đống đá. Tuy đá dưới đáy vẫn chưa dọn sạch nhưng họ đã trông thấy một điều bất ngờ - một cánh cổng bằng vàng hiện lên trước mặt họ.

2

“Gì vậy?”, Hàn Giang ngạc nhiên tới nỗi há hốc mồm kinh ngạc.

“Cổng bằng vàng ròng?”, Makarov cũng bất ngờ tới nỗi không khép được miệng.

Ngược lại Đường Phong trấn tĩnh hơn, anh đeo găng tay, vuốt lớp bụi trên cánh cổng đi, tỉ mẩn quan sát. Anh phát hiện ra có vài chỗ trên cánh cổng vàng bị bong tróc, lộ ra gỉ đồng màu xanh, anh cười: “Đây không hẳn là một cánh cổng bằng vàng ròng đâu.”

“Đó là gì vậy?”

“Cổng đồng bọc vàng. Bên ngoài mạ một lớp vàng, bên trong được làm bằng đồng.”

“Như vậy cũng hoành tráng lắm rồi!”, Hàn Giang nói.

“Đúng vậy! Quý giá hơn những cánh công gỗ sơn vàng bên ngoài nhiều!”, Đường Phong nhìn cánh cổng đồng bọc vàng trước mắt, không khỏi cảm phục, “Không ngờ trong lối đi âm u sâu hun hút như thế này, mà lại có một cánh công lớn quý giá như vậy. Nếu tôi nhìn không lầm thì đây là một cánh cổng bằng đồng được chế tác tinh xảo, bên ngoài mặt đồng là một lớp vàng, rồi lại vẽ tranh trên lóp vàng đó. Chỉ có điều bao năm đã trôi qua rồi, nên hiện giờ chúng ta rất khó có thể nhìn thấy được toàn bộ diện mạo của cánh cổng này. Nhưng chúng ta vẫn có thể tưởng tượng ra, năm đó cánh cổng bằng đồng bọc vàng này lấp lánh huy hoàng thế nào trong lối đi âm u hun hút này.”

“Tại sao phải dựng một cánh cổng quý giá như vậy ở đây làm gì nhỉ?”, Makarov hỏi.

“Cái này thì phải hỏi Nguyên Hạo thôi. Nhưng chúng ta có thể thử nghĩ một chút, cánh cổng này quý báu như vậy, vậy thì đằng sau nó chắc chắn còn có những thứ đáng để kinh ngạc và quan trọng hơn!”, Đường Phong không che giấu được sự hưng phấn trong lòng.

“Vậy tại sao trước cửa cánh cổng này lại chất nhiều đá như vậy?”, Hàn Giang không hiểu.

“Có lẽ vì thế mà có thể so sánh với đống đá chặn cửa trước địa cung lăng mộ, điều này càng thể hiện rõ tính quan trọng của không gian phía sau cánh cổng lớn này”, Đường Phong nói.

“Vậy thì còn chờ gì nữa, mau bê những viên đá còn lại đi thôi!”, Hàn Giang phấn khởi hét lên.

“Đợi đã... tôi bỗng nhớ ra một chuyện, nếu như đã có người vào đây từ trước đó rất lâu rồi, thì tại sao lại không mở cánh cổng bằng đồng bọc vàng này ra?”, Đường Phong bỗng nhớ ra vấn đề mấu chốt.

“Mặc kệ nó? Có lẽ họ vốn không phát hiện ra phía sau những hòn đá vẫn còn một cánh cổng hoành tráng như vậy! Chúng ta mở cánh cổng này ra thì sẽ rõ hết mọi chuyện thôi!”, Hàn Giang thúc giục.

Không biết do phấn khích hay do hoảng loạn, có lẽ phần lớn là do sự kì vọng vào thế giới còn chưa được biết tới phía sau cánh cổng, nên ba người đã bê đá rất nhanh.

Vẫn còn một số hòn đá cuối cùng ở phía dưới. Khi Đường Phong nhấc một hòn đá to tướng lên, thì người anh bồng cứng đờ, mắt không chớp nhìn chằm chằm vị trí dưới hòn đá! Hàn Giang nhìn bộ dạng đó của Đường Phong cũng hơi sững sờ, anh dùng đèn pin soi về phía mà Đường Phong nhìn không chóp mắt và cũng run bắn người lên. Anh vội vàng ngồi xổm xuống, rồi lại bê hai hòn đá đi, một đoạn xương trắng hiện lên trước mắt anh.

Hàn Giang từ từ đứng dậy, miệne lẩm bẩm: “Là một đoạn xương trắng! Xương người!”

‘Không! Là một bộ xương!”, Đường Phong chậm rãi nói.

“Một bộ?”, mọi người kinh ngạc.

Đường Phong không tiếp lời Hàn Giang, cúi ngay người xuổng, khẩn trương bê hòn đá bên cạnh đoạn xương trắng đó đi. Cứ mỗi hòn đá được bê đi, thì càng nhiều xương trắng hiện lên trước mặt họ.

Đường Phong vẫn ra sức bê, nhưng Hàn Giang ngăn anh lại: “Khoan đã!”

Đường Phong không hiểu Hàn Giang có ý gì, nhưng anh cũng dừng lại. Hàn Giang lấy từ trong túi ra một cái bàn chải và một túi đựng vật chứng, cẩn thận ngồi xuống, dùng bàn chải tỉ mẩn quét sạch từng chút bụi đất trên xương trắng.

Đường Phong thấy Hàn Giang cẩn thận như vậy liền cười: “Ồ! Anh cẩn thận như vậy chắc còn hi vọng lấy được cả dấu vân tay trên xương hả?”.

“Đó là sự hoang tưởng ngu ngốc. Tiếp đây cậu hãy làm theo những gì tôi dặn, tôi bảo cậu bê hòn đá nào thì hãy bê hòn đá đó!”, Hàn Giang nói bằng giọng ra lệnh.

“Tuân iệnh!”, Đường Phong bó tay lắc đầu.

Đường Phong làm theo lời Hàn Giang dặn, khẽ khàng bê nhữne viên đá vụn cuối cùng trước cổng đi, tất cả xương trắng đều đã phơi bày trước mặt họ.

Hàn Giang dùng máy ảnh kỹ thuật số chụp lại hai bức ảnh xương cốt, Đường Phong thì nghi ngờ, ngạc nhiên hỏi: “Hóa ra là một nửa bộ xương.”

Hàn Giang chụp ảnh xong, cất máy ảnh đi, thở dài, nói: “Không! Là một bộ, là một bộ xương hoàn chỉnh.”

“Nhưng chúng ta chỉ nhìn thấy nửa bộ hài cốt thôi mà! Hình như là nửa trên của người này!”, Đường Phong ngạc nhiên, không hiểu.

“Cậu nhìn kĩ lại xem, người này có nửa thân dưới đấy chứ”, Hàn Giang nhắc nhở Đường Phong.

Đường Phong cầm lấy đèn pin trong tay Hàn Giang rồi lại soi về phía bộ xương trước cổng, tò đầu tới chân, từng chút từng chút một, xương sọ, xương lồng ngực, xương cánh tay, xương chậu... tới phần xương chậu thì hết rồi. Đường Phong cũng không hiểu tại sao, lúc này tim anh đập loạn xạ. Anh lại tiến lên phía trước nửa bước, đột nhiên, mắt anh mở to, chiếc đèn pin trong tay xém chút nữa là rơi xuống đất. Anh trông thấy... trông thấy nửa phần dưới của bộ xương này bị kẹp bên trong cánh cổng bằng đồng bọc vàng nặng trịch.

“Cái... cái này thật...”, Đường Phong vô cùng hoảng hốt, trước mắt anh dường như lại hiện lên cảnh tượng giãy giụa trong đau đớn khủng khiếp của người trước lúc chết bị kẹt trong cánh cổng.

“Cậu nhìn rõ rồi chứ?”, Hàn Giang bình tĩnh hỏi.

“Người này bị cánh cổng kẹp chết sao?!”, Đường Phong ngạc nhiên.

“Tại sao người này chết thì hiện giờ vẫn chưa xác định được. Nhưng từ tư thế đau khổ trước lúc chết của người này thì có thể tưởng tượng: người chết chắc chắn đã gặp phải điều gì đó đáng sợ phía sau cánh cổng, nên mới bất chấp tất cả lao ra ngoài cổng thoát thân như vậy, nhưng kết quả vẫn bị cánh cổng nặng trịch này kẹp cứng”, Hàn Giang mạnh dạn suy đoán.

“Cầu chúa phù hộ cho con người bất hạnh này!”, đối diện với tư thế đặc biệt của bộ hài cot, Makarov không khỏi làm dấu chữ thập trước ngực.

“Rốt cuộc bên trong cánh cổng có thứ gì đáng sợ vậy?”, giọng Đường Phong có chút run rẩy, sự tự tin ban nãy đã biến mất.

“Đúng vậy! Phía sau cánh cổng có gì vậy nhỉ?”, Hàn Giang cũng lộ rõ sự hoang mang.

Nhưng dưới sự thôi thúc khủng khiếp của lòng hiếu kì, Đường Phong vẫn bất giác đưa tay, ra sức đẩy cánh cổng bằng đồng bọc vàng trước mặt. Nhưng Đường Phong vẫn chưa kịp đẩy thì Hàn Giang bồng kêu lên: “Đợi đã!”

Đường Phong rụt ngay tay lại: “Anh hét linh tinh cái gì thế hả?”

Hàn Giang cũng không trả lời Đường Phong, anh tới trước cánh cổng, lấy tay khẽ nhặt nắm cửa bằng đồng mạ vàng ở hai bên cánh cổng lên. Ngắm nghía một hồi, Hàn Giang bỗng hỏi Đường Phong: “Cậu có nhìn ra chỗ nào đặc biệt trên vật này không?”

“Đây không phải là một đôi nắm cửa sao? Cũng chính là cái vòng cửa bên ngoài. Thời xưa, trước cửa nhà nào chẳng có thứ này?”

“Không! Không phải tôi hỏi cậu cái này. Cậu có nhìn thấy đoạn dây thừng trên vòng cửa không?”, Hàn Giang khẽ nhấc đoạn dây thừng đã mục nát trên nắm cổng bên trái lên.

Lúc này Đường Phong mới để ý thấy đoạn dây thừng này. Anh cầm lên nhìn kỹ: “Đoạn dây thừng này xem ra cũ lắm rồi, nhưng...”

“Nhưng gì cơ?”

“Nhưng loại dây thừng này chắc chắn không phải từ thời Tây Hạ. Lúc đó không thể có loại dây thừng này được, lai lịch của nó chắc chỉ trong vòng gần trăm năm nay thôi”, Đường Phong phán đoán.

“ừm, tôi cũng nghĩ vậy!”, Hàn Giang nói.

“Điều này cho thấy trong gần một trăm năm nay có người đã từng tới đây, nhưng chắc chắn không phải là cái gã bí ẩn đó!”, Makarov nói.

“Đừng quan tâm nhiều nữa, vào bên trong trước đã rồi tính!”, Đường Phong lại chuẩn bị lấy súng mở cửa, nhưng anh bỗng phát hiện ra cánh cổng bằng đồng bọc vàng không có khóa cửa bên trên... Đường Phong, Hàn Giang và Makarov ngạc nhiên nhìn nhau, ngây người ra một lúc mới định thần lại. Đường Phong và Hàn Giang mồi người đứng vững một bên, lòng đầy hi vọng, cùng dồn sức và cánh cổng bằng đồng bọc vàng trông nặng trịch nhường vậy đã nhẹ nhàng mở ra.

3

Ba người cẩn thận tiến từng bước vào bên trong, dùng đèn pin soi sáng phía trước: xung quanh là lối đi được mài phẳng. Ba người theo lối đi này tiến lên phía trước khoảng hơn ba chục bước chân thì đã đi hết lối đi, lại tới một tòa thạch điện khác.

Đường Phong bỗng cảm thấy mặt đất phía trước lấp lánh chút ánh sáng kì dị, anh vội dùng đèn pin soi chiếu:

“Là nước! Hóa ra phía trước lại có một đầm nước?”, Đường Phong ngạc nhiên kêu lên.

“Thật không thể ngờ trong huyền cung sâu hun hút này mà lại có một đầm nước?”, Hàn Giang cũng rất ngạc nhiên.

Nhưng Makarov lại phân vân nói: “Đó không phải là đầm nước đâu, bên trong cũng không phải là nước.”

“Ồ?”, Đường Phong và Hàn Giang cùng nhìn Makarov.

“Đó là thủy ngân!”, Makarov khẳng định.

“Thủy ngân!”, Hàn Giang ngạc nhiên.

“Đầm thủy ngân trong huyền cung!”, Đường Phong lập tức nghĩ tới những đầm thủy ngân ở trong lăng mộ của đế vương được ghi chép lại trong những cuốn sách từ thời cổ đại, đây... đây lẽ nào chính là “đầm thủy ngân” được ghi chép trong sử thi? Đây là lần đầu tiên anh nhìn thấy.

“Thủy ngân cực độc, mọi người phải cẩn thận!”, Makarov cảnh báo.

Đèn pin trong tay Đường Phong quét một lượt khắp Phật điện, phía trước chỉ có đầm thủy ngân này, không có con đường nào khác để vòng qua đầm thủy ngân. “Thế... thế này là thế nào? Chúng ta làm thế nào để đi qua đó đây?”, anh hỏi.

Makarov và Hàn Giang cũng đang quan sát. Chùm ánh sáng từ đòn pin của ca ba rốt cuộc đều chụm lại tại bờ phía bắc của đầm thủy ngân, một đoạn cầu thang từ bờ phía bắc đầm thủy ngân kéo dài lên trên, cho tới tận bậc thềm của bờ phía bắc...

Đường Phong nhìn không rõ tình hình trên bờ, trước mắt họ chỉ có cái đầm thủy ngân này, chỉ có thông qua đây họ mới có thế bước lên được bậc thềm của bờ phía bắc. Đường Phong nhìn Hàn Giang, Hàn Giang nhìn Makarov, chẳng ai có cách nào để vượt qua cái đầm thủy ngân này. Một cái đầm thủy ngân bé tẹo mà lại trở thành vật cản mà họ không thể vượt qua.

Ba người nhìn nhau, chẳng có cách nào. Hàn Giang còn có vẻ trấn tĩnh hơn cả, anh lại móc vài cây nến ra, châm nến cắm lên những cái máng trên vách đá bên cạnh, trên lối đi cũng cắm thêm hai cây nến. Anh vừa mới cắm xong nến thì chân bỗng đá phải thứ gì đó. Mượn ánh nến, anh phát hiện ra bên trái lối đi có một tấm gồ đài.

Mắt Hàn Giang sáng lên: “Sao trong lối đi lại có một tấm gỗ thế này nhỉ?”

Đường Phong lập tức nghĩ tới nguyên do: “Chúng ta ngốc thật đấy, hồi đó chắc chăn cùng có người phải đi qua đây, thì nhất định phải có công cụ để đi qua, tấm gồ này không phải được chuẩn bị cho đầm thủy ngân sao? Đúng là trên đời này chẳng có con đường cùng!”

“Phải cẩn thận, vì tấm gỗ này trông cũng đã qua bao 5 năm nay rồi, ngộ nhỡ...”, Hàn Giang không nói tiếp, nhưng trong đầu cả ba người đều hiện lên cảnh tượng đáng sợ nếu trượt chân rơi xuống đầm thủy ngân.

Makarov ngồi xuống cẩn thận kiểm tra tấm gỗ. Mãi lâu sau ông mới khẽ gật đầu: “Tấm gồ này tuy cũ rồi nhưng nếu tải sức nặng của một người chắc, không có vấn đề gì, chúng ta từng người qua một.”

“Không! Chúng ta bắt buộc phải để lại một người ở đây đề phòng bất trắc!”, Hàn Giang đề nghị.

“ừm, hai người đi qua, một người ở lại đây”, Đường Phong cũng đồng ý.

Hàn Giang có ý muon Makarov ở lại đây, nhưng ông vẫn cố chấp muốn sang bên kia. Hàn Giang liền nghĩ lại, ở cái chỗ quái quỷ này thì chẳng chỗ nào an toàn. Vậy là, rốt cuộc anh đã đồng ý để Makarov và Đường Phong qua đó, còn mình thì ở lại thạch điện.

Gác tấm gỗ xong, không dài không ngắn, vừa đúng chiều dài của đầm thủy ngân, xem ra đúng là được chuẩn bị sẵn cho việc qua đầm. Đường Phong nhảy lên tấm ván đầu tiên. Tấm gỗ chỉ rộng 30 cen-ti-mét, lại cộng thêm năm tháng cũ kĩ nên Đường Phong bước trên đó nghicng nghiêng ngả ngả, giống như đang bước trên chiếc cầu độc mộc vậy.

Đường Phong dang hai tay ra, cố gắng hết sức giữ thăng bằng, anh không dám nhìn xuống dưới chân, nhưng không thể không nhìn. Trông thấy cả một đầm thủy ngân đầy ắp mà thấy đau đầu, toàn thân lắc lư, xém chút nữa là mất thăng bằng. May mà anh kịp thời ngồi xổm xuống để lấy lại thăng bằng.

Đường Phong từ từ đứng dậy, tiếp tục tiến lên phía trước, 34 bước! Đường Phong nhớ rõ từng bước chân trên tấm gỗ. Rốt cuộc, Đường Phong đã thắng lợi khi trông thấy bờ bắc, nhưng anh không dám nhảy phắt lên đó mà vẫn phải bước từng bước nhỏ dịch chuyển về phía đó.

Makarov cũng rất thuận lợi đi qua tấm gỗ, Đường Phong và ông cùng nhìn nhau một cái, không hẹn mà gặp cùng hướng về bậc thềm trên bờ phía bắc. Ở đó sẽ có gì vậy? Kho báu của vương triều Tây Hạ? Hay là kệ tranh ngọc thứ ba mà họ khổ sở tìm kiếm?

4

Bậc thang dẫn lên bậc thềm đó yừa vặn có thể cho hai người cùng đi, Đường Phong và Makarov cùng leo lên đó, tổng cộng có 14 bậc. Khi chân Đường Phong chạm tới bậc thang cao nhất, anh không khỏi run rẩy. Bởi vì dưới ánh đèn pin, anh đã thấp thoáng trông thấy cảnh tượng khiến anh chấn động.

Một Phật đài hoành tráng hiện lên trước mắt anh, bảy bức tượng Phật cao to xếp thẳng hàng trên Phật đài, hùng vĩ oai phong. Bên cạnh tượng Phật là những pho tượng Bồ tát, La hán xếp xung quanh. Cảnh tượng này khiến Đường Phong bồng nghĩ tới Linh Sơn ở Tây Thiên, lẽ nào đây chính là thế giới cực lạc Tây Hạ?

Đường Phong cố gắng hết sức giữ bình tĩnh, và chỉ nhìn một cái là anh đã phán đoán ra ngay: những thứ này đều là tượng Phật mang phong cách Tây Hạ, không cần phải hỏi, ở đây chăc chăn vân là kiệt tác của Hạo Vương.

Nhưng cảnh tượng còn khiến Đường Phong và Makarov chấn động hơn không chỉ có vậy.

Đường Phong dùng đèn pin soi vào phía sau tượng Phật, anh phát hiện ra sau Phật đài vần chưa kịch đường, tối om om, giống như vẫn còn một không gian rộng lớn. Đường Phong và Makarov vòng ra sau Phật đài, hai người kinh ngạc phát hiện ra trên vách đá phía sau Phật đài lại xuất hiện một cửa hang ra hình ra vẻ.

Đường Phong đang định bước đi thì bỗng dưới chân vang lên tiếng kim loại leng keng, anh vội vàng dùng đèn pin soi xuống dưới, trong lớp bụi bặm thấp thoáng hiện lên vật gì giống hai đồng xu. Anh cúi xuống nhặt “hai đồng xu” đó lên, rồi chỉ nhìn một cái đã kêu lên: “Quả nhiên đã có người từng tới đây!”

“Sao cơ? Cậu phát hiện ra gì vậy?”, Makarov hỏi.

“Lão Mã, bác xem, đây là tiền xu từ thời Dân quốc, chúng cháu gọi những đồng xu này với tên dân dã là: Viên đầu to”, Đường Phong đưa đồng bạc cho Makarov.

Makarov cúi nhìn: “Cũng có nghĩa là thời Dân quốc đã có người tới đây rồi!”

“Xem ra quả đúng như vậy. Sợi dây thừng trên tay nắm cổng, xương người trong khe cổng, lại còn cả cánh cổng bị biến mất phía nam thạch điện, tất cả những điều này đều nói lên rằng, trước chúng ta đã có người từng tới đây. Nhưng họ tới đây sớm hơn chúng ta rất nhiều, hai đồng xu này cho thấy những người đó đã vào đây khoảng thời kì Dân quốc!”, Đường Phong suy đoán.

Makarov cũng trầm ngâm một hồi: “Đường Phong, cậu nói như vậy tôi cũng bỗng nhớ tới hai bộ xương mà chúng ta phát hiện thẩy trong Thất sắc cẩm Hải.”

Mắt Đường Phong sáng lên, ngạc nhiên nói: “Đúng vậy! Lúc đó trong động thác ngầm chúng ta đã phát hiện thấy một số súng ống đạn dược và công cụ, đều từ thời Dân quốc, bởi vậy mới phán đoán hai bộ xương đó cũng thuộc thời Dân quốc.”

“Sau đó đại Lạt ma ở Thất sắc cẩm Hải cũng từng kể với chúng ta rằng: những năm 40 của thế kỷ trước từng có bốn người tới Thất sắc cẩm Hải tìm kiếm kệ tranh ngọc trong tuyết sơn A Ni Mã Khanh. Người dẫn đầu nhóm người đó còn tự xưng là thiếu tá của cục bảo mật chính phủ quốc dân”, Makarov nhớ lại.

“Lão Mã, nếu bác không nhắc lại thì cháu cũng quên mất đấy. Đúng là đại Lạt Ma đã nhắc tới bốn người xông vào Thất Sắc Cẩm Hải, sau đó những người trong bộ tộc của đại Lạt Ma đã bày kế lừa những người này vào trong động thác đá... Hôm nay, trên núi chùa Hắc Thứu, chúng ta lại phảt hiện ra di vật và hài cốt từ thời Dân quốc. Lẽ nào... lẽ nào thời Dân quốc đã từng có một nhóm người vi hí mật của kệ tranh ngọc, mà đã bày ra một trận tranh giành đổ máu như vậy?”

“Một trận chiến kéo dài cả trăm năm!”, Makarov lẩm bẩm.

“Có lẽ trận chiến này chưa từng dừng lại!”, Đường Phong than thở.

Makarov im lặng, dùng đèn pin soi xung quanh. Đột nhiên, ông chỉ vào phía sau bức tượng to nhất ở giữa, hét lên: “Đường Phong, ở đây có chữ!”

Đường Phong nhảy lên Phật đài, soi đèn pin lên lưng Phật, một dòng chữ Tây Hạ viết theo hàng dọc hiện lên trên lưng Phật. Đường Phong tập trung nhận biết, chầm chậm đọc ra: “Giới - Đàn - Thượng - Tự - Trung - Điện - Cát- Vị.”

“Đường Phong, nghĩa là gì?”

“Xem ra đây chính là Thượng tự mà chúng ta tìm kiếm!”, Đường Phong tự lẩm bẩm trong niềm phấn chấn.

“Không ngờ người Đảng Hạng lại xây đựng một tự viện hùng vĩ như vậy trong lòng núi!”, Makarov lại nhìn xung quanh cảm phục.

“Càng quan trọng hơn là câu này đã tiết lộ cho chúng ta biết vị trí hiện giờ mà chúng ta đang đứng. Đây chính là điện ở giữa của Thượng tự, như vậy cũng có nghĩa là tòa thạch điện mà chúng ta thấy ban nãy chính là tiền điện, đồng thời còn nói cho chúng ta biết phía sau chúng ta chắc là vẫn còn một hậu điện nữa!”, Đường Phong càng nói càng phấn chấn.

“Đường Phong, tôi biết trong văn hóa kiến trúc của Trung Quốc, thì thường những gì ở phía sau sẽ là quan trọng nhất, đúng không?”, Makarov hỏi.

“Không hẳn là vậy, nhưng thông thường thì lăng mộ trong địa cung sẽ là như vậy!”, Đường Phong buột miệng.

Đường Phong vừa nói xong cả hai đều sững sờ. Lăng mộ trong địa cung? Lẽ nào vị trí mà họ đang đứng đây chính là một tòa vương lăng Tây Hạ? Đường Phong nhanh chóng gạt bỏ suy nghĩ này, vương lăng Tây Hạ đều nằm trong núi Hạ Lan thì sao có thể xuất hiện ở đây được?

“Vậy chúng ta mau tới hậu điện xem sao!”, Makarov chỉ vào cửa hang trước mặt thúc giục.

Hậu điện? Cửa hang trước mặt lẽ nào là lối đi thông tới hậu điện? Trong hậu điện sẽ có gì đây? Hàng loạt những câu hỏi không ngừng hiện lên trong đầu Đường Phong. Anh nhảy xuống Phật đài, anh đã vô cảm với những cửa hang tối đen sâu hun hút, nên hiện giờ chỉ muốn nhanh chóng thoát khỏi bóng tối. Chui vào trong này sẽ có thể chui vào một thế giới xán lạn, hay vẫn lại là bóng tối thăm thẳm đây?

5

Đường Phong và Makarov không chút do dự đã chui vào cửa hang dần tới hậu điện. Hai người đi được hơn năm chục bước trong lối đi, nhưng vẫn chưa trông thấy điểm kết thúc. Đường Phong trong lòng không khỏi nghi ngờ:

"Theo lý thì lối đi nối giữa trung điện và hậu điện không thể dài như vậy được chứ nhỉ?”

“Đúng vậy, lối đi từ tiền điện tới trung điện cũng không dài như vậy!”, Makarov cũng cảm thấy kì lạ.

“Lão Mã, bác có phát hiện thấy không, lối đi này không rộng bằng lối đi phía trước, nhưng rất quy củ, rõ l àng là có bàn tay con người mài giũa.”

“Đúng là có chút kĩ lạ. Nếu theo như dự đoán của chúng ta thì hậu điện quan trọng hơn, vậy thì lối đi vào hậu điện đáng lẽ phải rộng hơn, cổng của hậu điện cũng phải quý hơn, cao cấp hơn, không biết chừng lại là một cánh cổng bằng vàng ròng cũng nên..

“Cổng bằng vàng ròng?”, Đường Phong ngây người ra rồi lập tức cười, nói: “Lão Mã, bác giỏi tưởng tượng thật đấy, bác có biết để đúc được một cánh cổng bằng vàng ròng thì phải tốn mất bao nhiêu vàng không? Neu quả thật ở phía trước đang có một cánh cổng bằng vàng ròng đợi chúng ta, thì cánh cổng sơn vàng và cổng bằng đồng bọc vàng đều chỉ là phù du mà thôi, sơn vàng và bọc vàng tuy cũng đều dùng vàng, nhung so với vàng ròng mà nói thì đều chỉ là lượng vàng rất nhỏ. Cháu nghĩ, nếu quả đúng Tây Hạ có thể dùng vàng ròng để đúc một cánh cổng to nhường vậy, thì cũng phải tiêu hao gần cạn kiệt lượng vàng trong quốc khố của Tây Hạ mất.”

“Tôi chỉ suy đoán theo chế độ cấp bậc của Trung Quốc thôi mà.”

“Mong rằng cháu sẽ được trông thấy cánh cổng vàng ròng mà bác suy đoán!”

Đường Phong vừa dứt lời, anh bỗng phát hiện thấy hình như lối đi đã kết thúc. Anh không dám tin vào mắt mình, nhưng đôi mắt anh không hề lừa gạt anh, ánh sáng đèn pin đã chiếu lên một vách đá do những tảng đá lớn xếp thành.

“Đây là thế nào?”, Makarov cũng đã trông thấy.

“Thảo nào lối đi này không rộng rãi như lối đi trước đó, hóa ra là một ngõ cụt!”, Đường Phong thất vọng kêu lên.

“Không thể như vậy được! Rõ ràng phía sau pho tượng Phật ban nãy còn viết rõ đó là trung điện, phía sau trung điện thì phải có hậu điện chứ nhỉ!”, Makarov cũng không thể chấp nhận sự thật này.

Trong lúc nói chuyện hai người vẫn không ngừng bước, họ đi thật nhanh tới điểm cuối lối đi, quả nhiên không còn đường. Đường Phong thất vọng đưa đèn pin lên soi xung quanh, ở đây không hề có cánh cổng bằng vàng ròng như họ hi vọng, chỉ có những viên đá giống hệt như trong tiền điện, trung điện, xếp khít vào nhau không có lấy khe hở. Rốt cuộc là thế nào đây? Đúng là không có hậu điện sao?

Không! Không the! Nếu không có hậu điện thì tại sao phải mở lối đi dài như vậy làm gì? Đường Phong không tin đây chính là điểm kết thúc của lối đi, anh dùng đèn pin lục soát từng chút một trên vách đá... Đột nhiên, anh phát hiện ra bên trái lối đi, trên vách đá xuất hiện một dấu vết hình vòng cung, xem kĩ thi trong dấu vết này có một vài tảng đá, lộn xộn. Đường Phong đếm, tổng cộng là sáu tảng, trên hai tảng đá lớn anh nhìn thấy “lỗ mũi trâu”, và trong “lỗ mũi trâu” vẫn còn hai sợi dây thừng lòng thòng chạm đất.

“Đây là cái gì vậy?”, Makarov cũng đã nhìn ra điểm khác biệt trên vách đá bên trái.

“Vấn đề là ở đây!”, Đường Phong khẽ thở dài, nói tiếp: “Ở đây vốn dĩ là một cái cổng vòm, cánh cổng này đã bị dùng đá bịt kín chặn đứng đường đi.”

“Vậy phía sau cổng vòm này là gì vậy?”

“Biết đâu chính là cánh cổng bằng vàng ròng mà bác nói!”, Đường Phong cười.

“Cậu xem trên tảng đá có chữ này, rất nhiều là đằng khác!”, Makarov chỉ vào một trong những tảng đá nói.

Đường Phong cũng trông thấy chữ trên tảng đá, anh nhận ngay ra đây là một dòng chữ Tây Hạ: “Giới Đàn Thượng Tự, Kim Thượng Tiềm Long Chi Địa, Đương Tường Gia Bảo Hộ. Kim Phụng Hoàng Đế Bệ Hạ Chỉ, Phong Bế Giới Đàn Thượng Tự Cung Điện, Sách Hủy Sạn Đạo, Vĩnh Tuyệt Ngoại Nhân Khuy Hà. Đả Đô Ngũ Niên Thập Nhị Nguyệt.”

“Những dòng chữ này nghĩa là gì?”, Makarov không hiểu.

“Cuối cùng là niên hiệu, là niên hiệu của hoàng đế Tây Hạ đời thứ hai Lượng Tộ. Từ những dòng chữ này cho thấy, Giới Đàn Thượng Tự chính là vùng đất long ẩn của Lượne Tộ. Để gìn giữ nơi đây, Lượng Tộ đã hạ lệnh đóng kín cung điện của Thượng tự đồng thời phá bỏ lối đi dẫn tới đây”, Đường Phong giải thích.

“Vùng đất long ẩn nghĩa là gì?”, Makarov nghe có chút không hiểu.

“Hoàng đế là chân long thiên tư, vậy nên trước khi chính thức đăng ngôi hoàng đế thì được gọi là ‘long ẩn’, cũng có thể dùng để chỉ tất cả những nơi đã sinh ra hoàng đế”, Đường Phong giải thích thêm.

“Hình như tôi nhớ ra rồi. Trước đây cậu đã từng kể rằng Nguyên Hạo và hoàng hậu Một Tạng đã gặp gỡ nhau tại chùa Giới Đàn, sau đó mới có Lượng Tộ.”

“Đúng vậy! Nhưng lúc đó Một Tạng Thị vẫn chưa phải là hoàng hậu, lúc đỏ bà mới chỉ là một ni cô xuất gia, bởi vậy hai người họ mới âm thầm hẹn hò trong chùa.”

“Lẽ nào chính là nơi đây, chính là chỗ mà chúng ta đang đứng?”

“Theo như đoạn ghi chép này thì ở đây chính là nơi mà Nguyên Hạo và hoàng hậu Một Tạng hò hẹn, hơn nữa còn nói rất rõ là Giới Đàn Thượng Tự vốn không phải là chỗ di chỉ mà chúng ta nhìn thấy dưới núi.”

“Ở đây đúng là u tịnh thật, nhưng nếu như sống trong hang núi này thì cũng kì quái đấy!”.

“Đúng vậy! Cháu cũng không hiểu lễ nào Nguyên Hạo và hoàng hậu Một Tạng lại hẹn hò trong hang núi này?”, một câu của Makarov khiến Đường Phong dường như tỉnh ngộ.

6

Makarov nhìn những dòng chữ Tây Hạ trên tảng đá khổng lồ, hỏi tiếp: “Điều khiến tôi vẫn không hiểu nổi là ở đây đã là nơi long ẩn của Lượng Tộ, lẽ ra cần phải gìn giữ cẩn thận, vậy thì tại sao phải bịt kín cung điện, phá bỏ đường đi làm gì nhỉ? Làm như vậy không phải là phá hoại sao?”

Đường Phong cười cười, giải thích: “Lão Mã, cái này thì bác không biết rồi. Bác đừng coi thường những dòng ghi chép này, bên trong chứa đựng rất nhiều thông tin đấy.

Nhìn bên ngoài thì chữ khắc trên vách đá là văn tự chính thống của triều đình, giống như một bức thư, nhưng nếu phân tích kĩ lưỡng thì lại rất ra trò. vẫn là cái niên hiệu này,

Đả đô ngũ niên! Nếu cháu nhớ không nhầm thì năm đó, cái năm mà Lượng Tộ hạ lệnh bịt kín cung điện trong Giới Đàn Thượng tự và phá hủy đường đi, cũng chính là năm mà Lượng Tộ giết chết cậu của mình là Một Tạng Ngoa Bàng, thoát khỏi sự khống chế của gia tộc Một Tạng, bắt đầu đích thân điều hành triều chính, và cũng chính vào năm này, gia tộc Một Tạng đã hoàn toàn thất thế.”

“ừm, giai đoạn lịch sử này đại Lạt Ma cũng từng kể qua. Gia tộc của đại Lạt Ma chính là bắt nguồn từ gia tộc Một Tạng ”

“Vậy thì tại sao khi vừa mới đích thân điều hành triều chính, mà Lượng Tộ đã vội vàng hạ lệnh bịt kín nơi này, theo như cháu suy đoán thì ở đây có bí mật gì đó mà ông ta không thế để ọi người biết. Bí mật gì đây? Nghĩ tới pho tượng Phật trong cung điện Mùa đông, tượng Phật mà Kozlov phát hiện được trong đại Phật tháp ở Hắc Thủy Thành, nếu như xương sọ trong tượng Phật đúng là của hoàng hậu Một Tạng, vậy thì điều đó đã chứng minh cho suy đoán của Tymoshenko, đó chính là cuối cùng, chính Lượng Tộ đã ép mẹ ruột của mình phải chết. Điều này cũng có thể lý giải cho ý đồ bịt kít cung điện nơi đây của Lượng Tộ, ông vừa mới đích thân điều hành triều chính, để củng cố sự thống trị của mình, muốn nhanh chóng quét sạch sự ảnh hưởng của mẹ ông và gia tộc Một Tạng đói với vương triều, nên ông đã đày ải mẹ mình tới Hắc Thủy Thành xa xôi, rồi lại lấy lý do đường đường chính chính để bịt kín Giới Đàn Thượng tự, nơi mà gia tộc Một Tạng coi là phúc địa.”

“Quả đúng là một dân tộc còn nguyên sói tính. Năm đó Nguyên Hạo cũng vì tranh giành quyền lực với gia tộc Vệ Mộ, mà đã bức chết mẹ mình là Vệ Mộ Thị, mấy chục năm sau, con trai ông - Lượng Tộ lại lặp lại hành động mà ông năm đó đã làm!”, Makarov nhận xét.

“Không chỉ có Nguyên Hạo và Lượng Tộ đâu, những việc như vậy trong lịch sử của những triều đại sau này cũng không ngừng xảy ra”, Đường Phong dừng lại một lúc rồi nói tiếp, “Bởi vậy cháu có thế suy đoán tiếp rằng, bức tượng Phật khổng lồ trên núi và cung điện ở đây rất có khả năng được xây dựng trong giai đoạn gia tộc Một Tạng khống chế triều chính.”

“Ồ? Lẽ nào không phải là lúc Nguyên Hạo còn sống sao?”

“Chùa Hắc Thứu, cũng chính là chùa Giới Đàn, đã có từ thời Nguyên Hạo, bởi vậy hoàng hậu Một Tạng mới có thể tới đây xuất gia, rồi còn hẹn hò với Nguyên Hạo tại đây mà sinh ra Lượng Tộ. Nhưng quy mô của chùa Hắc Thứu thời đó không thể to như ngày nay mà chúng ta nhìn thấy,

không thể hùng vĩ thê này. Tất cả những gì xây dựng và tu sửa ở đây, chắc đều từ sau khi Nguyên Hạo chết, lấy danh nghĩa là để tưởng nhớ Nguyên Hạo, gia tộc Một Tạng đã tu sửa và xây dựng lại với quy mô lớn hơn. Phải hiểu rằng, trước khi Một Tạng Thị lọt vào mắt Nguyên Hạo, gia tộc Một Tạng chỉ là một gia tộc nhỏ, vốn chẳng mấy hiển hách trong các danh gia vọng tộc. Quyền hành và thế lực của gia tộc Một Tạng sau này, đều là nhờ Nguyên Hạo phải lòng hoàng hậu Một Tạng, bởi vậy sau khi có được thế lực, chắc chấn gia tộc Một Tạng cho rằng nơi này chính là phúc địa của gia tộc họ, nên mới mượn cớ xây dựng một công trình hoành tráng như vậy để tưởng nhớ Nguyên Hạo, nhưng thực chất là để gia tăng sự thống trị của gia tộc Một Tạng”, Đường Phong giải thích một tràng.

“Danh nghĩa là vì Nguyên Hạo, nhưng thực chất là vì Một Tạng?”, Makarov vẫn đang nghiền ngẫm lời nói của Đường Phong.

“Như vậy cũng đã có thê hoàn toàn giải thích ệnh lệnh của Lượng Tộ sau khi đích thân điều hành triều chính. Tuy ở đây là nơi ông sinh ra, nhưng đúng hơn còn là phúc địa mà gia tộc Một Tạng phất lên, bởi vậy Lượng Tộ tuy rất hận thù gia tộc Một Tạng chuyên quyền - nên cũng không thế yêu thích nơi này, nhưng vì gia tộc Một Tạng đã lấy danh nghĩa đây là nơi tưởng nhớ Nguyên Hạo, và đã khởi công hoành tráng, xây dựng chùa Giới Đàn, nên Lượng Tộ cũng không dễ trực tiếp phá hủy nơi này, mà chỉ có thể lấy danh nghĩa là gìn giữ đế bịt kín nơi đây, để người ngoài không trông thấy được.”

“Những dòng chữ này còn nhắc tới đường đi nữa?”, Makarov nhạy cảm phát giác ra chút gì đó.

“Đúng! Nhắc tới việc phá hủy đường đi.”

“Cũng có nghĩa là bên ngoài núi đáng lẽ có một đường đi, nhưng Thượng tự ở trong ngọn núi này, ‘phá hủy đường đi, vĩnh viễn không có người ngoài trông thấy’ để làm gì vậy?”

“Đây quả thực là một vấn đề. Đường đi...”, Đường Phong ngẫm nghĩ một hồi, nhưng vẫn không hiểu đường đi này là chỉ chỗ nào.

7

Đường Phong và Makarov không hiểu “đường đi” ghi chép trên vách đá là chỉ chỗ nào. Makarov lắc đầu, nói: “Thôi nào, chúng ta hãy nghĩ chuyện trước mắt đã! Bây giờ chúng ta phải làm thế nào?”

“Bác có trông thấy hai cái lỗ mũi trâu kia không?”, Đường Phong chỉ lên tảng đá có đục hai cái lỗ.

“Trông thấy rồi, còn cả hai đoạn dây thừng nữa. Xem ra trước chúng ta cũng có người nhanh chân hơn rồi, ít nhất là họ cũng có ý đồ dọn những tảng đá này đi.”

“Không sai! Cái lồ mũi trâu đó không thể do người Đảng Hạng đục được, mà chắc chắn là sau này người ta - vì muốn vào được bên trong, nên đã đục hai cái lồ đó để luồn dây thùng vào kéo những tảng đá ra.”

Makarov nhặt hai đoạn dây lên, nhìn kỹ rồi lại kéo thử: “Giống hệt như dây thừng trên cánh cổng bằng đồng bọc vàng, xem ra là của cùng một hội.”

“Có lẽ cũng cùng hội với chủ nhân của hai đồng tiền trong trung điện”, Đường Phong sờ sờ lên tảng đá trước mặt rồi nói tiếp: “Hơn nữa bác có đế ý thấy không, trật tự xắp đặt của sáu tảng đá này đã bị người ta tráo đổi rồi.”

“Ồ! Nói như vậy thì đám người đó đã di chuyển được những tảng đá này, tiến vào bên trong. Vậy tại sao họ lại phải bịt kín lại làm gì nhỉ?”

“Có lẽ bên trong cũng cất giấu bí mật của đám người đó..ể”

“Bí mật của đám người đó?”, Makarov không hiểu.

“Nhưng họ cũng đã giúp chúng ta được thuận tiện hơn, vì không có hai cái mũi trâu này thì trong lúc này chúng ta cũng không thể vào bên trong được đâu.”

“Ý cậu là chúng la cũng kéo những tảng đá khổng lồ này ra?”

“Thử xem sao!”, nói xong, Đường Phong liền nắm sợi dây thừng bộc vào lỗ mũi trâu chính giữa tảng đá, dốc sức lôi kéo, tảng đá bỗng nhúc nhích được một chút, “Có cửa rồi, tảng đá này không nặng như cháu tưởng.”

“Hai chúng ta cùng kéo thì sẽ có thể lôi được nó ra!”, Makarov xắn tay áo định tiến đến.

“Lão Mã, sức khỏe của bác có ổn không? Nếu không ổn thì để cháu gọi Hàn Giang vào!”, Đường Phong có chút lo lắng cho xương cốt của lão Mã.

“Đừng coi thường, tảng đá này hai chúng ta kéo ra được đấy!”, Makarov không chịu khuất phục.

Đường Phong đành phải đưa một đoạn dây thừng cho lão Mã. Đường Phong phía trước, lão Mã phía sau, hai người cùng nhau dốc sức, tảng đá nhích ra ngoài một chút. Nghỉ ngơi chốc lát, lại kéo tiếp, tảng đá khổng lồ lại được kéo ra ngoài thêm một đoạn, vài lần như vậy, rốt cuộc tảng đá đã được kéo ra ngoài hơn một mét.

Sắp xong rồi, Đường Phong muốn cùng Makarov dồn sức, “ầm...” một tiếng, cùng với bụi bay mù mịt, tảng đá đã hoàn toàn được kéo ra.

Đường Phong cảm giác mũi mình ngửi thấy mùi đất tanh, xung quanh toàn là bụi. May mà Makarov phản xạ nhanh, vội vàng kéo Đường Phong lui lại phía lối đi.

Lui tới đoạn rộng rãi trong lối đi, hai người hít một hơi lớn, đợi cho bụi bặm trong lối đi tản bớt, cả hai mới quay lại phía cuối đoạn đường. Sáu tảng đá thiếu mất một tảng, lộ ra một cửa hang vừa đủ ột người bò qua. Đường Phong lấy đèn pin soi vào bên trong, một cảm giác ớn lạnh tức tốc trào lên, khiến anh bất giác rùng mình, lùi lại phía sau.

Đường Phong và Makarov bàn bạc, rồi kéo tiếp một tảng đá cũng có một lỗ mũi trâu, để mở rộng thêm miệng hang chút nữa mới tiến vào bên trong. Vậy là, hai người dùng cách cũ, kéo tiếp tảng đá thứ hai ra. Lần này, Đường Phong có kinh nghiệm rồi nên cũng ăn ít bụi hơn.

Hai tảng đá khổng lồ được kéo ra, một cửa hang đủ ột người đi qua xuất hiện trước mặt họ. Từng cơn gió lạnh buốt từ trong động xộc ra. “Xem ra không gian phía trong rất rộng!”, Đường Phong suy đoán.

“Kết cấu giống hệt như lối đi này!”, Makarov dùng đèn pin soi vào trong hang.

Đường Phong chầm chậm bước vào thế giới trong cổng vòm, Makarov cũng theo sau. Đường Phong phát hiện lối đi trong này thẳng tap, tạo thành góc 90 độ với lối và đi bên ngoài. Anh lại phán đoán phương hướng, và quả quyết đây là một lối đi hướng về phía tây.
 

hoahongden12

Active Member

Dưới làn nước không được trong lắm, thấp thoáng hiện Lên những mẩu xương trắng rời rạc. Khi chưa rõ đây Là xương người hay xương động vật, thì anh đã chỉ còn thấy hoa mắt chóng mặt, rồi bỗng có cảm giác trời đất quay cuồng. Makairov linh cảm không lành, người anh bất giác đổ về phía sau.

1

Lối đi hướng về phía tây vẫn kéo dài. “Đợi đã, "Đường Phong!”, phía sau vang lên giọng của Makarov, “Theo truyền thống kiến trúc Trung Quốc thì tiền điện, trung điện, hậu điện phai cùng trên một tuyến đường, nhưng lối đi này lại trải dài về hướng tây, như vậy có bình thường không?”

“Không bình thường, lối đi này cũng không bình thường!”, Đường Phong nói.

“Đúng vậy! Ở giữa trung điện và hậu điện sao lại có lối đi dài vậy nhỉ!”, Makarov lắc đầu nói.

Trong lúc hai người nói chuyện, Đường Phong không đổ ý dưới chân mình gồ ghề khúc khuỷu, nên xém chút nữa là lộn nhào, Makarov cũng giật mình. Hai người đứng vững lại, Đường Phong vội vàng lấy đèn pin soi, dưới đất xuất hiện một tảng đá nhô lên; lần theo tảng đá này, anh di chuyển ánh sáng đèn pin tới hai bên vách đá, tại hai vị trí giống nhau trên vách đá hai bên, xuất hiện một cái máng lõm vào trong.

“Hóa ra trước kia ở đây có cánh cửa!”, Đường Phong suy đoán.

“Cửa? Sao bây giờ chẳng có gì cả vậy?”

“Bậu cửa trên nền đất vẫn còn, có thể nó đã bị những người tới đây trước đó dỡ đi rồi!”, Đường Phong ngẫm nghĩ, nói tiếp: “Mặc kệ cánh cửa đó đi đâu mất, nó xuất hiện ở đây là đã cho thấy hậu điện cách đây không xa nữa đâu.”

“Đúng vậy! Nếu không thì cũng không nhất thiết phải làm một cái cửa ở đây.”

Hai người bước qua bậu cửa, Đường Phong cảm giác tim mình lại bắt đầu đập thình thịch. Phía sau cánh cửa biến mất này có phải là hậu điện không? Ở đó có kệ tranh ngọc không? Anh bất giác bước nhanh hơn. Sau hơn hai chục bựớc chân, Đường Phong cảm giác mình đã tới một nơi rộng rãi, nhưng lấy đèn pin soi thì phía trước lại xuất hiện một bức tường.

Đường Phong nhìn trái ngó phải, rồi lại ngẳng đầu lên nhìn, anh bỗng hiểu ra, trước mặt mình chắc là một “bức vách ngăn”. Makarov cũng đang ngạc nhiên, nhưng

Đường Phong không giải thích mà dẫn ông vòng qua “bức vách ngăn”. Phía sau “bức vách ngăn” rộng thênh thang, Đường Phong chỉ dựa vào ánh đèn pin yểu ớt mà đã cảm thấy đây là một không gian rộng lớn.

Đường Phong và Makarov lần lượt thắp nến lên cái máng trên vách đá, thạch điện khổng lồ rốt cuộc cũng hiện rõ diện mạo trước mắt hai neười. Lúc này, Đường Phong mới phát hiện ra cái gọi là “bức vách ngăn” vốn không phải là bức tường nào cả, mà là lưng của một bức tượng Phật cao lớn. Nhìn lại toàn bộ hậu điện, ở chính giữa ba mặt còn lại đều có một bức tượng Phật cao lớn.

Cả hậu điện hình vuông, mỗi bên đều có bậc dẫn xuống dưới, từng bậc một thu hẹp lại, cuối cùng tại vị trí chính giữa hậu điện là một đầm nước hình vuông, đầm nước chết lấp lánh ánh xanh. Đường Phong không tài nào phán đoán được đó là đầm nước hay lại là một đầm thủy ngân.

“Thật... thật hùng vĩ quá!”, Makarov ngạc nhiên tới nỗi mắt và miệng đều mở to hết cỡ.

“Đúng vậy! Quả nhiên hậu điện to hơn hẳn hai điện trước đó.”

Đường Phong tức tốc đoán định vị trí mà họ đang

đứng là cạnh phía đông của bức tượng Phật; do phía sau tượng Phật là một lối đi, vậy thì ba hướng phía sau tượng Phật cũng có phải là lối đi không nhỉ? Đường Phong ngẫm nghĩ mà chân đã bước tới bức tượng ở hướng nam.

Makarov theo sau, hiểu ngay ra ý của Đường Phong: “Nếu như phía sau mỗi bức tượng đều có một lối đi, vậy... vậy thì... tôi điên mất rồi đấy!”

“Cháu cũng sắp điên đây!”, Đường Phong vòng ngay ra sau bức tượng phía nam, tỉ mỉ quan sát, mỗi một tảng đá to đều khít vào nhau, vô cùng kiên cố, “Xem ra ở đây chẳng có lối đi nào cả.”

Đường Phong lại nhanh chóng vòng ra phía sau bức tượng Phật phía tây, vách đá ở đây cũng khít vào nhau như vậy, sừng sững đồ sộ, phía sau bức tượng phía bắc cũng chẳng phát hiện ra điều gì dị thường. Đường Phong không khỏi nghi ngờ: “Cái này thì gọi gì là cống, một hậu điện hoành tráng như thế này thì đáng ra phải có một cánh cổng hùng vĩ mới xứng tầm chứ nhỉ! Sao chắng có cánh cổng nào cả? Chúng ta đã từ phía sau tượng Phật tiến thẳng vào đây.”

“Đúng vậy! Tôi còn tưởng rằng sẽ có một cánh cống bằng vàng cơ!”, Makarov không khỏi tiếc rẻ.

Đường Phong thắp nến lên cả bốn góc đại điện, toàn bộ hậu điện đã sáng bừng lên. Anh phát hiện ra trên đỉnh đầu chính giữa đại điện có chạm khắc một đóa hoa sen khổng lồ, ở chính giữa đóa hoa hiện lên bốn chữ to, nét rắn rỏi, vẫn là chữ Tây Hạ. Đường Phong ngẩng đầu nhìn lên vòm động, từ từ đọc lên bốn chữ này: “Quang - Minh - Đại - Điện”.

2

Toàn bộ Quang Minh thần điện đã được nến soi sáng, tuy ánh sáng vàng đục nhưng cũng đủ để Đường Phong nhìn rõ mọi vật trong đại điện. Lúc này anh mới phát hiện ra, xung quanh bốn pho tượng Phật có rất nhiều tượng Phật bị đổ nghiêng ngả, còn có rất nhiều tượng Phật bị hư hỏng. “Thế này là thế nào?”, Đường Phong cúi xuống, nhặt một mảnh tượng Phật bị nứt vỡ lên.

“Xem ra ở đây đã từng bị phá hoại!”, Makarov suy đoán.

“Ai đã phá hủy những tượng Phật đẹp đẽ này? Nghĩ mà xem, hóa ra những bức tượng này đều được dựng xung quanh bốn bức tượng Phật lớn, hùng vĩ làm sao! Linh Sơn ở Tây Thiên cũng chỉ đến vậy mà thôi!”, Đường Phong thán phục.

“Chắc chắn là người có thù hằn sâu sắc với chủ nhân ở đây.”

“Lẽ nào là Lượng Tộ?”, Đường Phong lẩm bẩm.

Trong tức khắc, Đường Phong phát hiện ra trong đống tượng Phật đổ nát phía dưới bức tượng phía tây, có một tấm bia đứng sừng sững, rất dễ nhìn. Anh bước tới, vuốt bụi trên đó đi, rồi từ tò đọc những chữ Tây Hạ khắc trên bia đá: “Một Tạng Thị chuyên quyền, lật đổ triều thần, độc đoán chuyên hành, trong mắt không có quân phụ, tram vô cùng thù hận; phụ mẫu trẫm dâm loạn bất pháp, bao che cho những người trong sắc tộc, trẫm vô cùng thù hận. Nay trẫm may mắn được ông trời phù hộ, đoạt được triều chính, ra tay trừ gian diệt ác, gây dựng lại triều cương. Không vì việc tư mà bỏ qua công luận, không vì hiếu từ mà lãng quên luật pháp... đóng cửa hậu điện, phá bỏ lối đi, vĩnh viễn chôn vùi Một Tạng Thị và những gian nhân.”

Có mấy chữ trong đó quả thực Đường Phong không nhìn rõ, nhưng chỉ những dòng này thôi mà đã khiến anh giật thót tim, một đoạn mật sử của vương triều Tây Hạ đã phơi bày trước mắt anh. “Xem ra những gì chúng ta suy đoán đều đúng cả, Lượng Tộ quả nhiên vì hận thù gia tộc Một Tạng chuyên quyền nên mới đóng cửa thạch điện, phá hủy đường đi. Khỏi cần phải hỏi, phá hủy những tượng Phật này cũng chính là Lượng Tộ!”, Đường Phong nói.

“Nhưng tại sao bốn pho tượng Phật này lại không bị hủy hoại nhỉ?”, Makarov hỏi.

“Có thể là do chúng quá to nên không hủy hoại ngay được!”, Đường Phong đoán mò.

Đường -Phong đã hết hứng thú với những bức tượng to lớn này, bởi anh chợt phát hiện ra hình như đầm nước chính giữa hậu điện phát ra chút ánh sáng quái dị.

Makarov cũng đã trông thấy sự biến hóa trong đầm nước. Hai người bước xuống năm sáu bậc thang, tới lúc chỉ còn cách mặt nước bốn bậc, Đường Phong ngạc nhiên tới nồi ngớ người ra. Anh dừng lại, quay đầu nhìn Makarov. Makarov cũng há hốc mồm kinh ngạc, nhìn Đường Phong.

“Đây... đây chính là… chính là kho báu của Hạo vương sao?”, Đường Phong lẩm bẩm.

“Tôi nghĩ là vậy, đây chính là kho báu của Hạo vương!”, Makarobv cũng không ngừng lẩm bẩm.

Mặt nước chết trong đầm nước hình vuông lấp loáng sắc xanh, nhưng chốc chốc lại lóe lên sắc vàng khiến Đường Phong và Makarov bất giác không thể mở được mắt ra.

Đường Phong che mắt, cẩn thận rón rén bước tiếp ba bậc thang xuống dưới, tới cạnh mép đầm. Anh thực sự bị chấn động bởi cảnh tượng trước mắt, trong đầm là những thỏi vàng, thỏi bạc, tiền xu chất như núi cùng những báu vật kì lạ và quý báu đủ hình đủ dạng. Đường Phong không tài nào khống chế được sự hưng phấn trong lòng, anh đưa tay về phía mặt nước chết đó...

3

“Cẩn thận! Đường Phong!”, Makarov bỗng hét lên.

Đường Phong lúc này mới tỉnh lại, vội vàng rút tay về, kích động tới nỗi lắp ba lắp bắp, nói không thành câu: “Đây... quả là..hóa... hóa ra là một đầm châu báu.”

“Đường Phong, tỉnh táo chút đi. Nếu như ở đây là kho báu của Hạo Vương, thì tại sao đám người tới đây trước chúng ta không lấy đi?”, Makarov vẫn giữ được tỉnh táo đúng như tố chất mà ông từng được huấn luyện.

“Đúng vậy!”, Đường Phong nghe Makarov nói vậy liền tỉnh ngay ra, “Lão Mã, may mà có bác cảnh tỉnh. Từ di tích ban nãy cho thấy, đám người đó đã từng tới Quang Minh thần điện rồi, nhưng lại không lấy những báu vật này đi. Vậy có khi nào trong... trong đầm này là thủy ngân không? Bởi vậy mà những người đó mới không lấy những báu vật này?”, Đường Phong bồng nghĩ tới thủy ngân.

Makarov ngồi xuống, cúi sát mặt nước, cẩn thận quan sát, cuối cùng lắc lắc đầu, nói: “Không giống thủy ngân, đây là một đầm nước chết.”

“Vậy phải giải thích thế nào về đám người tới đây trước chúng ta?”, Đường Phong thấy đầu óc mình rối tung cả lên.

“Điều này...”, Makarov cũng khône thể trả lời câu hỏi này.

Đường Phong lấy hết can đảm, nhoài ra áp người sát đầm nước. Nhìn lớp rong rêu dày cộm bên cạnh đầm mà anh hoa mắt chóng mặt, chỉ muốn nhìn thấu lớp sương mù, chọc thủng xuống tận đáy đầm mà thôi. Nhưng anh không trông thấy đáy đầm, bởi vì trong đó chất đầy châu báu và nước thì xanh lét, đục ngầu.

“Tôi sợ nhất là có một con quái vật từ trong đầm nhảy lên nuốt chửng chúng ta!”, Makarov nói vậy khiến Đường Phong giật bắn mình.

Đường Phong quay lại nhìn, Makarov cũng đang nhoài người ra mặt nước, quan sát động tĩnh trong đầm.

“Lão Mã, sao bác lại nói vậy?”, Đường Phong không hiểu hỏi Makarov.

Makarov bò dậy, tựa vào bậc thang cạnh đầm nước, chậm rãi nói: “Bởi vì tôi đã từng gặp một cái đầm nước ăn thịt người.”

“Ồ! Một cái đầm nước ăn thịt người?”, Đường Phong không hiểu nhìn Makarov.

“Đúng! Một cái đầm nước ăn thịt naười hoặc có thể gọi là hố nước!”, Makarov khẳng định.

“Hố nước ăn thịt người? Trên đời này đúng là có chuyện như vậy sao? Lại là kinh nghiệm của bác trong KGB phải không?”

“ừm, tất cả những gì ly kì quái gở mà tôi gặp phải đều được KGB ban tặng cả!”

“Lão Mã, những gì bác trải qua tại KGB ly kì thật đấy! Bác có thể viết được cả cuốn sách ấy chứ!”

“Tôi cũng từng nghĩ đến điều đó, nhưng rất nhiều việc trải qua đều thuộc về những vụ án chưa được hóa giải. Giống như cái hố nước mà tôi gặp phải tại căn cứ Tiền Tiến trước đây vậy!”, giọng Makarov rất bình thản.

“Lại là căn cứ Tiền Tiến?!”, Đường Phong ngạc nhiên, “Những chuyện ở căn cứ không phải bác đã kể hết rồi sao? Sao lại vẫn còn chuyện ly kì vậy?”

“Những chuyện ly kì gặp phải trong căn cứ Tiền Tiến thì quá nhiều rồi, so với những gì ly kì gặp phải trong đội thám hiểm lần đó thì còn kéo dài và nhiều hơn nữa! Đó là chuyện xảy ra sau khi Branch đưa tôi tới Khe Sói hoang, khi đó căn cứ Tiền Tiến thiếu nước...”, Makarov vừa nói vừa hồi tưởng lại đoạn kí ức trong khu căn cứ Tiền Tiến.

4

Từ khe Sói hoang trở về chưa được bao lâu, Makarov, lại gặp phải một chuyện ghê rợn. Muốn sinh tồn được trên tại sa mạc Gô-bi thì quan trọng nhất là nguồn nước, và đây cũng là vấn đề lớn của căn cứ Tiền Tiến.

Branch bước vào phòng Makarov, hiếm khi anh càu nhàu như vậy: “Nguồn nước của chúng ta sắp không ổn rồi!”

“Thế nào gọi là sắp không ổn?”, Makarov không hiểu

ý Branch.

“Sắp không ổn tức là sắp hết nước rồi! Lẽ nào anh không phát hiện ra chất lượng nước mấy hôm nay chúng ta uống kém hẳn, tuy đã được khử độc nhưng nước vẫn đục ngầu, bên trong còn có cả cặn.”

“Tôi cũng phát hiện thấy nhưng trước đây cũng từng gặp phải chuyện này rồi mà, cũng đâu đến nỗi mất nước đâu!”, Makarov bán tín bán nghi.

“Trước khi chúng ta đến, nước dùng ở đây đều lấy từ giếng bên ngoài căn cứ. Mấy năm nay, căn cứ tăng thêm bao nhiêu người như vậy, nhưng cũng không phát hiện thêm được nguồn nước nào mới, cái giếng đó quá tải từ lâu rồi. Ban nãy tôi đã đi kiểm tra rồi, cái giếng đó chắc chắn không trụ được bao lâu nữa đâu, nếu không tìm thấy nguồn nước mới thì chúng ta sẽ mất nước thật đấy!”

“Nghiêm trọng vậy ư? Vậy cái giếng đó còn trụ được bao lâu nữa?”, Makarov có chút bất ngờ.

“Nhiều nhất là một tháng!”, Branch nói xong nhìn Makarov hồi lâu rồi nói tiếp: “Tôi đã kiến nghị với anh trước đó rất lâu rồi, phải khẩn trương đào một cái giếng khác, nhưng anh lúc nào cũng nói rằng kinh phí của căn cứ hẹn hẹp, nếu đủ dùng thì không đào cái mới nữa. Giờ thì hay rồi, cháy đến đít rồi đấy!”

Makarov cũng không nói được gì, trong lòng bắt đầu ân hận vì đã không nghe lời Branch ngay từ đầu: “Vậy ngay sau đây chúng ta phải làm thế nào?”

“Bây giờ phải đào giếng đã, nhưng e rằng thời gian một tháng cũng không kịp đâu. Điều kiện địa chất ở đây không phải là anh không biết, vô cùng khô hạn, không phải cứ đào sâu là sẽ có nước đâu.”

“Tôi hiểu cấu tạo địa chất ở đây rất phức tạp, không phải chỗ nào cũng đào được nước, bởi vậy nếu trong vòng một tháng mà không đào được nước thì chúng ta phải làm thế nào?”, Makarov đã có chút cuống lên.

“Đúng vậy, trong căn cứ thì bao nhiêu người, nếu không có nước thỉ chúng ta cũng không tài nào trụ được ở đây đâu!”, Branch nói tới đây, ngẫm nghĩ một lát rồi lại nói: “Nhưng cũng không phải là hết cách, trước khi đào giếng chúng ta có thể yêu cầu hậu phương tiếp nước cho chúng ta bằng trực thăng, nhưng...”

“Nhưng sao?”

“Nhưng như vậy sẽ tốn rất nhiều tiền. Tôi tính sơ qua, lượng nước mà căn cứ chúng ta dùng trong một ngày ít nhất cũng phải cần tới hai chiếc trực thăng Mi-8 chở tới. Nếu hai tháng mới đào thấy nước thì tổng cộng phải cần tới 120 chuyến máy bay chở nước tới. Anh tính mà xem, chỉ riêng tiền dầu áy bay đã là bao nhiêu rồi? Nước được chở đến như vậy cũng đắt lắm!”. Branch tính toán ra cho Makarov một con số đáng để ngạc nhiên.

Makarov lặng lẽ không nói năng gì. Branch lại nói tiếp: “Đày vẫn là cách tính lạc quan nhất đấy, nếu như trong hai tháng mà không đào được nước, nếu như trên đường chuyển nước tới gặp phải sự cố nào đó, thì tiền để đưa nước tới sẽ không thể tính nổi đâu.”

Branch nói vậy khiến Makarov giật thót tim. Trong lòng Makarov cũng rất rõ, nếu như sự việc đúng như những gì Branch nói thì mình cũng sắp bị cách chức đến nơi.

“Vậy không còn cách nào khác sao?”, Makarov ty giọng khẩn khoản.

Branch nhún vai: “Rất tiếc, tôi thực sự không nghĩ ra còn cách nào tốt hơn.”

Tuy Branch ngoài miệng nói hết cách nhưng trong lòng Makarov biết thừa Branch chắc chắn vẫn còn cách, anh ta chỉ cần mình khẩn cầu anh ấy, giống như một sự báo thù nho nhỏ cho sự việc A711209 lần trước hoặc coi như hòa nhau.

“Tôi nghĩ chắc chắn anh sẽ có cách!”, Makarov khẩn cầu.

Branch nhìn lên trần nhà, ngẫm nghĩ, nói: “Cách hả?

Cũng không phải là không có, nhưng cũng chỉ là xem có gặp vận may hay không thôi”.

“Xem vận may...”, Makarov hiểu ý của Branch,

“Cách của anh là ra ngoài tìm nguồn nước?”

“Chúng ta có thể một mặt để hậu phương phái người tới đào giếng, một mặt tìm kiếm nguồn nước tạm thời gần căn cứ.”

“Sau khi chúng ta tới đây cũng đã từng tìm kiếm nguồn nước quanh đây, nhưng đến chút bọt nước cũng chẳng thấy!”, Makarov bày tỏ sự thất vọng trước biện pháp của Branch.

“Trước đây chúng ta từng tìm kiếm nguồn nước xung quanh căn cứ, nhưng đều chưa vượt quá phạm vi mười ki lô mét, và còn rất nhiều nơi chưa đi. Lần này, chúng ta phải mở rộng phạm vi khảo sát, lấy căn cứ làm trọng tâm, những khu vực trong đường kính năm chục ki lô mét đều phải tìm.”

“Trong đường kính năm chục ki lô mét? Xa như vậy nếu có tìm thấy nguồn nước thì cùng phải cần tới xe để chỏ" về căn cứ, giá tiền để sử dụng cũng vẫn quá cao!”, Makarov không tin tưởng biện pháp của Branch.

“Đây không phải chỉ là tạm thời thôi sao! Đợi giếng đào được rồi thì chúng ta cũng không cần nữa, hơn nữa không biết chìmg chúng ta cũng không cần phải đi xa như vậy, mà vẫn có thể phát hiện thấy nguồn nước thì sao?

Makarov nghĩ cả đêm, cuối cùng quả thật là chẳng còn cách nào khác, đành phải dùng cách của Branch. Một mặt anh nhờ hậu phương cử người tới đào giếng tìm nguồn nước gần khu căn cứ, một mặt cử nhân viên trong căn cứ đi tìm nguồn nước trong phạm vi ba mươi ki lô mét xung quanh căn cứ.

5

Ba mươi cây số là do Makarov quy định, nhưng quả

nhiên đúng như những gì Branch nói, trong có một tuần, tất cả những nhân viên đi tìm kiếm nguồn nước đều trở về báo cáo rằng không phát hiện thấy nguồn nước nào.

“Sao rồi tôi đã nói với anh rồi mà trong phạm vi ba chục cây số gần căn cứ anh đừng mong tìm được nguồn nước!” Giọng Branch có chút phấn lkh[ỉ trong nỗi bất hạnh của người khác.

Được rồi, đồng chí Branch, chúng ta đừng chọc tữa, quanh đây anh thông thạo hơn tôi, rốt cuộc có nguồn nước không?”, Makarov có chút lo lắng.

“Nói thật với anh nhé, trong vòng ba chục cây số cỏ một nơi có nguồn nước...”, Branch không thay đối giọng điệu.

“Sao anh không nói sớm!”, Makarov có chút tức giận.

“Bởi vì nguồn nước này rất khó sử dụng”, Branch đủng đỉnh nói.

“Thế nào gọi là rất khó sử dụng?”, Makarov chất vấn.

“Bởi vì nguồn nước đó gần khe Sói hoang.”

“Khe Sói hoang?!”, Makarov lập tức im bặt.

“Hoặc có thể nói rằng nguồn nước đó chính tại khe Sói hoang!”, Branch lại bổ sung thêm.

Mãi lâu sau, Makarov giống như hạ quyết tâm rất lớn vậy, nghiêm giọng nói: “Bất luận ở đâu, cứ đi xem thế nào đã.”

Makarov cố ý muốn đi, vậy là Branch lại phải lái xe đưa anh tới gần khe Sói hoang. Nhưng lần này Branch không đưa anh tới hang núi màu đỏ chất đầy xương trắng lần trước nữa mà lại đưa anh tới một khe núi kĩ lạ.

Makarov phát hiện ra khe núi này rất rộng, cơ bản không hề giống một khe núi, dãy núi hai bên rất thấp nhưng lại không trông thấy rặng núi phía sau. Xe tiến vào chưa được bao lâu thì Makarov phát hiện ra trong đất cát mềm nhũn xuất hiện một chút màu xanh, xe càng đi vào trong thì màu xanh xuất hiện càng nhiều.

“Đây là đâu? Hình như không giống khe Sói hoang lần trước chúng ta tới?”, Makarov lớn tiếng hỏi Branch.

Branch không vội trả lời câu hỏi của Makarov mà lái xe tới một bãi cỏ xanh rộng rãi trước, đỗ xe lại rồi mới trả lời câu hỏi của Makarov: “Tôi nghe ông lão du mục kể lại rằng, gọi là khe Sói hoang thực ra không phải nhằm chỉ một hang động cụ thế nào cả mà để chỉ hàng loạt những hang động lớn nhỏ ẩn chứa trong rặng núi màu đỏ này”.

“Ra là như vậy! Thảo nào lần trước anh nói rằng đại quân của Thành Cát Tư Hãn đã từ đây tập kích Tây Hạ, nếu như là cái hang động bé tẹo lần trước thì làm sao mà chứa được đại quân của Thành Cát Tư Hãn cơ chứ? Một hang động hoang vu đáng sợ như vậy, thì sao có người và gia súc đi qua đó được chứ?”, Makarov nói.

“Không! Anh sai rồi, ông lão du mục đó kể rằng, đại quân của Thành Cát Tư Hãn đã đi qua cái hang động dài hẹp mà anh trông thấy đấy. Hơn nữa, anh đừng tưởng rằng cái hang mà hôm nay chúng ta đến trông phong cảnh không đến nỗi, còn có cả thực vật xanh rì, thì cho rằng ở đây không nguy hiểm. Ông lão đó từng nói với tôi rằng hang động nào quanh đây cũng nguy hiểm cả!”, Branch cảnh cáo Makarov.

“Hang động nào cũng nguy hiểm ư?”, Makarov có chút giật mình.

“Đúng! Hang động nào cũng nguy hiểm, bởi vậy tôi mới không nhắc tới nguồn nước ở đây với anh. Anh phải biết rằng, nếu một người trong sa mạc mênh mông bồng đột nhiên trông thấy nguồn nước, thì đừng có vui mừng vội, mà trước tiên phải tìm hiểu cho rõ tại sao giữa sa mạc mênh mông, những nơi khác không có nguồn nước mà ở đây lại có?”

“Giống như ở đây?”

“Đúng! Mấy hang động ở đây tôi cũng đã từng tới, trong những hang động khác không có chút màu xanh nào cả, chỉ duy nhất ở đây có một vùng thực vật rộng như vậy, điều này rất không bình thường.”

“Vì vậy anh nghi ngờ nước ở đây không dùng được?! Bất luận thế nào cũng cần phải tin vào khoa học. Chúng ta có thể đem chút nước mẫu về mời chuyên gia xét nghiệm!”, Makarov nhìn màu xanh khắp nơi, hình như anh rất tự tin rằng đã tìm thấy nguồn nước ở đây.

“Được rồi! Anh hãy để khoa học của anh xét nghiệm đi! Chúng ta đi thôi!”, Branch nhảy xuống xe.

Makarov cũng nhảy xuống xe, anh phát hiện thảm, thực vật dưới chân ngoài cỏ lau, nhục thung dung, cây lang độc ra thì vẫn còn một loài thực vật màu xanh mà anh không biết tên. Loài thực vật này không cao, nhưng sức sống rất ngoan cường, bám chặt lấy mặt đất, phủ kín cả khe núi.

Makarov cũng theo Branch tiến lên phía trước, chân giầm lên thảm thực vật màu xanh không biết tên này. Makarov cảm giác địa hình dưới chân mình hình như cao lên, chẳng bao lâu sau họ đã vượt qua một cồn cát nhỏ. Dưới cồn cát, trong đám lau sậy che phủ, một hố nước hiện lên trước mặt Makarov.

6

Makarov hào hứng lao tới trước hố nước, vạch đám lau sậy ra, cúi người xuống, đang định dùng tay múc nước trong hố lên thì Branch phía sau lièn hét to: “Cẩn thận!”

Makarov cũng vội vàng rụt ngay tay lại, quay lại nhìn Branch. Toàn thân Branch quay lưng về phía ánh mặt trời, chìm đắm trong bóng râm. “Anh nhìn bên cạnh anh xem!”, giọng Branch khiến Makarov cảm thấy ớn lạnh.

Makarov cũng vội vàng nhìn sang bên cạnh, anh phát hiện ra trong đám lau sậy bên cạnh mình là một đống xương trắng lồ lộ. “Đây...”, Makarov nhận ra đây là một bộ xương bò. ngay sau đó, anh lại phát hiện ra còn nhiều xương trắng hơn nữa trong đống lau sậy bên cạnh, đó là xương bò,

Xương dê, còn có cả xương của loài động vật có vú to lớn mà anh không biết tên, dĩ nhiên càng khiến Makarov cảm thấy hoảng loạn hơn chính là hai bộ xương người.

“Sao ở đây lại có nhiều xương cốt vậy?”, giọng Makarov đầy sợ hãi.

“Bởi vậy tôi mới bảo anh cẩn thận!”

“Lẽ nào trong nước có độc? Những người và gia súc này sau khi uống nước đã vĩnh viễn ngã ra đây?”

“Có độc hay không thì tôi không biết nhưng đây rõ ràng là một hố nước ăn thịt người! Anh xem trong hang núi này chúng ta không phát hiện thấy xương cốt nào mà tất cả xương đều xuất hiện bên cạnh hố nước, có khi trong hố nước cũng có xương cũng nên; việc này nói lên điều gì?”, Branch suy đoán.

Makarov vươn người ra mặt nước nhìn ngó, quả nhiên, dưới làn nước không được trong lắm thấp thoáng hiện lên những mẩu xương trắng rời rạc. Khi chưa rõ đây là xương người hay xương động vật, thì anh đã cảm thấy hoa mắt chóng mặt, rồi bỗng có cảm giác trời đất quay cuồng. Makarov linh cảm không lành, người anh bất giác đổ về phía sau. Đúng trong giây phút anh mất thăng bằng thì một cánh tay vạm vỡ đã đỡ lấy anh. Makarov nằm trên bờ, thở hổn hển, lúc này anh mới trông thấy người ban nãy đỡ mình chính là Branch.

“Cái hố... hố nước này nguy hiểm thật!”, Makarov thở hổn hển nói.

“Tôi không gạt anh phải không, nếu không phải nước ở đây có vấn đề thì là cái hố nước này có vấn đề, không biết chừng trong đó còn có con quái vật nào cũng nên!”

“Quái vật?”, Makarov nhìn mặt nước không rộng lắm trong lúc Branch cười nói.

Branch thấy Makarov không tin liền giải thích: “Ông lão du mục đó còn kể với tôi rằng: trong hố nước này có một con quái vật rất hung ác, chuyên ăn thịt những người qua lại đây. Nhưng con quái vật này không nhoài lên tấn công người và động vật, mà nó chỉ ăn những người và động vật không chịu được khát đã đến đây uống nước mà thôi.”

“Anh đừng dọa tôi nữa, một cái hố nước nhỏ như vậy làm sao mà quái vật sống được?”

“Tôi không biết, những chuyện đó đều là do ông lão du mục kể cho tôi nghe. Ban đầu tôi cũng không tin, nhưng ông lão đó nói: tuy hố nước này không rộng nhưng rất sâu, sâu không thấy đáy, thông với một cái hồ lớn cách đây rất xa”, Branch nói rất thật, khiến Makarov không thể không tin.

Makarov đứng dậy, anh nhìn mặt nước tĩnh lặng, ước lượng một lúc, cái hố nước này ít nhất cũng giúp căn cứ đủ dùng trong hai tháng. Tuy trong lòng Makarov sợ hãi, nhưng vẫn không chịu khuất phục, anh lại lần nữa cẩn thận nhoài người ra nhìn xuống đáy nước. Lại một trận quay cuồng, khiến anh không chịu được, lại nằm vật ra bãi lau bên cạnh. Anh bắt đầu tin truyền thuyết mà ông lão du mục kia kể.

Nghỉ nghơi một lúc, Makarov mới hồi phục lại. Anh không dám nhìn cái hố nước đó thêm lần nào nữa, lo sợ con quái vật đó đột nhiên chui từ mặt nước lên kéo mình xuống dưới.

“ở... ở đây không còn nguồn nước nào khác sao?”, mãi sau Makarov mới hỏi lại.

Branch nhìn hố nước trước mặt, một lúc sau mới lắc đầu, nói: “Phía trước tôi chưa đến bao giờ, bởi vì ở đó là dường biên giới. Chỉ mới tới đây thôi, trong vòng mấy chục cây số quanh đây, tôi cũng chỉ phát hiện thấy mồi cái hố nước này. Có khi phía trước vẫn còn, nhưng đối với chúng ta thì cũng chẳng có ý nghĩa gì cả.”

“Đúng! Chẳng có ý nghĩa gì cả!”, Makarov miệng lẩm bẩm, cùng Branch quay lại xe. Trong lúc khởi động máy, Makarov vẫn thất vọng quay lại nhìn cồn cát đó, anh đã không còn trông thấy cái hố nước ăn thịt người đâu nữa.

7

Makarov vừa hồi tưởng xong về cái hố nước ăn thịt người, thì cơ thể ông bất giác đổ về phía sau, rồi đột nhiên người ông hẫng một cái, cả người lõm xuống. “Đường Phong, ở đây có cái gì đó!”, Makarov hét lên.

Đường Phong cũng nghe thấy một tiếng động nặng trịch; khi anh trông thấy Makarov lún vào trong đó, theo phản xạ, anh đã kéo ngay Makarov lại, nhưng không thể kéo được. Nhìn Makarov càng lúc càng lún sâu vào trong mà anh không biết phải làm thế nào. Thế nhưng, sau khi tảng đá sau lưng Makarov đã lún vào trong một đoạn thì nó dừng lại.

Makarov nhìn Đường Phong, Đường Phong cũng nhìn ông, rồi hai người không hẹn mà gặp, cùng lúc nhìn xung quanh và nhìn lên đỉnh đại điện. Họ không biết sắp có vận hạn gì rơi xuống đầu, cũng không biết bước tiếp theo nên làm thế nào.

Thời gian dường như ngừng lại, toàn bộ đại điện yên ắng tĩnh mịch. Makarov vẫn tựa lưng vào tảng đá lõm xuống, ông không dám tùy tiện cử động vì sợ rằng lại chạm vào thứ đáng sợ nào đó.

Đường Phong ra hiệu cho Makarov từ từ đứng dậy. Makarov phán đoán tình hình một hồi, sau đó mới từ từ vươn thẳng lưng. Tảng đá to phía sau lưng ông không hề thay đổi, vẫn lõm xuống giữa những bậc thang đá. Makarov đã bình tĩnh trở lại, ông tức tốc đứng dậy, bước tới cạnh Đường Phong, rồi mới dám quay đầu lại nhìn tảng đá đã lõm vào: “Thế này là thế nào? Bậc thang đá mà cũng có thể lõm vào trong sao?”

“Chắc chắn ban nãy bác đã chạm vào chồ nào đó rồi!”, Đường Phong phán đoán.

“Giờ ta phải làm thế nào?”

“Cháu cũng chưa biết!”, Đường Phong ngầm nghĩ, quyết định hay là cứ mạo hiểm một lần đê xem rốt cuộc thế nào. Anh thu hết can đảm tới cạnh bậc thang lõm vào trong, dùng chân đạp thử hai bên bậc đá, mặt bậc vẫn vững chắc kiên cố, chẳng động tĩnh gì cả, bậc đá ở cùng vị trí phíaa trên và phía dưới cũng như vậy.

“Xem ra ở đây đúng là có một hệ thống nào đó rồi!",

Đường Phong tin tưởng phán đoán của mình.

“Nhưng chẳng xảy ra chuyện gì cả mà?”, Makarov lính là kể từ lúc mình chạm vào thứ đó đến giờ thì cũng đã bảy tám phút trôi qua.

“Lẽ nào là do thời gian qua đi quá lâu rồi, nên hệ thống đó không nhạy nữa?”, Đường Phong cũng cảm thấy kì lạ.

Đường Phong lùi lại phía sau, cẩn thận quan sát vị trí mà họ đang đứng, là bậc thang thứ hai cạnh đầm nước phía tây, bậc đá lõm vào ở vị trí chếch về bên phải của tầng chính giữa những bậc thang đá.

“Quái lạ, ở đây vừa không phải là đỉnh nhọn, cũng không phải là vị trí chính giữa...”, Đường Phong nghi ngờ miệng lẩm bẩm.

“Nếu như nhìn tò bên phải thì bậc đá lõm vào ở khoảng vị trí một phần ba”, Makarov nhanh nhạy phán đoán.

“Chồ một phần ba?”, đầu óc Đường Phong nhanh chóng tính toán, rồi anh lập tức reo lên: “Cháu hiểu rồi!”

Đường Phong quay lại hấp tấp đi tới bậc đá phía bắc, Makarov cũng theo sau, hỏi với theo: “Cậu hiểu ra gì vậy?”

“Tỷ lệ vàng! Vị trí này vừa đúng là tỷ lệ vàng!”, tiếng reo của Đường Phong khiến cả đại điện vang lên ong ong.

“Tỷ lệ vàng! Trời ơi, người Đảng Hạng cũng biết tỷ lệ vàng sao?”, Makarov không sao tin được.

Đường Phong tới vị trí tương tự chỗ bậc đá phía bắc, kiếm tra một lượt, và tin rằng phán đoán của mình là chính xác, khi anh đưa hai tay ra đẩy thử, một tiếng động nặng trịch vang lên, tảng đá trước mặt quả nhiên lõm vào bên trong.

Bậc thang phía bắc đó đã lõm vào trong, nhưng đại điện vẫn chẳng có gì thay đổi. Đường Phong và Makarov tới vị trí tương tự ở phía đông, rồi dùng cách giống như vậy, và tình hình giống hệt như hai chồ ban nãy. Cuối cùng, khi họ tới vị trí tương tự ở phía nam thì cả hai trở nên do đự, đây rất có khả năng là bậc thang cuối cùng khởi động một hệ thống nào đó.

Hai người chần chừ hồi lâu, Makarov mới nói: “Cứ để tôi đẩy!”

Đường Phong không phản đối, anh đã chuẩn bị xong tâm lý đối diện với bất cứ sự cố nào, nhưng anh vẫn bị sự khủng hoảng kì lạ nào đó bao trùm. Sự khủng hoảng với thế giới bên ngoài khiến anh theo phản xạ rút súng ra.

Makarov dồn sức vào hai cánh tay, tảng đá trên bậc thang phía nam lõm vào trong, nhưng vẫn chẳng có gì thay đổi..., nhưng đúng lúc Đường Phong và Makarov ngạc nhiên không hiểu và đưa mắt nhìn nhau, thì không biết từ đâu, một tiếng động lớn vang lên. Ngay sau đó, Đường Phong và Makarov để ý thấy, đầm nước trước mặt họ có sự biến đổi.
 

hoahongden12

Active Member

Hắc Lạt ma vốn là người Mông cổ, sau khi cách mạng Mông cổ bùng nổ, ông ta đã bỏ chạy tới biên giới Trung Quốc, rồi hành nghề cướp bóc để mưu sinh, gây thù địch với chính quyền Mông cổ thời đó. Nghe nói, dưới sự giúp đỡ của đặc công Liên Xô, chính phủ Mông Cổ đã vượt đường dài bất ngờ tập kích vào núi Mã Tung, giết chết Hắc Lạt ma, rồi còn chặt cả đầu ông ta. Xương sọ của ông ta hiện giờ vẫn còn được cất giữ tại Saint Petersburg.

1

Nước chết trong đầm bắt đầu sôi ùng ục, bong bóng nước không ngừng nổi lên. Đường Phong và Makarov kinh ngạc nhìn sự biến hóa trong đầm nước, bật lùi lại phía sau.

Lại một tiếng động lớn nữa vang lên, Đường Phong phát hiện nước trong đầm bắt đầu hạ xuống. Ngay sau đó, đống vàng bạc châu báu vốn chìm dưới đáy đầm, bỗng từ từ nổi lên mặt nước.

Cho tới khi đống vàng bạc châu báu chất như núi hiện rõ mồn một trước mặt họ, Đường Phong mới phát hiện thấy: hóa ra tất cả đống vàng bạc châu báu đều được chất trên một bệ đá hình vuông. Giữa bệ đá và vách đầm có khe hở rộng khoảng nửa mét, nước trong đầm vốn đầy ăm ắp, đã rút hết vào trong khe hở đó.

“Thật... thật không sao tin nổi!”, Makarov ngạc nhiên kêu lên.

“Đây lẽ nào chính là kho báu được đánh dấu trên tấm bản đồ?”, Đường Phong nghĩ tới tấm bản đồ kho báu trong phòng khách phía đông ở nhà trọ.

Đường Phong không hứng thú với đống vàng bạc châu báu này, vì thứ mà anh muốn tìm chính là kệ tranh ngọc. Bệ đá nhô lên ngang bằng với vị trí thềm đá mà anh đang đứng thì dừng lại.

Đường Phong quan sát một hồi, tin rằng chẳng có nguy hiểm nào cả, anh liền lao như tên bắn, nhảy phóc lên bệ đá, Makarov cũng nhảy lên theo.

Hai người đứng giữa núi ngọc ngà châu báu chất nhiều đến mức họ gần như chẳng có chỗ để đặt chân. Đường Phong thẫn thờ nhìn kho báu trước mặt, đột nhiên, anh phát hiện ra có chút không bình thường. Anh nhấc một thứ đồ gốm sứ trong núi châu báu lên, đây là một chiếc bình ngũ sắc vẽ hoa lá và chim chóc bằng ngọc. Kiến thức tích lũy bao năm đã giúp anh nhận ngay ra chiếc bình gốm sứ trên tay là của những năm Càn Long đời Thanh chế tác. Đặt bình hoa xuống, Đường Phong lại cầm một cái lò bằng đồng lên, dưới đáy lò có bút tích, rõ ràng, chính xác viết rằng “Được làm vào thời Tuyên Đức”.

Đường Phong đã nhìn ra chút manh mối, anh lắc đầu đặt chiếc lò đồng xuống, nói với Makarov: “Thật là kì lạ quá, những báu vật này không phải của Tây Hạ.”

“Ồ? Sao cậu biết?”, Makarov ngạc nhiên.

“Cái bình hoa lá chim chóc bằng ngọc mà ban nãy cháu cầm lên, là của những năm Càn Long đời Thanh, Tây Hạ không có loại bình như vậy, cái lò đồng cũng là của đời Minh những năm Tuyên Đức, cũng không phải của Tây Hạ.

Ngọc ngà châu báu ở đây vốn không phải của thời Tây Hạ, có không ít là của thời nhà Thanh, còn đa số vàng bạc đều của thời Dân quốc”, vừa nói, Đường Phong vừa tiện tay cầm vài chiếc dây chuyền trong đống châu báu lên, “Hơn nữa lại đều là những vật trong dân gian, không thể bì được với châu báu của đế vương hoàng gia được.”

Makarov cũng cúi người nhặt vài đồng tiền bạc, tiền vàng lên nhìn kĩ: “Cái này có thể giải thích cho hai đồng bạc mà chúng ta phát hiện thấy trong trung điện rồi!”

“ừm, hai đồng bạc phát hiện thấy trong trung điện chắc cũng bắt nguồn từ đống châu báu này!”, Đường Phong phán đoán.

“Đường Phong... thế... thì tôi chẳng hiểu gì cả! Tất cả mọi thứ của chùa Hắc Thứu, bất luận là tượng Phật hay là kiến trúc đều thể hiện dấu tích của thời kì Tây Hạ, nhưng sao ở đây lại xuất hiện kho báu của Dân quốc?”

“Điều này quả thực rất kì lạ, cháu cũng không hiểu.

Từ đống vàng bạc châu báu của thời kì Dân quốc này, có thể thấy, vàng bạc đã được cất ở đây từ thời kì đỏ, thêm nữa, căn cứ vào tấm gỗ, dây thừng để lại trong lối đi, cháu đoán những người vào đây cũng đều từ thời Dân quốc.”

“Có thể là ai được? Còn nữa, ở đây vốn cất giữ cái gì nhỉ?”

“Đúng thế! Lẽ nào ở đây không có văn vật còn sót lại tò thời Tây Hạ?”, Đường Phong ngẫm nghĩ, rồi bắt đầu cẩn thận phân loại đống vàng bạc châu báu ngồn ngộn trước mặt. Nhưng anh đã xem qua đống kho báu một lượt, mà vẫn không thấy một di vật nào của thời kì Tây Hạ, lại càng không thấy kệ tranh ngọc mà họ đang khổ sở tìm kiếm.

2

Đường Phong làm xong thì thấy cơ thể mỏi rã rời, anh liền ngồi xuống cạnh đống vàng bạc châu báu: “ôi trời! Đây lẽ nào là số phận bỡn cợt tôi? vất vả khổ cực, trải qua biết bao nguy hiểm, đến đây thì phát hiện thấy kho báu rồi mà lại không phải là thứ mà mình cần tìm! Chủ nhân của những báu vật này rốt cuộc là ai đây?”

Đường Phong cảm thấy chủ nhân của kho báu này hình như đang chơi một trò đùa ác với mình. Trong lúc anh đang thiểu não thì Makarov lại có phát hiện mới: “Đường Phong, cậu nhìn này, hình như trên bệ đá có chữ, giống chữ Hán!”

Đường Phong cũng phát hiện thây bệ đá bên cạnh mình có chữ, hai người bê đống ngọc ngà châu báu trên bệ đá ra chỗ khác, giật mình phát hiện ra trên bệ đá khắc kín chữ, hơn nữa còn đều là chữ Hán phồn thể. “Giống như một bài văn vậy!”, Đường Phong phán đoán.

“Đây cũng có thể là do đám người vào đây từ thời Dân quốc khắc cũng nên. Makarov nói.

Đường Phong chầm chậm đọc từng chữ một khắc trên bệ đá:

Hắc Lạt ma vô đạo, không nghe những lời chân thành, kết quả thất bại như ngày hôm nay, không giữ được núi Mã Tung, Đến Hoàng thiên kiệt anh minh không còn. Nay tôi và các huynh đệ tại đây, trước mặt Phật tổ, thề với trời rằng: chân thành đoàn kết, cùng gây dựng đại sự, giết Hắc Lạt ma, gây dựng lại sơn hà, nhất định phải tìm thấy tòa thành cổ Tây Hạ đã biến mất, cùng hưởng vinh hoa phú quý. Nhật nguyệt làm chứng, tâm này ghi dấu, ai phản bội lời thề nhất định sẽ phải chết.

Người thề: Mã Viễn

Cuối cùng Đường Phong cũng đã đọc xong những dòng chữ nửa văn vẻ nửa tự bạch này, phía sau tên người thề “Mã Viễn” hình như vẫn còn 9 chữ nữa, nhưng đều đã bị mờ, nên không thể đọc được.

“Mấy chữ phía sau chắc đều là tên của những người cùng thề, nhưng chắc đều bị cố ý xóa đi, chỉ còn lại chữ Mã Viễn này”, Đường Phong nói.

“Trong đoạn văn thề này có nhắc tới Hắc Lạt ma!”, Makarov nhớ tới cái người mà Đại Lạt ma kể với họ tại Thất Sắc Cẩm Hải.

Đường Phong cũng đã nhớ ra: “Lúc ở Thất sắc cẩm Hải, Đại Lạt ma từng kể rằng: thời Dân quốc, ở vùng tây bắc, có một tên thổ phỉ rất nổi tiếng là Đan Tất Kiên Tán, mọi người đều gọi người này là ‘Hắc Lạt ma’. Tương truyền, thì chính Hắc Lạt ma này là người đã đoạt được kệ tranh ngọc cất giấu tại Đôn Hoàng.”

“Đúng vậy! Trong lời thề này nhắc đến ‘Đôn Hoàng’, sau này khi trở về, tôi cũng tìm kiếm qua một chút tài liệu, Hắc Lạt ma vón là người Mông cố, sau khi cách mạng Mông Cổ bùng nổ, ông ta đã bỏ chạy tới biên giới Trung Quốc, rồi hành nghề cướp bóc để mưu sinh, gây thù địch với chính quyền Mông cổ thời đó. Thời đó, ông ta lấy núi Mã Tung làm căn cứ, hoạt động tại vùng Đôn Hoàng, Tửu Tuyền, bởi vậy rất có khả năng ông ta đã đoạt được kệ tranh ngọc tại Đôn Hoàng.”

“Sau này, nhóm Hắc Lạt ma đã trở thành chủ đề đau đầu của hai nước Trung - Mông. Dưới sự giúp đỡ của đặc công Liên Xô, chính phủ Mông cổ đã vượt đường dài, bất ngờ tập kích núi Mã Tung, giết chết Hắc Lạt ma, rồi còn chặt cả đầu ông ta. Nghe nói, xương sọ của ông ta hiện giờ

Cô vẫn còn được cất giữ tại Saint Petersburg.”

“Đúng là như vậy! Nhưng những tin tức được tiết lộ từ đoạn lời thề này hình như không giống với những gì chúng ta đã biết”, Makarov nghi ngờ nhìn những chữ phồn thể trên bệ đá, “Lời thề là chừ Hán phồn thể, lại nhắc tới Hắc Lạt ma, vậy thì chúng ta có thể nhận định được thời gian của đoạn lời thề này là khoảng từ những năm 20 đến những năm 40 của thế kỷ trước, gần nhất cũng không thể quá những năm 50. Kết hợp với những di vật và kho báu trong thạch điện để phán đoán, thì chắc càng gần với thời kì trước đó hơn, tức là cuối những năm 20 hoặc những năm 30.”

Đường Phong nghe những suy đoán của Makarov, gật gù: “Lão Mã, bác nói tiếp đi, có gì khác nhau?”

“Trong lời thề có hai lần nhắc tới Hắc Lạt ma, lần thứ nhất nói rằng Hắc Lạt ma vô đạo, lần thứ hai nhắc tới việc giết chết Hắc Lạt ma. Dựa vào những chữ đó để lý giải, thì hình như là đám người này đã giết chết Hắc Lạt ma, điều này không giống với những gì mà chúng ta biết.”

“ừm, truyền thuyết thì nói rằng Hắc Lạt ma bị quân Mông Cổ và đặc công Liên Xô giết, còn có cả đầu để chứng minh. Nhưng cũng có truyền thuyết cho rằng, Hắc Lạt ma đã trốn được sự truy sát đó, mang theo cả kho báu của nước thù địch, rồi cất giấu tại chỗ nào đó mà không ai biết”, Đường Phong nói.

“Nếu như những lời thề này là thật, vậy thì người bị Mông Cổ và đặc công Liên Xô giết chết chỉ là hàng giả.”

“Nhưng chúng ta làm sao chứng minh được người viết bài thề này có đáng tin cậy hay không?”

“Hiện giờ tôi nghiêng về những tin tóc mà bài thề này tiết lộ hơn. Bởi vì đây là tư liệu nguyên bản, điều này chúng ta có thể nhận ra từ những dòng chữ; bởi vậy, tôi càng nghiêng về nội dung được tiết lộ trong bài thề này.”

“ừm, từ nội dung của lời thề cho thấy, người thề chắc là người trong cuộc. Nhưng lại là nhóm người nào đây?”, Đường Phong không hiểu.

Ngược lại, tư duy của Makarov lại rộng mở hơn nhiều: “Đường Phong, cậu nhìn đống ngọc ngà châu báu này mà không đoán được người thề là ai sao?”

“Ý bác là: người thề chính là chủ nhân của kho báu này ạ? Vậy thì họ khả năng là người của Hắc Lạt ma. Chỉ có Hắc Lạt ma, hoặc thuộc hạ của Hắc Lạt Ma, mới có thể thu gom một đóng kho báu lớn như vậy trong thời kì Dân quốc!”, Đường Phong ngẫm nghĩ một lúc, nói tiếp: “Thời kì Dân quốc, khắp dải tây bắc đều lưu truyền truyền thuyết về kho báu của Hắc Lạt ma. Nghe nói, Hắc Lạt ma đã dùng việc cướp bóc các thương nhân đi qua đây để tích lũy tài sản giàu có của nước thù địch, sau này số tài sản đó cũng bí ẩn biến mất cùng Hắc Lạt ma, vĩnh viễn biến mất.”

“Không sai! Trong lời thề lần thứ nhất nhắc tới Hắc Lạt ma, thực ra chính là lý do ‘giết Hắc Lạt ma’ được nhắc tới lần thứ hai trong lời thề. Cái từ ‘vô đạo’ trong ‘Hắc Lạt ma vô đạo’ vốn không phải để chỉ Hắc Lạt ma là kẻ chuyên giết người, không tội ác nào là hắn không gây ra, mà thực ra ý nghĩa của nó chính là lời oán thán Hắc Lạt ma ‘không nghe những lời chân thành’ của những người này; ý nghĩa sâu xa hơn: chính là sự oán hận của nhũng người này với Hắc Lạt ma.”

“Xem ra trong đội quân của Hắc Lạt ma thời đó đã có một thế lực phản lại Hắc Lạt ma!”, Đường Phong thầm kinh ngạc.

3

Một thế lực phản lại Hắc Lạt Ma? Makarov khẳng định lại phán đoán của Hàn Giang: “ừm, tôi nghĩ là vậy.

Hậu quả của ‘Hắc Lạt ma vô đạo, không nghe những lời chân thành’ mới chính là ‘kết quả thất bại như ngày hôm nay, núi Mã Tung không giữ được, Đôn Hoàng thiên kiệt anh minh không còn’. Tôi nghĩ: ‘kết quả thất bại như ngày hôm nay’ chính là nhằm chỉ trận chiến mà Mông cổ và đặc công Liên Xô tập kích Hắc Lạt ma.”

“Chỉ có thể là như vậy thôi. Vậy lời thề ‘giết Hắc Lạt ma’ của họ phía sau, cũng có nghĩa là Hắc Lạt ma không hề chết trong trận tập kích của Mông cổ và đặc công Liên Xô. Nhưng sau này, kể từ sau trận chiến đó, tất cả những thông tin bí mật về Hắc Lạt ma đều đứt đoạn, thế nhân không còn nghe tới Hắc Lạt ma nữa.”

“Với tính cách của Hắc Lạt ma, thì ông ta không bao giờ cam chịu chìm nghỉm như vậy đâu. Sau này ông ta không lộ mặt, thì chỉ có thể có một giải thích duy nhất, đó chính là: ông ta thực sự đã chết rồi!”

“Nếu nói như bác thì chẳng bao lâu sau trận chiến tại núi Mã Tung đó, Hắc Lạt ma cũng chết rồi!”

Makarov gật gù: ‘‘Nhất định là như vậy. Sau trận chiến tại núi Mã Tung, Hắc Lạt ma cùng một số người trong bộ tộc đã chạy thoát, vậy nơi cuối cùng mà họ tới, có thể là chỗ nào đây?”

“Chắc chắn là ở đây. Từ tình hình lúc đó cho thấy, phía bắc là Mông cổ, nên Hắc Lạt ma không thể đến đó được; phía tây là Tân Cương, thì có quân đô đốc cũng tăng cường phòng thủ nên Hắc Lạt cũng e dè, phía nam là vùng Thanh Hải hoang sơ, hiểm trở; nên chỉ có đi về phía đông, trốn trong núi Hạ Lan là thượng sách. Hơn nữa, ở đây núi cao rừng rậm, lại còn có thạch điện này có thể ẩn náu…”

“Không! Đường Phong, lúc Hắc Lạt ma tháo chạy nhất định là hấp tấp thục mạng, không thể mang theo bao nhiêu đồ đạc như vậy được. Chắc chắn trước đó Hắc Lạt ma đã phát hiện ra chỗ này, và để đề phòng bất trắc nên ông ta đã cất giấu toàn bộ vàng bạc châu báu mà mình tích lũy được ở đây. Sau trận chiến ở núi Mã Tung, Hắc Lạt ma và băng nhóm của ông ta bị truy đuổi, chắc chắn sẽ nghĩ tới chỗ này trước tiên!”, giải thích của Makarov hợp lý hơn hẳn.

“Vậy tấm bản đồ kho báu từ thời Dân quốc, mà cháu và Hàn Giang phát hiện thấy trong nhà trọ, chắc là chỉ chỗ này rồi!”

“Điều đó không quan trọng nữa rồi. Quan trọng là Hắc Lạt ma làm thế nào để tìm thấy chỗ này?”

“Là... là kệ tranh ngọc!”, Đường Phong giật mình, “Nhưng trên kệ tranh ngọc không thể có thông tin về núi Hạ Lan được!”

“Đúng! Nhimg tôi nghĩ Hắc Lạt ma đã biết trước về bí mật của kệ tranh ngọc, bởi vậy ông ta cũng đang tìm kiếm những kệ tranh ngọc khác. Chỉ có điều, dựa vào năng lực của ông ta thì không tự tìm ra được! Điều này có thể nhìn ra từ trong đoạn lời thề, ‘chân thành đoàn kết, cùng gây dựng đại sự, giết Hắc Lạt ma, xây dựng lại sơn hà, nhất định phải tìm thấy tòa thành cổ Tây Hạ đã biến mất, cùng hưởng vinh hoa phú quý’. ‘Đại sự’ nhằm để chỉ điều gì? Phía sau đã nói ra rồi ‘nhất định phải tìm thấy tòa thành cổ Tây Hạ đã biến mất’!”

“Hạn Hải Mật Thành?”, Đường Phong ngạc nhiên nói.

“Không sai, chính trong quá trình tìm kiếm kệ tranh ngọc, rất có khả năng Hắc Lạt ma đã vô tình phát hiện ra những thạch điện trong chùa Hắc Thứu trên núi.”

“Vậy kệ tranh ngọc trên núi Hạ Lan ở đâu?”

“Đây cũng là câu hỏi mà tôi quan tâm nhất, nhưng xem ra ở đây không thể có kệ tranh ngọc đâu.”

“Lão Mã, cháu bỗng nghĩ tới người bị kẹp chết dưới cánh cổng bằng đồng bọc vàng, có khi nào là Hắc Lạt ma không nhỉ?”, Đường Phong đột nhiên nói.

“Hắc Lạt ma bị kẹp chết...”, Makarov lẩm bẩm, giống như chìm trong suy tư. Mãi lâu sau Makarov mới nói,

“Hài cốt đó có phải là của Hắc Lạt ma hay không, cũng chưa biết được, nhưng nhìn lại sự việc từ khi chúng ta tiến vào trong huyền cung trong ngọn núi này, thì chỉ trông thấy bộ hài cốt đó, tôi cho rằng rất có khả năng đó chính là Hắc Lạt ma!”

“Hắc Lạt ma chết thảm thật đấy! Xem ra đám người đó giết ông ta không chỉ vì bất mãn với ông ấy, mà cũng là vì mục đích muốn tìm ra Hạn Hải Mật Thành.”

“Hoặc cỏ thể nói rằng, sự bất mãn của họ với Hắc Lạt ma bắt nguồn từ bí mật phía sau kệ tranh ngọc!”, Makarov bình tĩnh nói.

“Những người này đã có nhiều báu vật như vậy rồi mà vẫn chưa thỏa mãn sao?”

“Đường Phong, nghi vấn lớn nhất trong đoạn lời thề này không chỉ có vậy thôi đâu!”, Makarov nhắc nhở Đường Phong.

“, vân còn gì vậy?

“Là 9 chữ bị cố ý xóa đi!”, Makarov nói như đinh đóng cột.

“Cháu cũng để ý thấy, 9 chữ đó không phải tự nhiên biến mất mà là do ai đó cố ý xóa đi, chỉ có hai chữ ‘Mã Viễn’ là không bị xóa thôi.”

“Theo thói quen của người Trung Quốc các cậu, thì 9 chữ Hán chắc là họ tên của từ ba đến bốn người nào đó, cộng thêm cả ‘Mã Viễn’ này nữa, là khoảng bốn hoặc năm người, họ đã giết chết Hắc Lạt ma rồi lập nên lời thề này. Nhưng sau đó không hiểu vì nguyên nhân gì mà họ lại xóa tên của mấy người đó đi.”

“Bốn đến năm người?! Mấy người này đã theo Hắc Lạt ma trốn được truy sát, chạy thẳng tới đây, sau đó lại vì nguyên nhân nào đó mà bốn, năm người này giết chết Hắc Lạt ma. Sau khi những người này giết chết Hắc Lạt ma thì cũng không hưởng thụ kho báu ở đây, mà lại lao đi tìm kệ tranh ngọc còn lại, nhưng cuối cùng cũng không ai quay trở về đây. Lẽ nào họ cũng đều chết hết cả rồi sao?”, Đường Phong suy đoán toàn bộ quá trình đã từng xảy ra ở đây.

“ít nhất là họ cũng đã để lại dấu vết ở Thất sắc cẩm Hải!”, Makarov nhắc nhở.

“Đúng! Đại Lạt ma kể rằng, năm đó bỗng xuất hiện bốn vị khách từ phương xa tới, bọn họ có đúng bốn người!”, Đường Phong ngạc nhiên nói, nhưng ngay lập tức anh đã tự phủ định điều đó, “Nhưng cháu còn nhớ là Đại Lạt ma nói rất rõ rằng, dẫn đầu đoàn khách phương xa đó là một người đàn ông trung niên khoảng bốn năm chục tuổi, ba người còn lại thì một người trông khoảng hơn 30 tuổi, hai người còn lại rất trẻ, xem chừng chỉ ngoài 20 tuổi thôi.

Nếu như lời thề trên đá được khắc sau trận chiến ở núi Mã Tung không lâu, thì cũng là cuối những năm 20 của thế kỷ trước, muộn nhất cũng phải đầu những năm 30, còn bốn người khách phương xa đột nhập tới Thất sắc cẩm Hải là cuối những năm 40. Từ đó tính ra thì chắc chắn hai người trẻ tuổi không thể là những người tham gia vào lời thề, cái người khoảng ngoài 30 tuổi cũng chưa chắc tham gia lời thề đó.”

Makarov nghiền ngẫm rất lâu cũng không hiểu ra được vấn đề này. “Hỏng rồi! Chúng ta chỉ chăm chăm tìm kho báu trong này, Hàn Giang vẫn ở ngoài đó kìa!”, Đường Phong bỗng kêu lên.

Hai người lúc này mới nhớ tới Hàn Giang ở ngoài không biết đã ra sao rồi, chẳng ai ngờ phía sau đầm thủy ngân lại có một không gian rộng lớn và những phát hiện đáng kinh ngạc như vậy.

4

Đường Phong và Makarov không lấy đi bất cứ báu vật nào, mà liền vội vàng quay về theo đường cũ. Hình như mọi việc đều rất bình thường, nên chẳng mấy chốc hai người đã quay lại trung điện. Đường Phong bước nhanh xuống bậc thang, anh tưởng rằng Hàn Giang vẫn đứne ở bờ bên kia đầm thủy ngân chờ đợi họ. Nhưng khi họ tới cạnh đầm thủy ngân thì lại không thấy bóng dáng Hàn Giang đâu cả, và điều càng khiến anh ngạc nhiên là tấm ván gồ trên đầm thủy ngân cũng không cánh mà bay.

“Trời ơi! Hàn Giang... đang lâm trận bỗng tháo chạy là sao?”

“Chắc chắn Hàn Giang gặp phải sự cố nào đó rồi!”, Makarov lập tức phán đoán.

“Trời ơi! Không phải Hàn Giang rơi xuống cái đầm thủy ngân đó rồi chứ!”, Đường Phong lập tức nghĩ tới tình huống xấu nhất.

Đường Phong đứng sát mép đầm thủy ngân, nhìn xuống đáy đầm, chắng có gì khác thường cả!

“Gã bí ẩn đó..miệng Makarov lẩm bẩm.

“Gã bí ẩn?”, Đường Phong cũng kêu lên.

“Với bản lĩnh của Hàn Giang, thì người bình thường không hạ được cậu ấy đâu, trừ khi cậu ấy bị đánh lén!”, Makarov suy đoán.

“Được rồi! Đừng quan tâm tới Hàn Giang nữa, anh ta mạng lớn không

chết được đâu! Bây giờ phải mau nghĩ quay về bằng cách nào đây!”, Đường Phong xem chúng ta quay về bằng cách nào đây!”, Đường Phong khó chịu bực dọc.

Đường Phong và Makarov nhất thời đều cuống cả lên. Nhưng Makarov chẳng mấy chốc đã trấn tĩnh lại: “Đường Phong, cậu nghĩ xem, ban đầu khi Tây Hạ xây dựng chỗ này chắc chắn không thể kê cái tấm gỗ qua đầm thủy ngân được.”

“Đúng vậy! Có lẽ trước đây trên này từng có cây cầu, sau này bị Lượng Tộ hạ lệnh phá hủy! Không phải ông ta không muốn có người vào được trong này sao?”, Đường Phong đoán mò.

“Bị Lượng Tộ phá hủy? Trừ khi là cầu gỗ, nhưng tôi thấy bên đầm thủy ngân vốn chẳng có dấu vết gì của cái cầu nào cả!”, sau khi kiểm tra Makarov nói.

“Vậy thì là cầu đá!”, Đường Phong nói mò.

“Cầu đá?”, trong đầu Makarov nhảy ra một loạt hình ảnh, ông bỗng nghĩ tới điều gì đó, nên vội vàng mò mẫm vách đá trên bờ phía bắc đầm thủy ngân.

“Lão Mã, bác đang làm gì vậy? Bác cho rằng ở đây vẫn còn có hệ thống ngầm nào sao?”, Đường Phong hỏi lại.

“Tại sao lại không thể chứ?”, xem ra Makarov rất tự tin.

Vách đá phía bờ bắc đầm thủy ngân do những tảng đá hình lục giác không bằng nhau xếp thành, Makarov thử từng tảng một, đột nhiên, một tảng đá trong số đã bị ấn xuống.

Đường Phong cũng ngạc nhiên, anh phát hiện ra tảng đá bị Makarov ấn xuống có vẻ cân đối hơn những tảng đá hình lục giác khác. Khi Makarov ấn tảng đá xuống tận cùng thì thủy ngân trong đầm cũng biến đổi.

Một cơn sóng không lớn lắm dâng lên, sáu bệ đá hình lục giác từ dưới đầm thủy ngân từ từ nhô lên, vừa vặn tạo thành một cái cầu đá giữa đầm thủy ngân.

Đường Phong bước tới cạnh đầm, trông thấy những bệ đá hình lục giác xếp thành hình hoa sen, đúng như tên gọi “bước bước liên hoa”, đây là ngụ ý cát tường trong Phật giáo. Đường Phong không bận tâm nhiều nữa, anh là người đầu tiên bước lên bệ đá thứ nhất, ngay sau đó là bậc thứ hai, thứ ba... Khi đôi chân đã đặt lên bờ phía nam đầm thủy ngân, thì rốt cuộc anh cũng thở phào nhẹ nhõm. Makarov cũng bước theo sau sang bờ phía nam.

Hai người không dám nghi ngờ, cũng không dám gọi tên Hàn Giang. Cả hai cùng lúc rút súng ra, gã bí ẩn đó có thể đang ở bên ngoài cánh cổng bằng đồng bọc vàng...

5

Đường Phong và Makarov đi qua lối đi rộng rãi, trong đó chất đống những tảng đá hình bầu dục, không khác gì so với lúc họ tới, hai sợi dây thừng trên cánh cổng bằng đồng bọc vàng cũng vẫn còn, tấm ván gồ bắc qua đầm thủy ngân đã được đặt về vị trí cũ. Đường Phong định đi qua cánh cổng, nhưng lại bị Makarov kéo lại. Makarov chỉ chỉ xuống dưới chân, Đường Phong phát hiện thấy bụi đất dưới chân xuất hiện những dấu giày hỗn loạn.

Đường Phong ngồi xổm xuống, kiểm tra những dấu giày hỗn loạn này, nhưng phát hiện ra chúng đều là của anh, Hàn Giang và Makarov để lại, không có vết giày của người thứ tư.

Makarov cũng rất nghi ngờ, hai người quay trở lại trung điện, ở đây chẳng có ai. Rốt cuộc Hàn Giang biến đi đâu nhỉ?! Đường Phong nhìn cánh cổng phía tây lúc họ mở ra khi tới đây, rồi lại nhìn cửa hang phía nam đã mở ra nhưng không phát hiện thấy có gì khác thường, anh lại nhìn tiếp cánh cổng phía đông vốn đóng im ỉm, giờ bỗng khép hờ...

“Cánh cổng phía đông bị mở ra kìa!”, Đường Phong khẽ kêu lên.

“vết giày của Hàn Giang cũng dẫn thẳng vào trong đó!”, Makarov phát hiện dấu giày của Hàn Giang cuối cùng đầ mất hút trước cánh cổng phía đông.

Hai người nhìn nhau, liền lên nòng súng theo phản xạ, nghiêng người tới cạnh cánh cổng phía đông. Họ không biết rốt cuộc Hàn Giang đã gặp phải chuyện gì, và sao lại bê việc túc trực để chui vào trong cánh cổng phía đông làm gì. Phía sau cánh cổng sơn vàng phía đông sẽ là gì đây? Theo kinh nghiệm từ bên ngoài cánh cổng phía tây thì chắc là một lối đi? Lối đi này dài thế nào mà Hàn Giang vào đó xong cũng không thấy quay lại?

Đường Phong lấy tay ra hiệu cho Makarov, ý là anh sẽ tới mở cổng, Makarov yểm hộ. Lão Mã gật gật đầu, Đường Phong lấy tay phải từ từ đẩy cửa ra. “Cót két” một tiếng, cánh cổng sơn vàng phía đông của tiền điện đã được mở raỄ Bên ngoài quả nhiên là một lối đi tối om om sâu hun hút, và không cỏ ai cầm súng chĩa vào mình, lúc này Đường Phong mới khẽ thở phào.

Đường Phong lách người, bước vào lối đi bên ngoài cánh cổng, Makarov cũng vào theo. Đường Phong bật đèn pin, soi vào lối đi, ở đây không khác gì so với lối đi lúc họ đến, vách đá đã được con người mài giũa nhưng không phẳng phiu cho lắm. Anh tiến lên phía trước vài bước, thì phát hiện ra đường đi dưới chân hình như đang cao dần lên. Họ đi thêm vài bước nữa, phía trước xuất hiện một ngã rẽ, rẽ vào đó, Đường Phong dùng đèn pin soi, độ dốc bỗng tăng chót vót.

Đường Phong cẩn thận, nghi ngờ, đang định bước chân lên phía trước, thì đột nhiên chân anh bị một vật gì đó vướng phải. Anh giật mình, theo phản xạ anh nhắm thẳng súng xuống dưới chân, nhưng đúng lúc này, anh phát hiện ra phía dưới cũng có một nòng súng đang chĩa về mình.

“Ai?!, Đường Phong giật băn mình, lùi ngay lại phía sau, áp người vào vách đá, đèn pin trên tay cũng rơi xuống đất.

‘Đừng hoảng loạn thế!”, là giọng Hàn Giang.

Đường Phong vội vàng nhặt đèn pin lên, soi về mặt người đối diện, thì thấy Hàn Giang uể oải rã rời ngồi bệt xuống vách đá. Lúc này, Hàn Giang đã buông súng trên tay xuống.

“Sao anh lại chạy vào đây ngủ vậy? Bỏ canh gác hại chúng tôi xém chút nữa là không quay về được!”, Đường Phong oán thán.

“Đường Phong, hình như Hàn Giang bị thương rồi!”, Makarov đã nhìn ra sự yếu ớt của Hàn Giang.

“Sao anh lại chạy tới đây vậy?”, Đường Phong cũng nhận ra hình như Hàn Giang có vấn đề, họ nói mấy câu rồi mà Hàn Giang chẳng ho he gì cả.

Đường Phong đỡ Hàn Giang dậy. Hàn Giang ra sức lắc lắc đầu, phía sau gáy vô cùng đau đớn: “Tôi thấy cậu... cậu mãi chưa quay lại, nên liền mò mẫm... hệ thống ngầm của đầm thủy... thủy ngân. Đúng lúc đó, tôi nghe... nghe thấy một tiếng súng nổ, tôi nhận ra… nhận ra tiếng súng này vọng ra từ trong lối đi, vậy... vậy là tôi đã đi theo. Vừa mới tới đây, tôi... tôi cảm thấy sau gáy mình đau buốt, trước mắt tối sầm lại, thì... thì chẳng còn biết gì nữa cả, bầy giờ ở đây vẫn đau...”

Nghe xong đoạn tường thuật đứt quãng của Hàn Giang, Đường Phong cười nói: “Đừng giả vờ nữa, với cơ thể của anh, thì kể cả bị người ta tấn công trộm mười lần, cũng không đến nỗi như vậy đâu! Mau đứng dậy nào!”

“Không! Lần... lần này không giống, tôi cũng đã từng bị người ta tấn công trộm, nhưng chưa... chưa bao giờ lại nghiêm trọng như lần này!”, Hàn Giang cố hồi tưởng lại giây phút gặp nạn đó.

“Anh bị đập cho bại não rồi à! Lần này thì có làm sao?”, Đường Phong không tin, tưởng rằng Hàn Giang vẫn đang giả vờ.

Makarov kiểm tra vết thương của Hàn Giang, phía sau gáy xuất hiện một vết tụ máu lớn. “Lần này quả thực rất nghiêm trọng đấy, cái gã tấn công trộm Hàn Giang ra tay rất hiểm, vừa chuẩn vừa ác!”, Makarov dựa vào bao năm kinh nghiệm để phán đoán.

“Anh có trông rõ người đó không?”, Đường Phong hỏi.

“Nhanh như vậy, tôi... tôi còn không kịp phản ứng!”, Hàn Giang nói.

“Như vậy cũng có nghĩa là anh không biết cái gã đó đi đâu mất phải không?”, Đường Phong thất vọng nói.

“Kẻ tấn công trộm Hàn Giang chắc chính là cái gã bí ẩn đó!”, Makarov đột nhiên nói.

“Gã bí ẩn? Sao bác có thể khẳng định vậy?”, Đường Phong không hiểu.

Makarov bước lên phía trước vài bước, đứng cạnh vách đá, chỉ vào kí hiệu hình tam giác bắt mắt trên vách đá, nói: “Nhìn xem! Kí hiệu đó lại xuất hiện rồi!”

“Quả nhiên là gã ta!”, Đường Phong cũng nhận ra kí hiệu trên vách đá giống hệt như kí hiệu mà họ từng nhìn thấy trong rừng. Tuy là trên vách đá rắn chắc, nhưng kí hiệu hình tam giác này vẫn được chia thành ba nét, được dùng sức khắc sâu lên vách đá, đến nỗi những vụn đá vẫn còn lưu lại trên đường viền của kí hiệu tam giác.

6

Ba người dùng manh mối đã có phân tích một hồi, nhớ rằng gã bí ẩn đó đã đi theo lối đi này tiến lên phía trrớc. Vậy là, Đường Phong và Makarov đỡ Hàn Giang vẫn chưa hồi sức dậy, ba người bắt đầu khó nhọc tiến về phía trước.

“Tiếng súng? Anh nghe thấy mấy tiếng súng vậy?”, Dường Phong hỏi Hàn Giang.

“ít nhất cũng phải ba phát, cũng có thể là bốn năm phát! Có mấy phát súng bắn liền nhau nên không rõ nữa!”, Hàn Giang cố gắng hồi tưởng lại.

“Là khẩu liên thanh hay là nhiều khẩu khác bắn nhau?”, Makarov nhanh nhạy hỏi.

Hàn Giang hơi ngớ người ra, anh ngẫm nghĩ, nói: "Hình như không chỉ có một khẩu! Nhưng tôi cũng không đám khẳng định.

“Lẽ nào ngoài gã bí ẩn đó ra còn có người khác?”, Đường Phong vừa nói vừa bất giác lần sờ khẩu súng của mình.

Cả ba người lại im lặng, bởi vì Hàn Giang yếu quá nên ba người đi rất chậm. Đường Phong phát hiện địa hình cùa lối đi này cứ cao dần lên, hơn nữa còn không ngừng quanh co. Anh chú ý kiểm tra vách đá xung quanh, một mặt kiểm tra kí hiệu mà gã bí ẩn đó để lại, một mặt lo lắng sẽ xuất hiện ngã rẽ và cửa hang mới. Anh không muốn lại lạc đường trong lối đi tối đen sâu hun hút này.

Đường Phong âm thầm ghi nhớ cự ly mà họ đã đi, cách chỗ Hàn Giang xảy ra chuyện hơn trăm bước chân, lối đi xem ra vẫn trải dài về phía trước. Cách hơn chục bước, Đường Phong lại nhìn thấy ký hiệu hình tam giác hiện rõ trên vách đá, điều này cũng cho thấy gã bí ẩn đó cũng đi qua đường này, cũng cho thấy nguy hiểm đang càng lúc càng gần họ hơn.

Khi Đường Phong phát hiện ra ký hiệu tam giác thứ 8 trên vách đá thì anh bỗng trông thấy dưới chân có một vũng máu: “Hai người nhìn xem, ở đây có máu!”

Makarov nhìn vũng máu: “Là máu người, xem ra vừa mới chảy ra đây thôi!”

Đường Phong lại phát hiện ra vỏ đạn trên mặt đất, anh tìm thấy hai cái, Makarov cũng tìm thấy hai cái. Đường Phong và Makarov hội ý một hồi liền lần ra manh mối: “Đây là hai vỏ đạn bắn ra từ hai khẩu súng khác nhau!”

“Như vậy có nghĩa là có ít nhất hai người đã bắn nhau?”, Đường Phong hỏi lại.

“Gần như là thế!”, Makarov đáp.

Hàn Giang và Makarov dùng đèn pin soi khắp vách đá xung quanh, nhưng chỉ có vũng máu đó mà thôi. “Vỏ đạn của hai khẩu súng, nhưng chỉ có vết máu của một người để lại, xem ra người kia chẳng hề hấn gì cả!”, Hàn Giang phán đoán.

Đi tiếp về phía trước, vết những giọt máu tong tỏng không ngừng xuất hiện, còn kí hiệu hình tam giác trên vách

đá đã biến mất. Đường Phong không khỏi nghi ngờ: “Lẽ nào gã bí ẩn đó đã bị tấn công?”

“Xem ra vẫn chưa nguy hiểm đến tính mạng, người nầy vẫn đi được về phía trước!”, Hàn Giang phán đoán.

“Rốt cuộc là thế nào đây? Ngoài gã bí ẩn đó ra, còn có ai? Nhìn thế này thì người bị thương cũng khá nặng đấy, vậy tại sao vẫn phải sống chết đi tiếp..

Đường Phong đang nói thì Hàn Giang bỗng bịt miệng anh lại. Lúc này anh mới phát hiện ra hình như đã đến cuối lối đi, phía trước xuất hiện một cửa hang, bên ngoài cửa hang là gì vậy? Anh vẫn chưa nhìn rõ thì Hàn Giang đã tắt đèn pin của anh đi.

7

Ba người dựa vào cảm giác, mò mẫm trong lối đi. Ở đây không có lấy một tia sáng, vẫn là một không gian tối đen. Đường Phong còn không cảm nhận được ở đây rộng chừng nào, anh muốn bật đèn pin lên, nhưng trên tay anh là cánh tay vạm vỡ của Hàn Giang ghì chặt. Anh nghe thấy hai âm thanh trong bóng tối, đó là tiếng Hàn Giang và Makarov lên nòng súng. Tay Hàn Giang từ từ rời khỏi chiếc đèn pin trong tay Đường Phong.

Đường Phong hiểu ngay ý, cũng lên nòng súng, một tay cầm súng, một tay đặt lên công tắc đèn pin. Sau một hồi im lặng, Hàn Giang và Makarov gần như cùng lúc bật đèn pin lên, cũng gần như cùng lúc rọi đèn pin thẳng vào mé trái trước mặt.

Đường Phong cũng vội vàng bật công tắc đèn pin, soi về hướng đó, chùm ánh sáng từ ba chiếc đèn pin chụm lại chọc thủng không gian tối đen. Đường Phong phát hiện ra đây là một gian thạch thất không rộng lắm, và mé trái trước mặt họ có một người đang nằm úp mặt xuống đất.

“Stephen!”, Đường Phong, Hàn Giang và Makarov gần như cùng lúc nhận ngay ra người nằm trên mặt đất đó.

Ba người cẩn thận bước tới tnrớc mặt Stephen, sắc mặt Stephen trắng bệch, trên cánh tay trái có một vết đạn, máu tươi từ đó đang tuôn ra đỏ au. “Hình như hắn ta rất yếu!”, Makarov nói.

“Xem ra máu trên đường đi đều là của Stephen rồi!”, Hàn Giang nghĩ ngay tới Fanny chết thảm dưới ngọn núi gần nhà trọ.

Makarov lấy từ trong ba lô ra ít thuốc đưa cho Stephen rắc lên vết thương, rồi xé một đoạn băng gạc băng bó vết thương cho hắn. Ba người vừa đợi Stephen tỉnh táo lại, vừa quan sát thạch điện nơi họ đang đứng.

Đường Phong thầm phán đoán phương hướng, lối mà họ đang đi vào ở hướng tây. Anh ngạc nhiên bởi phát hiện ra: ở phía đông thạch điện giống hệt như lối đi thông tới hậu điện, trên vách đá xuất hiện một cái cổng vòm; chỉ có điều lối đi này hình như bị cả một tảng đá khổng lồ bịt kín, không hề trông thấy vết tích nào cho thấy nó đã được mở ra.

Đường Phong đưa hai tay ra, dốc hết sức đẩy mạnh cổng vòm, không có động tĩnh gì cả. Anh nghĩ, cánh cổng không hề nhúc nhích vậy thì chắc chắn sẽ phải có hệ thống điều khiển ngầm, thế là anh liền tìm kiếm khắp xung quanh cánh cổng. Tìm mãi tìm mãi, Đường Phong mới phát hiện thấy trên đố cửa có mấy chữ, nên liền gọi mọi người: “Mọi

người xem, ở đây có chữ, là chữ Tây Hạ!”

Hàn Giang và Makrov cũng nhìn ra cánh cổng vòm này: “Viết gì vậy?”, Hàn Giang hỏi.

“Giới - Đàn - Thượng - Tự - Tàng - Kinh - Lầu?”, Đường Phong chầm chậm dịch những chữ Tây Hạ trên đố cửa ra. Anh nghi ngờ mình dịch sai nên cẩn thận nhìn lại lần nữa, quả thực là mấy chữ này.

“Tàng Kinh Lầu?”, Đường Phong là người đầu tiên thể hiện mình không hiểu gì cả, “Sao trong này lại xây dựng Tàng Kinh Lầu? Thật không thể tin được!”

Hàn Giang và Makarov cũng không hiểu, “Mặc kệ nó, mở cánh cổng này ra cái đã thì không phải sẽ biết tất sao!”,

Hàn Giang nói.

Vậy là, ba người dốc sức, cố gắng đẩy cánh cổng vòm này, nhưng cánh cổng đá không hề nhúc nhích, y nguyên một chỗ.

“Các... các người đừng phí công nữa! Cái... cổng này không đẩy ra được đâu!”, lúc này phía sau lưng họ bỗng vang lên giọng nói của Stephen.
 

hoahongden12

Active Member

“Đây là vật gia truyền của tổ tông nhà họ Mã chúng ta truyền lại, vì nó mà ông nội con đã mất mạng, vì nó mà cha phải tha hương đến nước Mỹ. Bao nhiêu năm nay, người Mỹ muốn đoạt được nó, người Đài Loan không những muốn đoạt được nó, mà còn muốn diệt trừ cha. Bởi vậy, cha đành phải trốn chui trốn lủi mới có thể sống sót được đến ngày hôm nay. Bây giờ, cha trao nó cho con, con nhất định phải cẩn thận, bởi vì... ”

1

Đường Phong, Hàn Giang và Makarov nghe thấy giọng nói sau lưng đều giật mình quay lại nhìn, Stephen đã tỉnh lại, đang lấy tay cố chống cơ thể suy yếu ngồi dậy.

“Người bạn cũ, chúng ta lại gặp nhau rồi!”, Hàn Giang cười nói, “Nhưng xem ra tình hình lần này của anh không được tốt lắm!”

“Đúng vậy! Kể... kể từ lần đầu tiên gặp các anh, tôi đã biết... biết chúng ta có duyên với nhau!”, nét mặt Stephen như cố gắng gượng cười.

“Sao anh lại tới đây?”, Hàn Giang trở mặt trong tích tắc, ra vẻ người thẩm vấn trước mặt Stephen.

“Các người có thể đến được... thì tại sao tôi không thể? mặt Stephen vẫn tươi cười.

“Người ban nãy tập kích tôi trong lối đi là anh phải không?”, Hàn Giang cố ý hỏi vậy.

“Anh nghĩ rằng có thể là tôi sao?”, Stephen không trả lời thẳng câu hỏi của Hàn Giang.

“Được thôi, vậy chúng ta sẽ hỏi bằng cách khác, ai tấn công anh vậy?”, Hàn Giang nghiêm mặt.

“Nếu... tôi nói rằng tôi cũng không biết người đó, anh có tin không?”, Stephen hỏi.

“Vậy thì phải nghe lý do của anh xem sao đã.”

“Chẳng có lý do gì cả, điều mà tôi có thể nói với các anh là khuyên các anh nên mau... mau chóng rời khỏi đây.

Như vậy sẽ tốt cho các anh!”

“Cảm ơn đã quan tâm! Nhưng chúng tôi không cần.”

“Vậy... vậy tôi chẳng còn gì để nói rồi!”, Stephen nhún vai, sau đó nhắm mắt lại, kiệt sức tựa vào vách đá sau lưng.

“Còn Fanny, anh không thể nói với tôi là anh không quen chứ!”, Hàn Giang bỗng nhắc tới Fanny.

Cơ thể Stephen khẽ rung lên, nhưng anh ta mím chặt môi, im lặng.

“Theo tôi biết thì anh có tình cảm với Fanny, thậm chí còn rất tình cảm là đằng khác! Tôi nói không sai chứ!”

Hàn Giang dừng lại nhìn Stephen, cơ thể Stephen lại rung lên lần nữa. “Nói đi, ai đã hại chết Fanny? Anh phải biết rằng hiện giờ chỉ có tôi mới có thể giúp anh tóm được hung thủ đã giết hại Fanny mà thôi!”, Hàn Giang nói.

Stephen vẫn im lặng, nhưng Hàn Giang cũng nhận ra sợi dây phòng ngự trong lòng Stephen đã lỏng lẻo, anh nói tiếp: “Chúng tôi biết anh không phải là bàn tay thực sự phía sau, anh chỉ là một kẻ buôn lậu đồ mỹ nghệ, vốn chẳng có nổi sự kiên nhẫn đó đâu! Lẽ nào anh không muốn báo thù cho Fanny sao?”

“Đừng nói nữa!”, Stephen bỗng gào lên, ngắt lời Hàn Giang. Mọi người phát hiện ra, hai dòng nước mắt đang từ từ chảy xuống gò má Stephen. Sau một hồi im lặng, Stephen nói: “Được thôi! Tôi... tôi sẽ kể cho các anh tất cả những gì tôi biết. Các anh muốn biết gì vậy?”

“Hãy trả lời câu hỏi ban nãy của tôi đã, ai đã tấn công anh?”, giọng Hàn Giang dịu xuống.

“Hình như hắn ta là người Nga, nhưng... nhưng tôi không biết tên hắn..Stephen nói.

“Stechkin?”, Hàn Giang và Đường Phong lập tức nghĩ tới Stechkin.

“Người... người đó rất lợi hại, trước đó tôi chưa từng gặp hắn.

“Đây cũng là người sát hạt Fanny?”, Hàn Giang hỏi tiếp. “ừm, chính là hắn!”

Sao pkải giết Fanny rồi bắn anh bị thương?”

“Tất cả đều vì kệ... kệ tranh ngọc đó.”

“Kệ tranh ngọc? Được rồi, chúng ta hãy nói tới việc quan trọng nhất đi! Ông chủ của anh là ai?”, Hàn Giang quyết định không vòng vo nữa, hỏi thẳng vấn đề.

“Điều này…Stephen trở nên do dự, trầm ngâm một hồi, rốt cuộc mới hạ quyết tâm, chậm rãi nói, “Tất cả đều là số phận, số phận cả! Mọi chuyện đều phải bắt đầu kể từ số phận của gia tộc chúng tôi...”

2

Trên con đường nhỏ của vùng ngoại ô thành phố Seattle tiểu bang Washington, Stephen và Fanny đang lái chiếc Ferrari màu đỏ bằng số “tiền bẩn” họ vừa kiếm được, họ vừa trúng một mánh lớn tại châu Âu, số tiền này đủ để cả hai cùng đồng bọn hưởng thụ một thời gian dài.

Nhưng Stephen dù đang lái chiếc Ferrari cũng không vui lên nổi, bởi anh ta vừa mới nhận được một hung tin:

Mã Xướng Quốc cha anh ta, đang bệnh nặng, khả năng lớn chỉ còn sống được vài ngày nữa mà thôi.

Loáng một cái, một viện dưỡng lão không mấy bắt mắt xây bên cạnh hồ đã xuất hiện trước mắt họ. Stephen lái vào bãi đỗ, dừng xe lại, xuống xe chau mày nhìn viện dưỡng lão yên tĩnh dưới bóng chiều tà. Cha anh ta kiên quyết đòi ở lại viện dưỡng lão hẻo lánh này, cho dù đã nhiều lần anh ta khuyên cha nên chuyển sang một viện dưỡng lão điều kiện tốt hơn, gần thành phố hơn, nhưng ông vẫn nhất định không đồng ý.

Tới trước cửa viện dưỡng lão, Stephen nắm chặt tay Fanny, Stephen cảm nhận được sự ấm áp của Fanny. Từ nhỏ không có người thân, hai cha con anh ta dựa vào nhau mà sống, nhưng sau khi lên trung học, cha đã gửi anh ta tới trường nội trú rồi nhất quyết dọn tới sống trong viện dưỡng lão ở vùng ngoại ô này. Stephen không hiểu ý định của cha, thậm chí còn từng oán hận ông. Có một thời gian dài, Stephen chìm trong nỗi cô đơn, mãi cho tới khi Fanny xuất hiện, trái tim băng giá của Stephen mới cảm nhận được chút nắng ấm hiếm hoi.

Cha và Fanny là người thân duy nhất của Stephen trên cõi đời này, giờ tin cha sắp ra đi đã khiến lòng anh ta không khỏi đau buồn. Trong lúc nghĩ ngợi, anh ta đã tới trước cửa phòng 202 của viện dưỡng lão Saint George ven hồ. Đúng lúc này, một y tá đang hấp tấp chạy từ trong phòng ra, cửa phòng 202 khép hờ, Stephen nhìn vào bên trong, chỉ thấy một ông lão mắt đang nhắm nghiền nằm trên giường, trên tay là ống truyền dịch, hình như ông lão đang thoi thóp. Stephen nhận ngay ra đó là cha mình - Mã Xướng Quốc, thật không ngờ mới không gặp nửa năm mà cha đã già như vây.

Đột nhiên, Mã Xướng Quốc mở mắt, ngồi dậy, sau đó gắng hết sức nhổ ống truyền dịch khỏi cánh tay, hét toáng lên: “Ma!... Thật đáng sợ!... Châu lục chết chóc!... Ma!...Huyết chú... Huyết chú chết tiệt!... Đừng có lại gần

ta!... Ác quỷ chết tiệt!...”, Mã Xướng Quốc gào thét như bị điên bằng thứ tiếng Anh lẫn cả tiếng Trung Quốc, khiến mấy ông lão ở phòng bên cạnh cũng phải chạy sang xem.

Stephen và Fanny vội vàng lao vào: “Cha, cha, là con, Stephen, con đến thăm cha đây!”. Stephen cố gắng hết sức để cha mình bĩnh tĩnh lại, nhưng ông như không hề quen biết anh vậy, vẫn cứ la hét điên loạn.

“Mau, xin hãy tránh ra một chút, bệnh nhân cần được cấp cứu!”, y tá và hai bác sỹ lao vào trong phòng, “Ngài, mong ngài ra ngoài một lúc, chúng tôi phải cấp cứu bệnh nhân trước đã.”

“Tôi là con trai của bệnh nhân.”

“Không! Chúng tôi không quan tâm ngài là ai, xin hãy ra ngoài đợi, chúng tôi phải cấp cứu cho bệnh nhân gấp!”, y tá kiên quyết nói.

Stephen rất không yên tâm khi bị Fanny lôi ra khỏi phòng 202. “Sao cha lại trở nên thế này?”, Stephen đau khổ vùi đầu vào lòng Fanny.

Bác sỹ, y tá bận rộn một hồi và rốt cuộc cũng kéo được Mã Xướng Quốc trở về từ bàn tay tử thần.

3

Nửa đêm, trong phòng 202 của Viện dưỡng lão Saint George ven hồ, bệnh tình của Mã Xướng Quốc đã phần nào ổn định, ông đã ngủ say. Bỗng nhiên cửa phòng 202 mở ra, hai bóng đen lẻn vào trong.

Hai bóng đen không bật đèn mà chậm rãi đi tới cạnh giường. Họ tháo kính râm ra, nhìn Mã Xướng Quốc trên giường bệnh. Ánh trăng đêm nay rất sáng, soi bóng lên mặt hai bóng đen, hai người này chính là Stephen và Fanny.

Ánh trăng cũng vương trên mặt ông lão, hai mắt ông lão nhắm nghiền, hố mắt sâu hoắm, tóc bạc trắng, những nếp nhăn kín mặt, hơi thở gấp gáp. Hai bóng đen đứng nhìn hồi lâu bên cạnh giường... đột nhiên, Mã Xướng Quốc đang nằm trên giường bỗng mở mắt, ánh mắt toát lên sự lạnh giá, uy nghiêm mà lạnh lùng, nhìn thẳng Stephen và Fanny đứng ở cạnh giường. Họ hơi sững sờ, rõ ràng là rất kinh ngạc.

“Các con đến rồi ư!”, Mã Xướng Quốc mở miệng.

Stephen ngồi xuống mép giường, nói: “Vâng, chúng con đến thăm cha.”

Mã Xướng Quốc cười khan vài tiếng: “Đây có lẽ là lần gặp cuối cùng đấy!”

“Không! Sức khỏe của cha không có vấn đề gì đâu, chúng ta có thể mời bác sỹ giỏi nhất...”, Mã Xướng Quốc ngắt lời Stephen, ông nói: “Stephen, đừng buồn. Sức khỏe của cha, cha là người rõ nhất, biết bao sóng gió cha đã từng trải qua, đối diện với cái chết, cha đã không có bất cứ sự sợ hãi nào cả, thượng đế che chở cho ta.”

Lúc này, ánh trăng đang chiếu trên mặt Stephen, hai dòng nước mắt chảy dài trên gò má hốc hác của anh ta. Mã Xướng Quốc khó nhọc khẽ trách mắng: “Stephen, đừng khóc, con phải hiểu nỗi khổ tâm của cha, bây giờ con hãy chui xuống gầm giường!”

Chui xuống gầm giường? Stephen không hiểu ý cha, anh ta nghi ngờ nhìn cha. “Dưới đó con sẽ thấy một cái hộp!”, Mã Xướng Quốc nghiêm giọng hối thúc con trai,

Ông biết rằng thời gian của mình không còn nhiều nữa.

Stephen bò xuống gầm giường. “Con nhìn dưới gầm giường đi, cái hộp đó được buộc dưới dát giường”, Mã Xướng Quốc chỉ dẫn cho con. Stephen nhìn lên dát giường, quả nhiên chỗ khuất dưới dát giường có buộc một cái túi ni lông màu đen. bên trong bọc một chiếc hộp hình chữ nhật. Stephen chầm chậm di chuyển cơ thể, rốt cuộc tay anh ta đã móc được chiếc hộp đó. Anh ta giật mạnh lớp băng dính bên ngoài, gắng sức lôi chiếc hộp ra.

Mã Xướng Quốc thấy Stephen cầm chiếc hộp trên tay, mắt ông sáng lên, toát lên ánh nhìn long lanh hiếm thấy. Stephen định bóc lóp túi ni lông bên ngoài ra nhưng Mã Xướng Quốc lại xua xua tay, nói: “Đợi tới khi con rời khỏi đây hãy bóc nó ra!”

“Bên trong này đựng gì vậy cha?”, Stephen tò mò hỏi.

Mã Xướng Quốc chau mày, khó nhọc nói khẽ: “Đợi tới khi con mở ra sẽ biết, bên trong còn có một bức thư của cha, con phải đọc kĩ. Thứ này... thứ này là vật gia truyền mà tổ tông nhà họ Mã chúng ta truyền lại, vì nó mà ông nội đã mất mạng, vì nó mà cha phải tha hương đến nước Mỹ.

Bao nhiêu năm nay người Mỹ muốn đoạt được nó, người Đài Loan không những muốn đoạt được nó, mà còn muốn diệt trừ cha. Bởi vậy cha đành phải trốn chui trốn lủi mới có thể sống sót đến ngày hôm nay. Bây giờ, cha trao nó cho con, con nhất định phải cẩn thận, bởi vì...”, Mã Xướng Quốc bỗng thở dốc, vẻ mặt vô cùng đau khổ.

Stephen vội vàng rót một cốc nước, giúp Mã Xướng Quốc uống thuốc. Sau khi Mã Xướng Quốc bình tĩnh trở lại, ông nói tiếp: “Bởi vì kể từ khi con cầm lấy chiếc hộp này, nguy hiểm sẽ từng bước lại gần con... con nhất định phải cẩn thận...”, Mã Xướng Quốc lại bắt đầu thở dốc. Stephen để ý thấy mắt cha hiện giờ không nhìn mình nữa mà thẫn thờ nhìn phía trước... đột nhiên, Mã Xướng Quốc chỉ vào bức tường trước mặt, đau khổ hét toáng lên: “Ngươi là ai?... Ma quỷ!... Châu lục chết chóc!.. Đừng lại gần ta!... Ác quỷ chết tiệt! Huyết chú chết tiệt!”. Ngay lập tức, đồng tử của Mã Xướng Quốc bỗng phóng to, Stephen cố gắng để cha bình tĩnh lại, tuy bệnh tình rất nặng nhưng ông vẫn khỏe kinh người, nên mặc cho anh cố gắng thế nào cũng không có tác dụng gì. Stephen biết rằng do cha mình bị trầm cảm quá lâu, nên lần này ông điên thật rồi.

Tiếng kêu gào của Mã Xướng Quốc đã làm những người khác bị tỉnh giấc, y tá trực ban bật đèn hành lang. Đúng giây phút Mã Xướng Quốc nhìn thấy ánh đèn thì chút ánh sáng trong mắt ông đã lụi tàn, ông nặng nhọc ngả đầu xuống gối. Mã Xướng Quốc đã về với cõi vĩnh hằng - ở đó không có ma quỷ, thượng đế sẽ che chở cho ông.

4

Mã Xướng Quốc chết rồi, bác sỹ và y tá bận rộn một hồi, mãi cho tới tận khi mặt trời mọc. Stephen ôm chiếc hộp cha để lại, thẫn thờ ngồi một mình trên ghế sô pha.

Fanny thay anh xử lý xong mọi việc, rồi nhẹ nhàng bước tới an ủi: “Stephen, đừng buồn nữa, bước tiếp theo chúng ta phải làm gì?”

“Thử xem bên trong chiếc hộp này là cái gì!”, Stephen vừa nói vừa định mở chiếc hộp mà cha để lại ình.

“Đợi đã! Cha anh đã dặn là chúng ta phải rời khỏi rồi thì mới mở chiếc hộp ra!”, Fanny nhắc nhở Stephen.

Stephen chần chừ một lúc, rồi vẫn hất tay Fanny ra:

“Cha nói rằng ông nội vì thứ này mà chết, cha cũng vì nó mà phải tha hương, trốn chui trốn lủi, anh phải xem nó là cái gì mới được!”

Stephen không nghe lời khuyên của Fanny, anh ta bóc lớp ni lông đen bên ngoài chiếc hộp ra, một chiếc hộp cổ bằng gỗ tử đàn hiện lên trước mặt Stephen. Dựa vào bao năm kinh nghiệm của mình, anh ta nhận ra ngay đây là một chiếc hộp bằng gỗ tử đàn lâu năm, và đây là lần đầu tiên anh ta nhìn thấy chiếc hộp gỗ tử đàn đẹp như vậy. Chiếc hộp đã quý giá như vậy rồi, vậy thì thứ bên trong nó... Stephen nghĩ tới đây liền vội vàng mở hộp ra, nhưng bên trong hộp vẫn còn một lớp hộp gấm, hộp gấm này được bịt kín bằng xi. Anh ta đang định bóc lớp xi đó, thì bỗng phát hiện thấy một bức thư trên nắp hộp, trên phong bì không ghi gì cả, miệng phong bì cũng không dán, rõ ràng đây là thứ mà cha để lại cho anh ta.

Đôi tay Stephen run rẩy, mở bức thư viết tay của cha ra. Trong thư không có lời dặn dò nào, mà là một đoạn lịch sử mà Mã Xướng Quốc viết lại, một đoạn lịch sử của gia tộc Mã Thị:

Con trai,

Khiỉ con đọc được bức thư này của cha thì cha đã rời xa con, rời xa thế giới này. Cha không có tài sản gì để lại cho con, chỉ có thứ trong chiếc hộp này là có thể để lại cho con, nhưng như vậy cũng đồng nghĩa với việc đưa cho con nguy hiểm lớn nhất. Cha đã do dự rất lâu rồi, từng muốn vĩnh viễn tiêu hủy chiếc hộp này, nhưng rốt cuộc cũng không hạ được quvết tâm làm điều đó.

Thứ trong hộp là vật gia truyền của tổ tông nhà họ Mã chúng ta truyền lại. Ông nội con vì nó mà mất đi sinh mạng. Cha vì nó mà phải tha hương đến nước Mỹ, trốn chui trốn lủi mấy chục năm ; lúc con còn nhỏ đã phải gửi con tới trường nội trú, một mình rời bỏ con, mai danh ẩn tích, trốn trong viện dưỡng lão hẻo lánh này, cũng đều bởi cái thứ này.

Nói tới vật này thì phải bắt đầu kể từ ông nội con. Stephen, từ trước tới nay cha chưa từng nhắc về ông nội với con, nên giờ đã là lúc nói với con rồi. Ông nội của con tên là Mã Viễn, người Ninh Hạ, Vốn là một trí thức. Nhưng sinh ra trong thời buổi loạn lạc, quân, phiệt hỗn chiến, thiên tai nhân họa, dân thường còn khó sống chứ đừng nói gì tới việc thành danh, bởi ngay đến cả việc no ấm còn không làm được. Một lần, ông nội con bỏ đi mưu sinh đã m bị bọn cướp bắt đi, đưa đến một nơi gọi là núi Mã Tung. Bọn cướp thấy ông nội biết chữ nghĩa, lại có nhiều kế sách, nên đã thu nhận ông. Vậy là ông nội đã bị bắt ép trở thành thổ phỉ từ đó.

Sau này, ông nội con nắm rõ được chân tướmg của bọn cướp, tên cầm đầu đám thổ phỉ chỉnh là Hắc Lạt ma danh tiếng chấn động vùng tay bắc Trung Quốc thời đó.

Chúng cướp bóc của những thương nhân qua lại, giết người cướp hàng, không tội ác nào là chúng không dám làm. Do ông nội con có văn hóa, có đầu óc nên dần dần cũng có chút uy trong đám thổ phỉ đó. Hắc Lạt ma có chuyện gì cũng thường tìm ông thương lượng. Dần dần,

ông nội con đã trở thành một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong đội quân của Hắc Lạt ma.

Một lần, Hắc Lạt ma đến cướp một quán trọ gần Đôn Hoàng. Tại đó, có một gã chuyên buôn bán văn vật đào trộm. Trong hành lý của người này, hắn đã lục ra được một báu vật, đó chính là thứ trong chiếc hộp gấm. Theo như người đó kể lại, thì ông ta đã từng tham gia trong đội thám hiểm của nhà thám hiểm người Nga Kozlov, đào trộm cổ vật của Hắc Thủy Thành. Báu vật này được phát hiện trong một hang đá thuộc hang Mạc Cao Đôn Hoàng, và ông ta đã kể cho hội của ông nội về bí mật của báu vật đó (cha đã nghĩ đi nghĩ lại cuối cùng vẫn quyết định rằng sẽ không nói cho con nghe bí mật đó, bởi vì chỉ cần con biết về nó thì nó sẽ mang lại hoạn nạn cho con. Mong con hãy hiểu cho sự khổ tâm của cha)...

Sau khi ông nội và Hắc Lạt ma biết được bí mật đằng sau báu vật này thì đã nảy dã tâm muốn hóa giải bí mật đó, để đoạt được kho báu khổng lồ. Sau này, Mông Cô và đặc công Liên Xô đã đột kích núi Mã Tung, để nhằm tiêu diệt Hắc Lạt ma. Trong lúc cấp bách, ông nội con đã giúp Hắc Lạt ma thoát thân. Họ chỉ còn lại vài người, chạy thẳng tới núi Hạ Lan. Sau này, những người còn lại đó đều bất mãn với Hắc Lạt ma, vậy là, ông nội con cùng những người khác sau khi đoạt được kho báu và báu vật này của Hắc Lạt Ma, đã giết chết ông ta tại núi Hạ Lan.

Sau khi Hắc Lạt ma chết, ông nội đã dẫn theo vài người anh em trà trộn vào đội quân phiệt của Mã Hồng Quỳ; sau này ông nội lại gia nhập quân đội, đơn vị đó chính là Cục bảo mật sau này. Tuy ông nội con từ thổ phỉ trở thành sỹ quan của Cục bảo mật, nhưng ông vẫn luôn lưu luyến không quên bí mật đằng sau báu vật đó. Dấu chân ông đã in khắp các địa phương vùng tây bắc. Cuối cùng, ông nội đã dẫn theo cha - lúc đó mới ngoài 20 tuổi, và hai huynh đệ nữa tới một nơi gọi là Thất sắc cẩm Hải. Ông nội con cùng một người huynh đệ đã chết trong hang động đáng sợ đó, không bao giờ quay trở lại, còn cha đã may mắn thoát chết.

Sau này cha cũng làm việc trong Cục bảo mật, và không hiểu tại sao, cha cũng giống hệt ông nội con, trong lòng luôn nhen nhóm ý nghĩ phải hóa giải được bí mật của báu vật đó. Khi chính phủ Quốc dân thua trận chạy sang Đài Loan, cha đã tình nguyện ở lại, mai danh ẩn tích bí mật tìm kiếm khắp dải tây bắc. Mãi cho tới sau này, khi xảy ra một chuyện đáng sợ, cha mới từ bỏ ý định hóa giải hí mật của báu vật đó, mà chỉ lo thoát thân. Cha đã đi tới cao nguyên Thanh Tạng, vượt qua dãy Himalaya, tới Ấn nộ, ngồi thuyền trôi dạt hơn nửa tháng trên biến mới đến được nước Mỹ. Và như vậy cha đã mai danh ẩn tích, trốn chui trốn lủi, tránh được biết bao hoạn nạn, sống sót đến ngày hôm nay.

Viết tới đây cha đã không còn sức nữa rồi. Stephen, con nhất định phải nhớ lời cảnh cáo của cha. Sau khi con có được vật này, thì nhất định không được có ý định đi hóa giải những bí mật trên đó, con phải cất giữ nó cẩn thận, vĩnh viễn không bao giờ để ai trông thấy.

Còn một việc nữa, mấy hôm trước cha để các con tới Bắc Kinh tham gia buổi đấu giá, đó là một sai lầm lớn, các con nhất định phải cẩn thận, hi vọng sự bồng bột nhất thời của cha không tới nỗi hại các con!

Mã Xướng Quốc tuyệt bút.

5

Đọc xong bức thư của cha, Stephen nhòa nước mắt. Fanny thấy bên ngoài đã sáng trưng, người đi lại trong hành lang cũng đông dần lên, nên vội vàng khuyên Stephen: “Chúng ta hãy mong chóng rời khỏi đây thôi!”

Stephen định thần lại, cảnh giác nhìn xung quanh rồi lại tới hành lang quan sát một hồi, sau đó mới quay lại phòng, nói: “Fanny, quả thật không nên ở lại đây lâu, không biết chừng ở đây đã bị FBI theo dõi rồi cũng nên. Nhất cử nhất động của chúng ta cũng sẽ thu hút họ, chúng ta phải mang chiếc hộp mau chóng rời khỏi đây thôi!”

“Đúng vậy, Stephen, lần này từ Trung Quốc trở về em luôn có linh cảm không ổn, hình như lúc nào xung quanh cũng có đôi mắt đang theo dõi chúng ta.”

Stephen eật đầu, vậy là anh ta mở chiếc túi xách luôn mang theo bên mình ra, bắt đầu biến đổi bộ dạng một cách điệu nghệ...

Stephen cải trang thành một ông lão ngồi xe lăn, còn Fanny lại biến thành một nữ y tá mặc đồng phục. Fanny đẩy Stephen ra ngoài, xuyên qua dãy hành lang hun hút, mọi việc đều rất bình thường. Nhưng trong phòng khách tại tầng một của viện dưỡng lão, thân hình gợi cảm của Fanny và chiếc nhẫn màu xanh có hình thù độc đáo trên ngón tay cái của cô, đã khiến họ bị bại lộ.

Stephen cảm thấy xung quanh có vô số những con mắt đang nhìn họ, khiến anh ta có cảm giác khó thở, muốn nhanh chóng rời khỏi đây. ôm chặt chiếc hộp vào lòng, đây là di vật duy nhất mà cha để lại, anh ta không biết những đôi mắt xung quanh đang nhìn mình hay là nhìn chiếc hộp đang ôm trong lòng. Anh ta bỗng nhớ tới lời cảnh báo của cha trước khi lâm chung: khi con có được báu vật đó thì nguy hiểm cũng từng bước lại gần con hơn.

Stephen khẽ ho vài tiếng, Fanny hiểu ý, bước thật nhanh, đẩy chiếc xe lăn càng nhanh hơn, bước chân của Fanny càng loạn nhịp. Stephen ngồi trên xe lăn, mắt nhắm hờ, nhìn trông thật uể oải, nhưng anh ta đang chăm chú theo dõi nhất cử nhất động xung quanh, Tốc độ của Fanny rõ ràng khiến cho những cặp mắt trong phòng khách đều có chút bất ổn. Stephen cảm nhận thấy nguy hiểm đang lừng bước từng bước lại gần mình. Khi Fanny đẩy xe lăn ra khỏi phòng khách thì Stephen đã có thể chắc chắn rằng họ đã bị theo dõi. Quyết định không chờ đợi nữa, anh ta đứng bật dậy khỏi xe lăn, kéo Fanny chạy về phía bãi đỗ xe.

Hành động của Stephen và Fanny rõ ràng đã khiến những cặp mắt đó bất ngờ, trước cửa viện dưỡng lão bỗng trở nên ồn ào. Khi Stephen và Fanny leo lên chiếc Ferrari, lái ra khỏi bãi đồ xe, thì hai chiếc Cherokee màu xám mới đuổi tới.

Đúng lúc Stephen cho rằng có thể bỏ xa được chiếc Cherokee thì cảnh tượng khiến anh không ngờ đã xảy ra, không biết một chiếc trực thăng Kiowa OH-58D dũng mãnh từ lúc nào đã cất cánh bay lên. Stephen trong lòng hoảng loạn, nhìn lại phía sau thì hai chiếc Cherokee cũng đang đuổi theo.

6

Chẳng mấy chốc chiếc Ferrari màu đỏ của Stephen và Fanny đã lái tới đường Interstate, họ lao như điên về hướng tây, muốn cắt đuôi chiếc Cherokee phía sau. Nhưng mọi nỗ lực của họ đều vô ích, hai chiếc Cherokee phía sau dã bám sát, bất luận Stephen cố gắng thế nào cũng không sao cắt đuôi được chúng. Khi họ đi qua một cây cầu, vài viên cảnh sát tuần tra đang nghỉ ngơi ven đường đã sững sờ khi nhìn cảnh tượng này, rồi rốt cuộc hai chiếc xe cảnh sát cũng tham gia vào cuộc truy đuổi. Lúc đó còi xe cảnh sát hú vang trên đường, còn trên không trung, chiếc trực thăng Kiowa OH-58D đã mấy lần lao về phía chiếc Ferrari màu đỏ, thậm chí còn bay lơ lửng trên không trung rất gần nóc xe họ.

Stephen và Fanny ngẩng đầu lên nhìn, họ còn nhìn rõ một gã vạm vỡ tay cầm khẩu đột kích M-4. Stephen chau mày, tức tối nói với Fanny: “Bọn chúng đã thích chơi thì chúng ta sẽ chơi với bọn chúng đến cùng.”

Fanny gật gật đầu, quay người lấy từ trong túi ra một khẩu súng máy Kalike M950 loại 9 ly, giương súng bắn về phía chiếc trực thăng trên không trung. Người trên đó bất ngờ không kịp đề phòng, “Tạch! Tạch! Tạch!”, một loạt đạn bắn vào bụng chiếc trực thăng mỏng dính, làm thủng mấy cái lỗ trên đó. Chiếc trực thăng lắc mạnh một cái, không dám chiến đấu tiếp, tức tốc rút lui. Chiếc trực thăng vừa thoát được lập tức bắn trả, Stephen tăng tốc tới mức cao nhất, đánh võng qua lại trên đường, né được hết làn đạn này tới làn đạn khác của khẩu đột kích M-4.

“Phải nghĩ cách để cắt đuôi bọn chúng!”, Fanny hét lên với Stephen.

Stephen chau mày, im lặng không nói năng gì, anh ta đang nghĩ mọi cách để cắt đuôi được đám quân đuổi theo. Đột nhiên, anh ta phát hiện thấy ven đường trước mặt có một ngã rẽ, ngã rẽ này dẫn tới một rừng cây rậm rạp. Nhìn tới đây, Stephen đã quyết định. “Ngồi chắc!”, Stephen dặn

dò Fanny xong thì cũng đã tới ngã rẽ. Stephen liền đánh

mạnh vô lăng một cái, chiếc Ferrari màu đỏ đã lao vào ngã

rẽ. Hai chiếc Cherokee đeo bám phía sau không ngờ

Stephen lại dở chiêu này nên cũng cuống quýt đánh tay lái rẽ vào trong đó. Nhưng tới khi xe cảnh sát đuổi tới thì

chiếc Ferrari và hai chiếc Cherokee đã mất hút.

Trong rừng cây rậm rạp, chẳng mấy chốc đã tới cuối đường.“Shit!” Stephen đánh mạnh vô lăng chửi rủa, anh ta không ngờ đây lại là một đường cụt. Hóa ra Stephen hy vọng mượn cánh rừng này để thoát khỏi đám quân truy đuổi và chiếc trực thăng trên không, nhưng không ngờ lại để mình rơi vào chỗ chết. Anh ta đã nghe thấy tiếng chiếc Cherokee ở đằng sau, không còn cách nào khác, Stephen đành khoác chiếc túi có đựng chiếc hộp thần bí, kéo Fanny nhảy xuống xe, lao thẳng vào trong rừng rậm.

Hai người lao điên cuồng không phương hướng trong rừng cả vài trăm mét mà không cắt đuôi được đám người truy đuổi phía sau. “Tạch! Tạch! Tạch!”, phía sau vang lên một loạt súng, Stephen theo phản xạ rút súng bắn trả. Hai bên vừa chạy vừa bắn nhau, vừa đánh vừa rút. Dù sao thì đám quân truy sát cũng đông hơn, thế lực mạnh hơn, nên chẳng mấy chốc bọn Stephen đã bắn hết đạn. Stephen và Fanny quẳng súng, tiếp tục chạy thục mạng về phía trước.

Đúng lúc cả hai sức cùng lực kiệt thì một con sông lớn xuất hiện trước mặt họ, chặn ngang đường đi.

Stephen và Fanny thở dốc, nhìn nhìn dòng sông trước mặt rồi lại quay lại nhìn đám người đang ép sát, “Xem ra đây chính là nơi con chôn xác rồi! Cha, tha lỗi cho con bất hiếu, không thể giữ được báu vật gia truyền của họ Mã chúng ta!”, Stephen lẩm bẩm.

Fanny biết rằng tuy Stephen lớn lên ở Mỹ, tên cũng đặt theo tiếng nước ngoài, nhưng anh ta bị ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng truyền thống Trung Quốc, cô hoàn toàn có thể hiểu được tình cảm của anh ta dành cho cha. Fanny an ủi Stephen: “Biết đâu chúng ta có thể bơi qua được dòng sông này...’’.Stephen cố gắng hồi phục lại sự tỉnh táo của lý trí, anh ta quan sát mặt sông, đoạn mặt sông này tuy rộng nhưng lại rất phẳng lặng: “Có khi... có khi bơi qua được thật?”

Bản năng mưu cầu sự sống đã khiến Stephen và Fanny không còn thời gian để nghĩ ngợi lâu, hai người thu hết can đảm, từ từ bước xuống nước... khi họ bơi tới giữa sông thì đám người truy đuổi cũng đã tới, bảy tám khẩu súng ngắn cùng bắn xuống mặt nước. Stephen và Fanny đã bơi khá xa, làn mưa đạn khiến mặt nước bắn tung tóe nhưng không làm họ bị thương.

Mọi thứ vẫn không hề thuận lợi, khi Stephen và Fanny bơi qua sông, đúng lúc họ tưởng rằng đã thoát hiểm thành công thì bên tai lại vang lên tiếng động cơ trực thăng ầm ầm. Hai người vừa nhô đầu lên khỏi mặt nước thì vài họng súng đen sì sì đã nhắm thẳng về phía họ...

Tốn bao công sức, Stephen và Fanny rốt cuộc cũng không thoát khỏi được sự truy bắt của đám người đó. Hai người mệt mỏi rã rời nằm vật ra bờ sông, Stephen thở hổn hển, nhìn nhìn đám truy binh bí ẩn này, tuyệt vọng gào lên:

“Các người là ai, tại sao lại bắt tôi?’

Một gã đeo kính râm, giống như tên đứng đầu đám người này cười nhạt, nói với Stephen: “Tại sao phải bắt anh ư? Bởi vì Tướng quân muốn gặp anh!”

“Tướng quân? Tôi chẳng quen biết Tướng quân nào hết!”, trong đầu Stephen lập tức lục soát tìm cái người được gọi là “Tướng quân” xem đó là ai, nhưng quả thực anh ta không nghĩ ra được là trước đây mình đã từng quen biết Tướng quân nào.

Người đó không trả lời câu hỏi của Stephen mà nói tiếp: “Tướng quân vì muốn gặp anh, dĩ nhiên là còn cả cha anh nữa, mà phải chờ đợi quá lâu, quá lâu rồi. Cha anh xảo quyệt quá, ông đã khiến chúng tôi tốn bao nhiêu thời gian; nhưng cha anh có xảo quyệt thế chứ xảo quyệt nữa cũng không thoát khỏi được tay chúng tôi đâu. Được rồi, những gì anh muốn biết thì hãy đi hỏi Tướng quân đi!”

Nói xong những lời này, gã đó không nói thêm gì nữa, Stephen và Fanny bị áp giải lên trực thăng. Chiếc trực thăng từ từ cất cánh bay lên khỏi khu rừng, lồi chẳng mấy chốc đã mất hút...

7

“Hóa ra anh là hậu duệ của Mã Viễn!”, nghe xong hồi ức của Stephen, Đường Phong kinh ngạc thốt lên.

“Thảo nào cánh cổng trước tiền điện lại không còn nữa, chắc là đã bị Hắc Lạt ma và hội Mã Viễn dỡ bỏ từ thời Dân quốc!”, Makarov nói.

“Còn cả hài cốt trong cánh cổng bằng đồng bọc vàng ở trung điện nữa, nếu như vậy thì chắc chắn đó là Hắc Lạt ma!”, Hàn Giang không thể tưởng tượng nổi những người đó đã kẹp sống Hắc Lạt ma trong cánh cổng đó thế nào.

“Stephen, như anh nói thì gia tộc anh đã cất giữ kệ tranh ngọc của Đôn Hoàng?”, Đường Phong hỏi.

“Đúng vậy, bốn... bốn kệ tranh ngọc, tại bốn vị trí khác nhau của Tây Hạ. Tấm thứ nhất tại phía bắc Hắc Thủy Thành - bị đội thám hiểm của Kozlov đem tới Saint Petersburg, kệ tranh ngọc... ở phía tây Đôn Hoàng nằm trong tay gia tộc họ Mã chúng tôi, kệ tranh ngọc ở phía nam tuyết sơn A Ni Mã Khanh bị... bị các anh đoạt mất, hiện giờ... hiện giờ chỉ còn lại kệ tranh ngọc phía đông núi Hạ…Hạ Lan này”, Stephen chậm rãi nói.

“Các anh không phát hiện thấy kệ tranh ngọc ở núi Hạ Lan sao?”, Đường Phong quan tâm hỏi.

Stephen khó nhọc lắc đầu: “Tôi vẫn… vẫn chưa biết kệ tranh ngọc đó giấu ở đâu, nhưng chắc… chắc là trong vùng này thôi.”

“Chúng tôi đã tìm khắp chùa Hắc Thứu, kho báu của Hắc Lạt Ma cũng tìm thấy rồi, nhưng vẫn chưa thấy kệ tranh ngọc!”, Đường Phong mệt mỏi nói.

“Có thể... có thể kệ tranh ngọc đó ở bên ngoài cổng vòm...”, Stephen khó nhọc chỉ chỉ vào cánh cổng vòm.

Đường Phong lại đẩy cánh cổng, nó vẫn kiên cố như cũ, không hề xê dịch.

“Đừng đẩy nữa, bên ngoài chắc chắn bị ai đó... bịt lại rồi!”, Stephen thều thào nói.

Hàn Giang ra hiệu cho Đường Phong quay lại, sau đó lại hỏi Stephen: “Từ những gì anh kể lại ban nãy, thì gia tộc họ Mã các anh không phải cùng một hội với Tướng quân, vậy sau đó tại sao anh lại cấu kết với Tướng quân?”

Cơ thể Stephen lại rung lên bần bật, trầm ngâm một hồi anh ta mới chậm rãi nói: “Đó... đó đều là bị ép buộc.”

Khi Stephen và Fanny được bỏ khăn bịt mặt ra, họ đã ở trong một hoang mạc cách xa hàng trăm ki lô mét. Stephen âm thầm suy nghĩ trong lòng: Đây là bọn nào?

Xem ra trông giống đặc công của cục điều tra liên bang, lẽ nào họ tóm hai đứa mình vì tội buôn lậu văn vật? Anh ta bồn chồn lo lắng chờ đợi sự an bài của số phận. Nhưng ở đây. anh ta và Fanny đã không chờ đợi được sự an bài của số phận, mà sau một ngày một đêm bị giam, họ lại bị chụp kín đầu, áp giải lên máy bay.

“Đây không phải là trực thăng, là một chiếc máy bay cố định, một máy bay chở khách 60 chỗ ngồi, do công ty Bombardier sản xuất. Nhưng chiếc máy bay này đã được cải tạo, hiện giờ là một máy bay cá nhân”, tuy bị chụp kín đầu nhưng dựa vào bao năm kinh nghiệm xông pha khắp nơi, anh ta đã đoán ngay ra môi trường mà mình đang ở trong đó.

“Lần này họ lại đưa chúng ta đi đâu vậy?”, Fanny khẽ hỏi Stephen. I 439

“Không biết, có lẽ là tới gặp cái người mà chúng gọi là Tướng quân!”, Stephen đáp.

Stephen vừa dứt lời, tên phụ trách áp giải họ liền lớn tiếng quát mắng: “Không được nói chuyện!”

Stephen nghe thấy vậy, giật mình, hỏi lại người đó: “Các anh và đám người hôm qua bắt bọn tôi không phải là một hội sao?”

“Sao anh biết vậy?”, Fanny hỏi lại.

“Đám người đó hơn nửa là đặc công liên bang, còn đám người này anh không biết, anh không thể đoán được.”

“Tách bọn chúng ra, bịt miệng chúng lại!”, gã cầm đầu gầm lên. Stephen bị lấy băng dính dán kín miệng, Fanny cũng bị tách khỏi, nhưng anh ta vẫn cố gắng hết sức để nhận biết, phán đoán. Bọn này là bọn nào? Chúng muốn đem mình đi đâu?

Máy bay đã bay ít nhất là năm tiếng đồng hồ, lòng Stephen càng lúc càng mơ hồ. Năm tiếng đồng hồ, đây hoàn toàn có thể rời khỏi nước Mỹ rồi. Máy bay vẫn bay trong không trung, Stephen không thể phán đoán được đường bay, anh cảm thấy một sự ức chế và căng thẳng mà từ trước tới nay mình chưa từng trải qua...

8

Sau khoảng sáu tiếng đồng hồ, cuối cùng máy bay cũng hạ cánh. Khi máy bay dừng hẳn lại trên đường băng, Stephen và Fanny bị áp tải xuống. Vừa xuống máy bay, Stephen đã cảm nhận được một hơi nóng hầm hập vây quanh mình, và ánh nắng chói chang thiêu đốt cơ thể. Anh ta tức tốc phán đoán, lần này chắc là đã tới một khu vực nhiệt đới nào đó, là đảo Caribê hay là nam Thái Bình Dương?

Stephen và Fanny lại bị tháo mũ chụp đầu lần nữa, hai người họ phát hiện ra mình đang đứng giữa một căn phòng màu đen rất rộng.ở đây mát lạnh, tương phản hoàn toàn với sức nóng hầm hập như thiêu như đốt của mặt trời ngoài kia. Rõ ràng Fanny nhất thời không thể thích ứng được với sự tương phản này, nên đã hắt xì hơi liền ba cái.

Khi cô hắt xì hơi xong cái thứ ba, thì đèn trên đỉnh đầu họ cũng bật sáng, nhưng chiếc đèn này chỉ đủ để chiếu sáng nơi mà họ đang đứng, còn những chỗ khác trong phòng vẫn tối đen. Sự tò mò mãnh liệt đã thôi thúc họ bước thêm vài bước, tiến lên phía trước. Nhưng đúng lúc này, trong bóng tối của căn phòng bỗng vang lên một giọng nói khàn đặc già cỗi: “Chào mừng các bạn tới đây!”

Giọng nói khủng khiếp đột ngột vang lên, đã khiến hai người dừng lại. Stephen cố gắng thông qua giọng nói này để phán đoán những tin tức có giá trị, nhưng anh ta chẳng có được bất cứ thông tin có giá trị nào. Người này nói tiếng Anh, giọng Anh Mỹ chuẩn, không có bất cứ khẩu âm nào. Mãi lâu sau, Stephen mới thu hết can đảm hỏi:

“Đây là đâu? Ông là ai? Tại sao lại đưa chúng tôi tới đây?”

Giọng nói đó lại cất lên: “Stephen, cậu hỏi nhiều quá. Cậu không cần biết đây là đâu, tôi là ai cậu cũng không cần biết. Hai người có thể gọi tôi là ‘Tướng quân’!

Tôi thích cách xưng hô này! Còn tại sao tôi lại đưa hai người tới đây thì cậu sẽ biết ngay thôi!”

“Tướng quân ư? Sao ông lại biết tên tôi?”, Stephen ngạc nhiên hỏi.

“Khà khà, dĩ nhiên là tôi biết tên cậu rồi, tôi còn biết cô gái xinh đẹp này tên là Fanny. Hai người không phải ngạc nhiên, việc hành nghề buôn lậu đồ mỹ nghệ quốc tế đã khiến cho danh tiếng cả hai nổi như cồn, không chỉ trong nghề, mà còn trong tầm ngắm của cả tổ chức hình sự quốc tế và rất nhiều đơn vị cảnh sát các quốc gia. Theo như tôi biết, thì hai người làm ăn rất lớn, tích lũy được số tiền đáng kể, nhưng hai người đã bỏ qua sự tồn tại của nguy hiểm.”

“Nguy hiểm? Ý ông là cảnh sát?”

“Đúng vậy, nếu như không phải ta mời hai người tới đây thì e rằng nửa đời còn lại của cả hai sẽ trải qua trong tù đấy!”, Tướng quân nói xong liền cười nhạt.

“Nói như vậy nghĩa là ông bắt cóc tôi tới đây thì tôi còn phải cảm tạ ông nữa phải không?”, Stephen miệt thị hỏi lại.

“Không sai! Cậu có thể cho rằng như vậy. Ta còn phải đính chính một chỗ ban nấy cậu nói sai, không phải ta bắt cóc hai người tới đây mà là mời! Mời hai người tới đây!”, Tướng quân nhấn mạnh bằng giọng Ồm Ồm.

“Được thôi! Cứ cho là ‘mời’ đi! Vậy ông mời bọn tôi tới đây rốt cuôc để làm gì vây?”

“Hợp tác! Đương nhiên cậu có thể hiểu rằng đó là làm việc cho tôi!”, Tướng quân đặc biệt nhấn mạnh.

“Hợp tác? Nhưng đến các ông là ai tôi cũng không biết thì hợp tác nỗi gì?”, Stephen hỏi.

“Các cậu sẽ biết ngay thôi, bây giờ hãy để ta xem qua bức thư cuối cùng mà cha cậu để lại cho cậu đã!”, nói xong, Stephen trông thấy bên cạnh bóng đen trong bóng tối, trên tay một chiếc ghế dài có đặt một chiếc hộp bằng gỗ tử đàn.

Anh ta nhận ra đó chính là chiếc hộp mà cha để lại ình trước lúc lâm chung. Rồi một cánh tay đeo găng tay đen trong bóng tối thò ra, vớ lấy chiếc hộp tử đàn, lôi nó vào trong bóng tối.

Stephen nghe thấy tiếng mở hộp, tiếng mở giấy.

Tướng quân đang đọc thư, nhưng trong bóng tối ông ta đọc thư thế nào nhỉ? Stephen nhìn nhìn Fanny, Fanny cũng nhìn anh lắc đầu.

Trong phòng tối, căn phòng yên tĩnh tới mức có thể nghe thấy tiếng thở của mỗi người. Stephen nghe thấy tiếng thở của mình, nghe thấy tiếng thở căng thẳng và có phần dồn dập của Fanny, nhưng lại không nghe thấy tiếng thở của người đó. Tướng quân có còn trong căn phòng này không?

Mãi một lúc sau, rốt cuộc giọng nói Ồm Ồm của Tướng quân lại vang lên trong bóng tối: “Cha cậu thực sự chết không nhắm mắt sao?”

“Đúng vậy! Cha tôi vừa chết thì báu vật nhà họ Mã chúng tôi đã bị các ông cướp mất, nên dĩ nhiên là cha tôi chết không nhắm mắt được rồi!”, giọng Stephen chùng xuống.

“Không! Cậu vẫn chưa hiểu ý của cha cậu, cha cậu không phải vì chuyện này mà chết không nhắm mắt!”

“Vậy vì cái gì?”, Stephen trở nên kích động.

“Không phải vội vã, Stephen! Ta hỏi cậu trước, cậu có biết trong hộp này đựng thứ gì không?”, Tướng quân lại hỏi.

“Không! Không biết, tôi chưa từng mở nó ra, cha chỉ nói với tôi rằng đó là một báu vật”

“Đúng! Một báu vật vô cùng quý giá, một báu vật đến từ vương triều Tây Hạ Trung Quốc - kệ tranh ngọc nổi gân cổ chạm châu báu!”, Tướng quân nói thẳng ra tên của báu vật trong hộp.

“Sao cơ? Kệ tranh ngọc! Mấy hôm trước tôi đã từng trông thấy nó trong một cuộc bán đấu giá tại Bắc Kinh, cuối cùng thì nó đã được một ông lão mua với giá tiền tỷ. Sao nó… nó lại xuất hiện chỗ cha tôi được? Không! Không thể có chuyện đó!”, Stephen không sao tin được những điều này.

“Chẳng có gì là không thể, kệ tranh ngọc nhà họ Mã các cậu không phải là cái mà cậu trông thấy trong cuộc đấu giá!”

“Sao cơ? Tướng quân, ông cũng tham gia cuộc bán đấu giá đó?!”, Stephen cảm thấy kinh lígạc.

“Không! Không đâu! Ta nói thật cho cậu biết nhé, kệ tranh ngọc không chỉ có một tấm đâu, nó tổng cộng có tất cả bốn tấm, cha cậu nắm giữ một tấm trong tay. Bốn kệ tranh ngọc này cất giữ một bí mật kinh thiên động địa về kho báu của vương triều Tây Hạ! Ta hy vọng có thể hợp tác với cậu, đoạt được khối tài sản khổng lồ của nước kẻ thù!”, rốt cuộc Tướng quân đã nói ra mục đích thật sự của mình.

Stephen vẫn chưa hiểu ra ngọn ngành. Anh ta và Fanny tới cuộc bán đấu giá để đấu giá kệ tranh ngọc là chủ ý của cha, còn anh ta không hề biết gì về báu vật đó, ít nhất là cho tới trước khi gặp Tướng quân.

Stephen suy ngẫm một lúc, mới hỏi lại Tướng quân:

“Tôi muốn biết rốt cuộc mọi chuyện là thế nào?”

“Mọi chuyện?”, Tướng quân cười, giọng cười của ông ta khiến Stephen nổi da gà. Cười xong, Tướng quân mới nói: “Stephen, mọi chuyện là rất rất nhiều chuyện, mấy đời gia tộc, mấy thế hệ, thậm chí là cả ân oán tình thù của một vương triều, làm sao mà nói hết được.”

“Được rồi, vậy hãy nói xem làm thế nào ông lại tìm thấy tôi?”, Stephen cố gắng để mình giữ bình tĩnh trước mặt Tướng quân.

Sau một lúc trầm ngâm ngắn ngủi, Tướng quân cất lời: “Ta không thể không thừa nhận đó là một quá trình khó khăn, ta… ta đã tìm cha cậu và đã phải tìm rất lâu.

Mấy chục năm nay ta luôn tìm kiếm cha cậu, ta gần như đã điều động tất cả quân lực của mình để đi tìm kiếm ông ấy, nhưng ông ta lại giống như bốc hơi vậy, không biến mất không sủi tăm. Ông ta quá xảo quyệt, nên vài lần ta suýt đã có thể tìm ra thì nhưng lần nào cũng vậy, cứ đến thời khắc cuối cùng thì ông ta lại mất hút khỏi tầm kiểm soát của bọn ta. Nếu không... nếu không thì ta đã không chờ đợi tới ngày hôm nay. Bao nhiêu năm qua, ta đã tốn quá nhiều quá nhiều thời gian, thậm chí nhiều lúc ta còn không khỏi nghi ngờ: hay là cha cậu không còn sống trên cõi đời này nữa? Nhưng ta lại tin ràng, ông ấy không phải là một người bình thường như bao người khác, nên tuyệt đối không thể âm thầm lặng lẽ từ bỏ cõi đời này, bởi vì ông ấy vẫn chưa cam tâm!”

“Tại sao? Tôi không nhận thấy cha tôi già yếu vậy rồi mà vẫn còn có gì không cam tâm!”, Stephen hỏi.

“Stephen, đừng nóng vội, từ từ nghe ta kể đã. Nếu như cha cậu không có gì không cam tâm, thì có lẽ hôm nay ta đã không gặp được cậu. Mấy chục năm đằng đẵng chờ đợi, rốt cuộc cơ hội này đã xuất hiện. Chính là trước đây không lâu, ta đã đoạt được một kệ tranh ngọc, vậy là ta đã lên kế hoạch một mũi tên trúng hai đích, không! Phải là một mũi tên trúng mười đích mới đúng, trong đó một đích chính là cha cậu, Mã Xướng Quốc. Quả nhiên, cha cậu mấy chục năm sau vẫn chưa cam tâm, ông ta đã cắn câu,

sai cậu tới Trung Quốc để tham gia hội chợ bán đấu giá đó. Tuy cậu không lộ diện nhưng thông qua điện thoại điều khiển người tham gia cuộc đấu giá, nhưng người của ta vẫn có thể lần mò ra cậu, nhờ thông qua cô Fanny xinh đẹp kia, sau đó lại tiếp tục lần mò ra...”, Tướng quân nói tới đây

liền cười lạnh lùng.

Lúc này thì Stephen cũng đã hiểu ra rốt cuộc tại sao mình bị bại lộ, đồng thời cũng hiểu ra ý nghĩa thật sự của câu cuối cùng trong bức thư viết tay của cha: “Mấy hôm trước cha sai các con tới Bắc Kinh tham gia cuộc bán đấu giá, đó là một sai lầm lớn.”

Giờ thì hối hận cũng đã muộn rồi, Stephen đã bắt đầu thấu hiểu nỗi khổ tâm của cha. Anh ta nghiến răng, hỏi lại Tướng quân: “Vậy giờ ông định thế nào với chúng tôi?”

Tướng quân lại cười nhạt: “Stephen, đừng hận ta. Tuy trong bức thư này cha cậu mong rằng cậu sẽ không bị cuốn vào việc tranh giành kệ tranh ngọc, nhưng đă đến nước này thì cậu nên thay đổi suy nghĩ về vấn đề này. Nghĩ mà xem, cả cuộc đời mình, cha cậu có lúc nào là không muốn hóa giải bí mật của kệ tranh ngọc? Mà còn cả ông nội cậu nữa, họ Mã nhà cậu đã hai đời vì nó mà cố gắng, thậm chí còn hiến cả mạng sống cho nó thì tại sao cậu lại phải đứt gánh giữa đường? Stephen, hãy cùng ta tìm ra bốn kệ tranh ngọc, đoạt được kho báu khổng lồ của nước thù địch đi! Nếu dựa vào sức của một mình cậu thì không thể thành công được đâu! Mà chỉ có cùng hợp tác với ta, cậu mới có thể hoàn thành được nguyện vọng bấy lâu nay của mấy đời nhà họ Mã các cậu.”

Stephen im lặng không nói, anh ta đang ngẫm nghĩ những lời nói của Tướng quân, ông ta lại nói tiếp: “Cậu nghĩ mà xem, chỉ có một kệ tranh ngọc thôi mà đã trị giá tiền tỷ như vậy rồi, vậy thì khối tài sản khổng lồ đó đáng giá bao nhiêu đây? Ta cũng không thể tưởng tượng nổi! Nhưng hiện giờ, ta có thể hứa với cậu rằng, cậu sẽ có được phần của cậu, đến lúc đó phần đời còn lại của cậu sẽ sống trong giàu sang. Cậu sẽ mãi mãi không bao giờ phải thấp thỏm, lo lắng sẽ bị cảnh sát tống vào tù bất cứ lúc nào nữa. Cậu hãy cân nhắc kĩ lời đề nghị của ta!”

“Nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao ông lại chọn tôi? Ông đã đoạt được kệ tranh ngọc của nhà họ Mã chúng tôi rồi, thì có thể bắn chết tôi cũng được!”, Stephen hỏi lại.

Trong bóng tối, Tướng quân bật cười nghe ớn lạnh. Cười xong, ông ta mới chậm rãi nói: “Stephen, những câu hỏi tại sao của cậu nhiều quá đấy, như vậy sẽ không có lợi cho sự họp tác của chúng ta đâu. Nhưng câu hỏi này ta có thể trả lời cậu. Ta chọn cậu vì có bốn lý do: thứ nhất, vì cậu là con trai của Mã Xướng Quốc...”

“Đợi đã, Tướng quân, tôi muốn biết trước đây ông và cha tôi đã từng gặp nhau chưa?”

“Có thể cho là gặp rồi!”, Tướng quân im lặng một lúc mới thốt ra câu trả lời lấp lửng này.

Stephen định hỏi tiếp tại sao, nhưng Tướng quân đã ngắt lời anh, nói tiếp: “Thứ hai, cậu được di truyền từ cha cậu, biết những nghiên cứu về văn vật, đặc biệt là những văn vật đến từ Đông phương; còn thứ ba, cậu đã từng phục vụ trong binh chủng không quân, trình độ rất ổn, hai điểm này ta đều đánh giá cao.”

“Cảm ơn đã quá khen!”, Stephen luôn hi vọng biểu hiện sự khiêm tốn, nhưng không khuất phục, trước mặt Tướng quân.

“Dĩ nhiên quan trọng nhất vẫn là điểm thứ tư, bởi vì cái nghề mà cậu đang làm! Cậu đã buôn lậu đồ mỹ nghệ quốc tế bao năm nay, nên trong phương diện này quan hệ rộng, dưới cậu có cả một đội ngũ.” “Đến cả đội ngũ dưới trướng tôi… ông cũng biết,Stephen thầm giật mình.

“Đương nhiên biết chứ. Trước khi ta quan hệ với một ai đó, ta sẽ cố gắng hết sức để tìm hiểu họ một cách toàn diện, đây là thói quen bao năm qua của ta rồi. Bởi vậy, tất cả những gì về cậu, ta đều rõ như lòng bàn tay! Đội ngũ của cậu ta cũng biết rõ, nhưng trong mắt ta thì đội ngũ của

Cậu trang bị quá nghèo nàn, trình độ huấn luyện cũng không ổn. Nếu để ta huấn luyện họ, thì bảo đảm thực lực của họ sẽ tăng lên bội phần!”, Tướng quân cười điên dại.

Cười xong, Tướng quân lại nói tiếp: “Còn nữa, vì cậu từng làm nghề này nên cậu đang bị tổ chức cảnh sát hình sự thế giới điều tra, và còn rất nhiều quốc gia muốn bắt cậu. Bởi vậy, trước lời đề nghị của ta, cậu sẽ không còn sự lựa chọn nào khác, cậu chỉ còn mỗi cách ngoan ngoãn hợp tác với ta mới mong có tương lai. Nếu không, ta chỉ cần đưa cậu tới chỗ cảnh sát, thì khả năng cậu và cô gái xinh đẹp này sẽ sống nốt quãng đời còn lại trong tù đấy!

Ta sẽ tôn trọng sự chọn lựa của cậu, nếu cậu không muốn hợp tác, vậy thì mời cậu hãy nói luôn cho ta là cậu muốn ởi nước nào để hưởng thụ quãng đời còn lại trong tù, ta sẽ làm theo đúng tâm nguyện của cậu. Cậu hãy nghĩ kĩ đi, là nước Mỹ? Hay Trung Quốc? Hay là một nước Trung Đông nào đó? Ha! Ha!”, trong bóng tối, Tướng quân bật ra tràng cười điên dại, tới nỗi Stephen và Fanny nổi cả da gà. Stephen hiểu rằng, lúc này anh ta đã không còn sự lựa chọn nào khác.
 

hoahongden12

Active Member

Stephen thầm kinh ngạc, đây là nơi nào? Giống như một căn cứ bí một, khí hậu rất nóng, cố thể đi thuyền tới. Stephen dựa vào kinh nghiệm đã hai lần tới đây mà tức tlốc đưa ra phán đoán; nhưng rốt cuộc anh la chỉ có thể đoán: đây là một hòn đảo nhiệt đới, mà vẫn không thể phán đoán được vị trí cụ thể của nó.

1

Đường Phong, Hàn Giang và Makarov nghe xong câu chuyện của Stephen thì đều vô cùng kinh ngạc. “Hóa ra cuộc bán đấu giá đó là do tên Tướng quân đó bày ra!”, Đường Phong ngạc nhiên nói.

“Như vậy thì đã có thể giải thích cho những gì mà Vương Khải làm rồi, hắn ta là người của Tướng quân, bởi vậy cái bẫy đó đã được giăng ở Hoa Bảo!”, suy nghĩ của Hàn Giang lập tức rộng mở.

“Nhưng còn thế lực của bên kia đâu? Không phải là Stephen, cũng không phải là Tướng quân, trước đây chúng ta đã từng phân tích rằng, trong cuộc bán đấu giá đó vẫn còn một thế lực khác. Tề Ninh tự sát là do phải chịu áp lực từ cả hai thế lực đó, một bên là Vương Khải đại diện cho Tướng quân, còn một bên là ai?”, Đường Phong nhanh nhạy cảm giác thấy vấn đề.

“Lẽ nào là Lương Vân Kiệt?”, câu hỏi của Đường Phong khiến tư duy vừa mới thông suốt của Hàn Giang lập tức tắc nghẽn, anh vô thức quay lại nhìn vào Makarov.

“Hàn! Cậu nhìn tôi làm gì vậy? Cậu lại nghi ngờ là chúng tôi phải không?”, Makarov kêu lên.

“Cháu không nghi ngờ bác, có lẽ chính là Lương Vân Kiệt. Lương Vân Kiệt ra giá rất cao cho Te Ninh, Te Ninh không cưỡng lại được sự hấp dẫn đó, nên đã cầm tiền của Lương Vân Kiệt, nhưng lại không sao mở miệng được với Vương Khải và Tướng quân nên đành phải tự sát!”, Hàn Giang thấy lão Mã nổi cáu nên liền vội vàng dập hỏa.

Đường Phong thấy bộ dạng Hàn Giang như vậy liền cười đau khổ: “Nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề vẫn chưa sáng tỏ, ví dụ như cái chết của Lương Vân Kiệt..

Hàn Giang được Đường Phong nhắc nhở như vậy bèn hỏi Stephen: “Đúng! Đây là một vấn đề quan trọng.

Anh đã giểt Lương Vân Kiệt phải không?”

“Không! Lương... Lương Vân Kiệt là do Tướng quân sai người giết, ông ấy nói... nói rằng Lương Vân Kiệt rất quan trọng, ông tự phái người giải quyết, bởi... bơi vậy tôi đã không tham gia”, Stephen nói.

“Trên người anh có hình xăm không?”, Makarov đột nhiên hỏi.

“Hình xăm?”, Stephen hơi sững người một chút, nhưng rõ ràng là anh ta hiểu ý Makarov rất nhanh, “Không! Không có, rất tiếc, quân của tôi đã bị bắn chết sạch tại Hồng Kông rồi!”

“Thảo nào từ Khương Trại trở đi, đối thủ của chúng tôi thực lực mạnh hơn hẳn!”, Hàn Giang nhớ lại.

“Không sai! Đó là quân của Tướng quân, quân của ông ta quả thực rất lợi hại. Còn cái hình xăm đó...”, Stephen lại chìm sâu trong hồi ức.

2

Quân lực của Stephen tại Hồng Kông hầu như đã chết gần hết; khi anh ta hồn xiêu phách lạc chạy trốn lên tàu của Tướng quân, thì được một người đàn ông cao gầy đến đón anh. Stephen nhìn gã tây trên ghế sô pha, tóc bạc xám, hố mắt sâu hoắm, đeo kính, nho nhã. Anh ta không đoán được chính xác tuổi của người này, nhưng anh ta nghĩ người này ít nhất cũng phải ngoài 50 tuổi. Nếu như đặt người đàn ône này vào bất cử trườne đại học nào của Mỹ, thì đều là một hình tượng giáo sư chuẩn mực.

Người đàn ông này cũng đang nhìn Stephen. Stephen

bị ông ta nhìn tới nỗi sởn da gà nên mở miệng trước: “Ông

chính là Tướng quân?”

Người đàn ông rất hào hiệp, cười cười: “Không! Anh không được gặp Tướng quân đâu.”

“Vậy ông là ai?”

“Anh có thể gọi tôi là giáo sư, cũng có thể gọi tôi là White!”

“White? Giáo sư? Giáo sư White!”, Stephen lục soát thông tin trong đầu về giáo sư White này.

“Tướng quân rất thất vọng về lần hành động này của chúng tôi phải không?”, Stephen cố ý ra vẻ vô tư.

Người tự xưng là White nhún vai: “Đúng là có chút thất vọng, nhưng... nhưng tất cả những điều này đều trong dự liệu cả rồi.”

“Trong dự liệu? Tướng quân biết trước lần này chúng tôi sẽ thất bại sao?”

“Đương nhiên là Tướng quân hi vọng rằng anh sẽ thành công, nhưng những thuộc hạ dưới trướng anh thì ông chẳng hi vọng gì cả”, White châm một điếu xì gà lên.

“Người của tôi đều chết hết cả rồi, hiện giờ tôi chẳng còn giá trị gì với các người nữa! Vậy các người định xử lý tôi và Fanny thế nào đây?”, Stephen cố tỏ ra bình tĩnh.

“Ngược lại hoàn toàn. Ban nãy tôi nói rồi đấy, vốn dĩ Tướng quân chẳng hi vọng gì vào đám người của anh cả, lần này người của anh chết hết rồi, như vậy lại có ích cho việc hợp tác giữa anh và chúng tôi. ít nhất, anh cũng không điên rồ ngạo mạn như trước nữa, anh sẽ phải ngoan ngoãn nghe theo sự sắp xếp của chúng tôi!”, White tự tin nói. I

Stephen đã bắt đầu hiểu ra vốn của mình đã cạn, giờ thì không còn tư cách để mặc cả với Tướng quân nữa. Từ nay, số phận của anh ta và Fanny đành phải nghe theo sự sắp xếp của ông ta. Lúc này, gã White đó lại bắt đầu mở miệng: “Stephen, tôi biết trong lòng anh đang nghĩ gì, anh không phải lo lắng. Nói thật với anh nhé, thực ra Tướng quân đánh giá anh rất cao. Anh phải biết rằng Tướng quân đã già rồi, ông rất muốn tìm một người như anh để tiếp quản.”

“Một người tiếp quản giống như tôi?”, Stephen giật thót tim.

“Không sai, Tướng quân không mong muốn đội ngũ mà ông dốc sức bồi dưỡng này, mấy trăm năm sau sẽ tan tác sụp đổ. Ông cần một người lãnh đạo trẻ tuổi, có năng lực, đầu óc vừa thông minh, lại có thể dốc hết tâm huyết phục vụ tổ chức.”

“Tổ chức? Các anh là tổ chức gì vậy?”

“Một tổ chức lâu đời, một tổ chức có lịch sử lâu đời hơn cả cục tình báo và FBI!”, nói xong, người đàn ông tên White cởi áo sơ mi của mình ra, Stephen ngạc nhiên phát hiện ra sau lưng White là một mảng hình xăm: một coi sói hoang ngửa cổ kêu hú và trên mình sói có đậu một con chim ưng.

Stephen run lên bần bật, “Đây... đây là...”, Stephen bỗng nhớ ra điều gì đó.

“Stephen, tôi nghĩ đây kliông phải là lần đầu tiên anh nhìn thấy hình xăm này, trên người cha anh cũne có hình xăm như vậy!”, White chầm rãi cài cúc áo lại.

“Chaế..”, Stephen nhớ lại lúc nhỏ cùng tắm chung với cha, phía sau lưng cha cũng có một hình xăm như vậy, chỉ có điều nhỏ hơn của White, nhỏ hơn rất nhiều.

“Sao rồi? Nhớ ra chưa?”

“ừm, nhớ ra rồi. Nhưng sao cha tôi lại cùng hội với các anh được?”, Stephen cảm thấy khó hiểu.

“Cha anh chắc chắn đã từng kể cho anh nghe câu chuyện về Hắc Lạt ma phải khône?”, White hỏi lại Stephen.

“Cha tôi đã nhắc tới người này trong bức thư trước lúc lâm chung”.

“Năm đó, để thuộc hạ tuyệt đối trung thành với mình, và cũng để tiện liên lạc, Hắc Lạt ma đã xăm lên người tất cả bọn họ hình xăm này. Thời đó không được văn minh như bây giờ, đều phải dùng dao và kim châm để khắc lên người. Nghe nói, hình xăm này bắt nguồn từ tô-tem của một bộ lạc thần bí đến từ vương triều Tây Hạ. Người trong bộ lạc đó tin rằng: nếu xăm hình này lên người trẻ sơ sinh thì sẽ khiến đứa trẻ có được sức mạnh của sói và chim ưng, sẽ mạnh mẽ, tinh nhanh, dũng cảm và không chịu khuất phục như sói và chim ưng vậy”, White giải thích.

“Bởi vậy nên trên người ông nội và cha tôi đều có hình xăm này?”, Stephen đã hiểu ra đôi chút.

“Nói tới ông nội anh, ông ấy là một người rất giỏi.

Ông đã giết chết Hắc Lạt ma và trở thành thủ lĩnh thứ hai trong tổ chức của chúng tôi, nhưng sau này ông nội anh vẫn chưa đạt được tâm nguyện, thì đã mất tích trong chuyến đi tới Xuyên Tây.”

“Không! Cha tôi kể rằng ông nội đã chết ở đó.”

“Tướng quân đọc thư cha anh viết cho anh mới biết điều đó. Sự biến mất của ông nội anh, cùng hàng loạt những sự kiện sau đó, đã khiến cho tổ chức của chúng tôi bị ảnh hưởng nặng nề, đồng loạt ngừng trệ hàng loạt hoạt động. Mãi sau này, khi Tướng quân đứng lên thì tổ chức của chúng tôi mới khôi phục lại nguyên khí như ngày hôm nay, đồng thời còn lớn mạnh hon. Tổ chức của chúng tôi đã vươn ra được rất nhiều những vùng đất khác trên thế giới, thành viên cũng thực sự được quốc tế hóa”, White nói tới đây, vẻ mặt đầy tự hào.

“Ra là như vậy!”, Stephen bắt đầu sáng tỏ hon, “Nhưng tại sao cha tôi lại phải trốn tránh các anh?”

White cười cười: “Đó là bởi ông đã hiểu lầm Tướng quân, ông lại còn sợ hãi nữa, lại nhát gan, mà quên mất lời thề năm xưa.”

“Lời thề?”

“Đúng vậy! Hiện giờ, chính anh, Stephen phải thực hiện lời thề năm đó!”, White nói xong liền đứng dậy.

“Lời thề năm xưa?!”, Stephen kinh ngạc nhìn White, sau lưng anh ta là bốn gã vạm vỡ đang tiến đến.

“Stephen, cả cô gái xinh đẹp nữa, hai người hãy đi theo họ, họ sẽ đối đãi tử tế với hai người...”, White chậm rãi nói.

“Các người định làm gì?”, Stephen kêu lên, hai gã vạm vỡ thấy Stephen không nghe lời liền kẹp lấy anh.

Hai gã còn lại thì áp giải Fanny, đưa họ tới một căn buồng kín dưới đáy tàu. Ở đây chỉ có hai chiếc giường, L * ngoài ra chẳng có gì cả. Hai gã vạm vỡ trói hai người lên hai chiếc giường rồi lui ra. Đèn trong phòng tối dần xuống, J Stephen hoảng hốt nhìn xung quanh. Anh ta không biết tiếp theo sẽ xảy ra chuyện khủng khiêp gì đây.

3

Cửa mật thất bật mở, White bước vào, ông ta ăn mặc khác hẳn ban nãy. Stephen không biểt ông này mặc trang phục gì trên người... tóm lại là một bộ trang phục kì dị mà anh ta chưa từng thấy bao giờ.

White đứng trước mặt Stephen và Fanny, hai mắt nhắm nghiền, miệng bắt đầu lẩm bẩm. Stephen cố gắng nghe xem White lẩm bẩm những gì, nhưng nghe mãi vẫn không hiểu, không phải tiếng Anh, cũng không phải tiếng Trung Quốc. Anh ta chỉ cảm thấy miệng White lắp bắp càng lúc càng nhanh, giọng điệu cũng càng lúc càng nhanh. Stephen hoảng hốt trợn trừng đôi mắt nhìn White, hình như những gì thốt ra từ miệng White không phải là ngôn ngữ mà là huyết chú đáng sợ. Stephen không chịu nổi nữa, anh ta muốn thoát khỏi sợi dây trói trên người nhưng không cựa quậy được, cho tới khi anh ta và Fanny từ từ nhắm mắt lại...

Khi Stephen tỉnh dậy, anh ta phát hiện ra mình và Fanny vần bị giam trong mật thất, tàu đang lắc mạnh, sợi

dây trói trên người đã được cởi ra. Sau một cú lắc mạnh, Stephen và Fanny đều bị lăn xuống giường. Stephen vội vàng đỡ Fanny dậy, nhưng anh ta thấy trên người Fanny không biết từ lúc nào bỗng xuất hiện một hình xăm, chính là hình vẽ đáng sợ đó.

Stephen đã hiểu ra, anh ta vội vàng kiểm tra cơ thể mình và kinh ngạc khi phát hiện ra sau lưng mình cũng xuất hiện một hình xăm lớn, hình vẽ đáng sợ đó còn to hơn rất nhiều hình vẽ trên người Fanny.

Bàn tay mềm mại của Fanny chạm lên lưng Stephen, cơ thể Stephen run rẩy. Anh ta quay ngoắt người lại, ôm lấy Fanny,thấy trong mắt cô lộ ra ánh nhìn hoảng hốt nên vội vàng an ủi: “Đừng lo, mọi thứ rồi sẽ qua thôi!” Mọi việc rồi cũng sẽ qua! Stephen và Fanny khó nhọc chịu đựng trong căn mật thất một ngày một đêm; trong khoảng thời gian đó, ngoài người ra vào đưa cơm ra thì cũng chẳng có ai đi vào.

Cuối cùng, White lại tới. “Sao rồi? Ngủ ngon chứ?”, White tươi cười.

“Không ngon!”, Stephen gào lên.

“Đừng nóng giận, khi nào chúng ta tới nơi thì chắc chắn anh sẽ thấu hiểu cho nỗi khổ tâm của chúng tôi thôi!”, White cười rồi quay lại gật đầu với hai gã vạm vỡ.

Stephen không biết White định làm gì, nhưng theo phản xạ anh ta lùi lại một bước. “Đừng lo lắng, Stephen, chúng tôi ở đây có một quy tắc nhỏ, tạm thời anh chưa được phá vỡ quy tắc này!”, White giải thích.

“Quy tắc?!”, Stephen vẫn đang kinh ngạc thì hai gã vạm vỡ đó đã bịt mắt anh ta và Fanny lại. Stephen và Fanny bị đưa lên bờ, sau đó lên một chiếc trực thăng, rồi sau khi bay được hơn chục phút thì chiêc trực thăng từ từ hạ cánh, đồ lại trên mặt đất.

Khi chân Stephen chạm lên mặt đất thì anh ta đã đoán được ra đây chính là nơi mà lần trước Tướng quân đã gặp hai người. Stephen và Fanny được gỡ bịt mắt ra, sau một lúc thích ứng, hai người họ mới nhìn rõ cảnh vật xung quanh. Ở đây là một khoảnh sân bằng phẳng nằm trọn trong quần thể núi để hạ cánh trực thăng, phía xa xa là một mặt hồ yên ả, bên hồ là một dãy nhà tọa lạc; còn phía bên kia hồ là một sân huấn luyện lớn, có đủ các chướng ngại vật, vũ khí huấn luyện, hầu như tất cả những công cụ dùng để huấn luyện lính đặc công ở đây đều có.

Stephen thầm ngạc nhiên, đây là nơi nào? Giống như một căn cứ bí mật, thời tiết rất nóng, lại phải đi tàu mới có thể tói được. Stephen đã dựa vào kinh nghiệm hai lần tới đây để nhanh chóng phán đoán, nhưng cuối cùng thì anh ta chỉ có thể đoán được rằng: đây là một hòn đảo nhiệt đới, mà vẫn không thể đoán được vị trí cụ thể của nó.

Stephen và Fanny lại bị đưa vào gian mật thất, mà lần trước họ gặp Tướng quân. Hai người căng thang nhìn vào bóng tối. Họ không thể xác định được ỏ" đó có người hay không, không biết Tướng quân đã ngồi đó rồi chằm chằm nhìn hai người hay chưa...

4

Trong mật thất, không chút động tĩnh, Stephen có thể nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch. Mãi lâu sau, trong bóng tối rốt cuộc đã vang lên giọng nói của Tướng quân, vẫn là giọng nói có chút khàn khàn già cỗi đó: “Stephen, rất vui được gặp cậu!”

Tuy đã chuẩn bị trước tâm lý, nhưng Stephen vẫn giật bắn mình. Anh ta không hề nghe thấy bất cứ tiếng bước chân, tiếng mở cửa và tiếng thở nào. Lẽ nào Tướng quân đã nấp sẵn trong bóng tối quan sát họ từ nãy?

“Không! Tôi chẳng vui vẻ gì cả. Nếu đã là hợp tác thì tại sao lại đối đãi với tôi như vậy, hình như ông không tin tôi!”, Stephen bất mãn nói.

“Stephen, cậu đa nghi quá!”, nói xong, Tướng auân cười vang, “Gần như tất cả những người tới đây đều bị bịt mắt. Cậu phải hiểu rằng, việc mà chúng ta làm là việc nguy hiểm nhất trên thế giới này, bởi vậy ta không thể không cẩn thận.”

“Nhưng trên tàu, cái gã White đó đã bắt chúng tôi gia nhập vào tổ chức của các ông, còn...”

“Stephen, cậu phải nói là ‘tổ chức của chúng ta’!” Tướng quân ngắt lời Stephen.

“Vậy chúng ta đều là người nhà rồi! Tôi nghĩ nên tin tưởng và tương trợ lẫn nhau.”

“Tin tưởng tương trợ, khà khà! Trên đời này đầy rẫy tội ác và sự lừa lọc, tin tưởng tương trợ lẫn nhau ta cũng gặp rồi, nhưng bây giờ thì không còn nhiều đâu!”

“Được thôi, tôi có thể bỏ qua cho sự thô lồ của các ông.

Vậy lần này ông mời chúng tôi tới đây lại định làm gì?”

“Vì cậu đã gia nhập với chúng ta rồi thì phải tham gia b huấn luyện cùng chúng ta”, Tướng quân dừng lại một lúc nói tiếp, “Ta nghĩ White đã nói với cậu rồi, hiện giờ ta đang chính thức tìm người kế vị. vốn dĩ ta cũng có một người kế vị, ta đã huấn luyện cho cậu ta rất nhiều năm nay, nhưng sau đó đã xảy ra biến cố. Bởi vậy, hiện giờ ta phải lựa chọn một người kế vị khác, cậu là một trong những người đó.”

“Người kế vị? Nói như vậy thì tôi vẫn còn có đối thủ cạnh tranh sao?”

“Dĩ nhiên!”, nói xong, trong bóng tối vang lên hai tiếng vỗ tay lanh lảnh.

Ngay sau đó, cánh cổng sau lưng Stephen liền mở ra,

White và một thanh niên trẻ tuổi bước vào.

“Các cậu có thể làm quen với nhau một chút!”, Tướng quân nói.

“Tôi là Tymoshenko!”, thanh niên đó đưa tay phải về phía Stephen.

Stephen và Tymoshenko lịch sự bắt tay nhau. Lúc này, Tướng quân lại nói: “Kệ tranh ngọc bán đẩu giá tại Bắc Kinh chính là nhờ công của Tymoshenko. Cậu ấy cùng chung lý tưởng với ta, hơn nữa cũng đã phục vụ cho

Tổ chức của chúng ta một thời gian dài, nhưng ta vẫn còn có điều chưa hài lòng về Tymoshenko. Tóm lại mà nói thì hai người các cậu đều có những ưu khuyết điểm riêng, bởi vậy, chọn lựa một trong hai cậu làm người kế vị vốn không phải là việc dễ dàng.”

Stephen đã hiểu ra đôi chút, sự việc đã đến nước này, anh ta bỗng cảm thấy làm theo kế hoạch mà Tướng quân vạch ra ình có lẽ là một lựa chọn khá ổn. Những ngày tháng sống trong nơp nớp lo sợ trước đây đã khiến anh ta chán ghét. Anh ta muốn đem tới cho Fanny một cuộc sống tốt và ổn định, không giống như trước đây là bắn bắn giết giết, hết ngày này qua tháng khác. Mặc cho đây có phải là tổ chức gì đi chăng nữa, với lực lượng của Tướng quân thì làm xong vụ này, có lẽ cũng có thể đủ để mình chấm dứt cuộc sống trước kia.

Ngầm đi nghĩ lại, một bức tranh tươi sáng đã dần dần mở ra trước mắt Stephen... Lúc này anb ta đã quên mất những lời cảnh tỉnh của cha, mà quyết tâm dồn hết tâm huyết phục vụ cho Tướng quân, muốn cạnh tranh vị trí người kế nhiệm với Tymoshenko.

Tướng quân khẽ ho vài tiếng, rồi nói tiếp: “Sau này đều trông vào những biểu hiện của cả hai, còn sắp xếp cụ thể thế nào White sẽ nói với các cậu sau!”, Tướns quân nói xong, bóng tối bỗng chìm trong im lặng. Stephen trông thấy Tymosheiiko và White cung kính nhìn vào bóng tối mà cảm thấy có chút nực cười, nhưng khône dám cười thành tiếng.

Vài phút sau, Stephen nghe thấy một tiếng động khe " khẽ. Mật thất lộ ra vài tia sáng, ngay sau đó, ánh sáng này l e càng lúc càng nhiều, càng lúc càng sáng, Stephen phát hiện rèm cửa sổ của mật thất đang từ từ được mở ra.

5

Tấm rèm cửa dày cộm từ từ được kéo ra, ánh nắng ấm áp rọi vào, lúc này Stephen mới nhìn rõ nơi vốn được gọi là mật thất, là một căn phòng hội nghị rộng rãiỂ

Phòng hội nghị sát cạnh hồ, phong cảnh rất đẹp, Stephen bị cảnh đẹp trước mắt lôi cuốn. Đột nhiên bên ngoài cửa sổ rền vang tiếng súng, theo phản xạ Stephen định rút súng ra, nhưng lúc này anh ta mới nhớ rằng lúc trên tàu mình đã bị tước mất súng.

White bỗng xuất hiện sau lưng Stephen, vỗ vồ vai anh ta nói: “Đừng lo, Stephen, thư giãn đi, đây chỉ là đội ngũ của chúng ta đang tập huấn thôi!”

“Tập huấn giống hệt như lính đặc chủng sao?”, xuyên qua cửa sổ, Stephen trông thấy mấy chục người mặc đồ đen đang tập luyện, có người đang tập đấu vật, có người đang tập tấn công đối kháng.

“Đúng, có những huấn luyện mà ở mức độ nào đó còn nghiêm khắc hơn cả lính đặc chủng!”, White nói.

“Sao lại phải tiến hành huấn luyện nghiêm khắc như vậy?”, Stephen không hiểu.

“Bởi vì chúng ta sắp phải đối diện với hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, đối diện với những nguy hiểm còn vượt xa cả sức tưởng tượng của chúng ta.”

“Tôi đã từng ở trong binh chủng không quân, với con mắt của tôi thì trình độ huấn luyện của các anh rất cao. Nhưng tôi vẫn không hiểu, lẽ nào những nguy hiểm mà chúng ta sắp phải đối diện còn lớn hơn cả những nguy hiểm của lính đặc chủng Mỹ sao?”

“Stephen! Hiện giờ tôi rất khó miêu tả cho anh biết những nguy hiểm mà chúng ta phải đổi diện trong vài câu nói, sau này dần dần anh sẽ hiểu!”, White dừng lại, quay người ngồi xuống, nói tiếp: “Stephen, tuy anh đã từng phục vụ trong không quân của quân đội Mỹ, nhưng đừng đem sự ngạo mạn của họ tới đây. Anh phải biết là trên đời này vẫn còn rất nhiều đội ngũ còn lợi hại hơn cả quân đội Mỹ, ví dụ như đối thủ của chúng ta.”

“Ý anh muốn nói tới những người mà tôi gặp tại Hồng Kông?”

“Đúng! Nhưng chúng chỉ là một phần của nguy hiểm mà thôi!”, White ra hiệu ọi người ngồi xuống.

Đợi mọi người ngồi xuống xong xuôi, White mở một tập tài liệu dày cộm, lấy một xấp hồ sơ trong đó ra, rồi nói với mọi người: “Tiếp theo chúng ta sẽ phải nghiên cún một chút về đối thủ của chúng ta.”

Stephen đón tập hồ sơ trong tay White. Trong tập hồ sơ này, anh ta lần lượt nhìn thấy ảnh và thông tin cơ bản I của Đường Phong, Hàn Giang, Triệu Vĩnh, giáo sư La Trung Bình, Lương Vân Kiệt, Lương Dũng Tuyền, Lương Viện, Yelena và Makarov.

“Hãy nhớ kĩ những người này! Sau này các anh không tránh được việc phải đối mặt với họ đâu!”, White nói.

Trí nhớ của Stephen rất tốt, anh ta mau chóng đọc xong những tài liệu này, nghi ngờ nói: “Nhân viên của lão K vốn không đầy đủ! Tuy Hàn Giang là người chỉ huy của lão K nhưng tại sao chỉ là K2, vậy rốt cuộc K1 là ai?”

White nhún vai: “Tôi cũng phát hiện thấy vấn đề này, nhưng chúng ta chỉ nắm được từng này tin tình báo, còn nếu các anh muốn biết nhiều hơn, thì phải dựa vào chính các anh thôi.”

“Trong hồ sơ có nhắc tới chuyện Lương Vân Kiệt và Makarov từng tham gia đội thám hiểm, tôi...”, Stephen bỗng nhớ tới “châu lục chết chóc”, “ma quỷ”... mà cha anh ta trước khi chết đã không ngừng gào thét... Lẽ nào cha cũng liên quan tới đội thám hiểm năm đó?

“Stephen, anh định nói gì vậy?”, White hỏi.

“Trước khi qua đời, cha tôi không ngừng gào thét ‘châu lục chết chóc, ma quỷ’ gì đó. Hơn nữa trong thư cha tôi đã tòng nói rằng, sau khi chính phủ Quốc dân bại trận chạy tới Đài Loan, cũng vì muốn hóa giải bí mật của kệ tranh ngọc, nên ông đã chủ động ẩn nấp tại đại lục, như vậy cũng có nghĩa là, rất có khả năng những năm 50 thế kỷ trước, cha tôi đã sinh sống tại Trung Quốc đại lục. Lẽ nào ông cũng liên quan tới dội thám hiểm Trung - Liên đó?”, Stephen nói ra những nghi vấn trong lòng.

Những gì Stephen nói đã khiến White và Tymoshenko trầm ngâm im lặng. Mãi lâu sau, Tymoshenko mới lên tiếng: “Stephen, cha anh có kể cụ thể cho anh nghe về cuộc sống của ông tại Trung Quốc đại lục những năm 50 của thế kỷ trước không?”

“Không. Ông chưa bao giờ kể cho tôi những chuyện trong quá khứ, chỉ trong bức thư trước lúc lâm chung, ông mới kể lại sơ lược về chuyện cũ mà thôi.”

“Được rồi! vấn đề này chúng ta để đỏ, sau này hãy thảo luận. Bây giờ nói chuyện trước mắt đã, Stephen, đọc xong những tài liệu về những người này, chắc là anh đã hiểu về cái gọi là nguy hiểm mà tôi nói ban nãy. Nhìn đối thủ của chúng ta mà xem, thực lực không xoàng phải không! Hơn nữa đây chỉ là một phần nguy hiểm mà chúng ta phải đối mặt mà thôi!”, White nghiêm túc nói.

“Đúng vậy! Từ tình hình ở Hồng Kông và những tài liệu này cho thấy, đối thủ của chúng ta thực lực không thường, nhưng điều này ngược lại lại khiến tôi yên tâm.”

“Ồ?”, White không hiểu.

“Điều đó cho thấy những thuộc hạ của tôi rõ ràng không phải là đối thủ của họ, nên tôi thua cũng không cảm thấy mất mặt! Tói đây phải xem đội ngũ mà Tướng quân huấn luyện ra sao. Tôi tin rằng nếu để tôi thống lĩnh đội quân này, thì chắc chắn có thể đánh bại đối thủ của chúng ta.”

“Được! Điều mà Tướng quân muốn chính là câu nói

này của cậu!”, White nắm nắm đấm nói.

“Vậy thì hành động bước tiếp theo của chúng ta sẽ thế nào đây?”, lúc này, bản thân Stephen cũng cảm thấy kì lạ, pao mình lại muốn đến Trung Quốc để đi tìm thành cổ Tây Hạ trong thuyền thuyết nhường vậy?

White mở tấm bản đồ ra, chỉ vào một vị trí trên đó, nói: “Bước tiếp theo, mục tiêu của chúng ta chính là đây - quần thể núi phía bắc Xuyên Tây, nghe nói rằng ở đây có bộ lạc cuối cùng của người Đảng Hạng sinh sống. Chúng ĩ £ ta phải đi trước hội Đường Phong, Hàn Giang, tìm thấy nhánh người Đảng Hạng của bộ lạc đó, trong tay họ chăc là đang nắm giữ một kệ tranh ngọc.”

“Anh cho tôi bao nhiêu người?”

“Tùy anh chọn! Hơn nữa, người của chúng ta đã mai phục sẵn ở đó rồi. Nếu họ phát hiện thấy người của lão K thì sẽ dụ họ tới Khương Trại, và tiêu diệt tất bọn chúng ở đó.”

“Vậy việc không thể chần chừ, chúng ta phải xuất phát ngay thôi!”, lúc này Stephen bắt đầu hiểu rằng tại sao cả đời ông nội và cha anh ta không dứt ra được khỏi kệ tranh ngọc. Hiện giờ bản thân anh ta cũng vướng vào việc này, không thể thoát ra được.

“Đợi đã! Stephen, đừng hấp tấp, trước khi anh đưa người đi, anh cũng cần phải tham gia huấn luyện đã.”

“Tham gia huấn luyện?”, Stephen không hiểu, “Lẽ nào tôi vẫn chưa đủ tiêu chuẩn?”

“Dĩ nhiên không phải vậy, tôi và Tướng quân đều đánh giá cao anh, nhưng anh phải đổ những người dưới phục anh. Bắt đầu từ mai, anh và Fanny sẽ giống như những lính thường khác, cùng tập luyện chung với họ, thể hiện thực lực trước mặt họ, mọi người ắt tự nhiên sẽ phục anh!”

Stephen không nghĩ mọi chuyện lại phức tạp đến vậy. Anh ta trầm ngâm một hồi: “Được! Quyết định vậy đi!”

“Stephen, nhớ kĩ, việc cậu đã thực sự trở thành một thành viên của chúng tôi, còn quan trọng hơn cả việc tự tập huấn bản thân!”, cuối cùng White không quèn nhắc nhở Stephen.

6

Bắt đầu từ ngày hôm sau, Stephen và Fanny đã tham gia huấn luyện với tư cách là binh lính thông thường. Kể từ sau khi phục viên khỏi quân chủng không quân, Stephen luôn giữ được phong độ tốt nhất, anh ta chưa từng hạ thấp yêu cầu đối với bản thân, cộng thêm cả những kĩ năng đã học được trong quân đội không quân trước đây, nên chẳng mấy chốc anh ta đã nổi bật lên trong đám binh lính đó.

Trong quá trình tiếp xúc với những gã áo đen này, Stephen dần hiểu được xuất thân của họ. Những người này, tuy đến từ các nơi khác nhau trên thế giới, nhưng phần lớn đều có chung một quá trình: từng phục vụ trong quân đội, sau đó đụng chạm tới pháp luật, phạm trọng tội! Đều do Cô" Tướng quân dùng các thủ đoạn để đưa họ tới đây. Những tín đồ liều mạng, vì chẳng còn con đường nào khác, đều ^ không thể không trung thành với Tướng quân, thề sống J chết cũng một lòng một dạ với ông ta. Một phần, vì họ, muốn báo ơn cứu mạng của Tướng quân, phần khác là vì đã bị những lời hứa về một tương lai tốt đẹp của Tướng quân lay động.

Sau vài tuần kết thúc huấn luyện, một buổi chiều, White tới sân huấn luyện, tuyên bo với mọi người về nhiệm vụ của Stephen, thậm chí còn trao tặng cho Stephen một huân Chương. Stephen cảm thấy dường như mình đang quay trở lại cuộc sống trong quân đội, anh ta nhìn những gã trai hừng hực sát khí trước mặt, và bỗng có cảm giác trống rỗng.

Trong lòng Stephen không biết nên vui hay nên buồn, nhưng khi anh ta nghĩ tới lời hứa tuyệt vời của Tướng quân thì lại trở nên xúc động. Cho dù không tìm thấy kho báu Tây Hạ đi chăng nữa, nhưng nếu thực sự có được đội ngũ này trong tay thì cũng có thể làm được vài vụ án kinh thiên động địa. Nghĩ tới đây, Stephen bất giác có động lực để phấn đấu. Anh ta đang tìm kiếm Tymoshenko, để muốn thử xem thái độ của người này thế nào. Tymoshenko là đối thủ canh tranh duy nhất của anh ta, nhưng anh ta lại không trông thấy bóng dáng của Tymoshenko đâu.

“Ra là thế, chẳng trách bọn áo đen đó lại lợi hại như vậy!”, Hàn Giang nghe xong những gì Stephen kể liền ngạc nhiên thốt lên.

“Bọn chúng còn có cả hồ sơ của chúng ta nữa chứ!” Đường Phong cũng thấy ngạc nhiên, “Hơn nữa, hóa ra tổ chức bí ẩn này ban đầu là do Hắc Lạt ma gây dựng nên! Thảo nào chúng ta đã nhìn thấy hình vẽ đó trên vách đá!”

“Tôi hiêu rôi, hai nét vẽ trên hình vẽ đó, nét vẽ có sớm hơn là từ thời Tây Hạ, nét vẽ màu đỏ thì rất có khả năng là do Hắc Lạt ma vẽ!”, Hàn Giang nói.

“Ở... ở đây cũng xuất hiện một gã White...”, Makarov miệng lẩm bẩm.

“Đúng vậy! Cái gã White này có phải chính là cái gã White mà bị Shchedrin bắt năm đó không nhỉ?”, Đường Phong ngạc nhiên nói.

“Không, không thể như vậy! Người Mỹ tên là White thì thiếu gì! Hơn nữa, người đó chưa chắc tên thật là White, không biết chừng chỉ là một biệt hiệu mà thôi, ông ta nói vậy là để cho Stephen gọi!”, Hàn Giang lắc đầu.

“Có khi nào White và Tướng quân cùng là một người không nhỉ!”, Makarov đột nhiên nghĩ ra.

“Tôi cũng từng... từng nghi ngờ như vậy, nhưng... theo quan sát của tôi thì họ... họ chắc không phải là một người!”, Stephen nói.

“Anh có biết căn cứ Tiền Tiến năm đó không?”, Makarov đột nhiên chất vấn Stephen.

Stephen không hiểu nhìn Makarov.

“Hoặc có thể nói là: anh đã từng nghe thấy White và Tướng quân nhắc tới căn cứ Tiền Tiến chưa?”, Makarov lại hỏi.

“Căn cư Tiền... Tiền Tiến gì cơ, tôi chưa... chưa. từng nghe thấy!”, Stephen mụ mị hết cả đầu óc.

“Lạ thật đấy, trên người đội ngũ của Tướng quân cũng có hình xăm đó, chúng đều có tố chất huấn luyện!”,

đầu óc Makarov tức tốc vận hành, ông đang tóm lấy từng chi tiết, hi vọng có thể móc nối những bí mật về Tướng quân mà Stephen kể, với căn cứ Tiền Tiến năm đó. Nhưng quả thực, ông không tài nào tìm ra được mối liên quan giữa tổ chức bí mật của Tướng quân và căn cứ Tiền Tiến năm nào; vì ngoài hình xăm và cái người Mỹ tự xưng là “White” đó ra, thì giữa chúng hình như chẳng có mối liên hệ nào nữa. Nhưng do mẫn cảm nghề nghiệp, được tích lũy bao năm, đã cảnh tỉnh Makarov: chắc chắn bên trong phải có mối liên quan nào đó, chỉ có điều... có điều bản thân mình vẫn chưa phát hiện ra mà thôi.

“Không phải Shchedrin nói rằng: tất cả những học viên năm đó đều chết hết rồi sao?”, Đường Phong an ủi Makarov, anh hiểu Makarov lo lắng điều gì.

“Nhưng cuối cùng Shchedrin đâu có tìm thấy toàn bộ thi thể của học viên!”, Makarov có chút thiểu não.

“Bác nghi ngờ đội ngũ của Tướng quân có liên quan tới những học viên năm đó?”, Hàn Giang hỏi lại.

“Không! Tôi không biết. Tóm lại, bên trong có quá nhiều nghi vấn cần phải được bóc gỡ!”, Makarov chìm sâu trong mâu thuẫn.

Im lặng một hồi, Hàn Giang bỗng nhắc nhở: “Mọi người có để ý thấy không, Stephen đã nhắc tới Tymoshenko.”

“Sao cơ?”, Đường Phong cũng chú tới ý tình tiết đó.

“Tướng quân nói rằng muốn chọn một, giữa Stephen và Tymoshenko, để trở thành người kế vị của ông ta. Nhưng bây giờ Tymoshenko đã chết rồi, vậy thì chắc chắn Stephen đương nhiên là người kế vị rồi?!”, nói đến đây, giọng Hàn Giang có chút châm chọc Stephen.

Stephen vừa nghe thấy vậy liền cuống lên, anh ta định nói gì đó nhưng chỉ ho vài tiếng. Mãi cho tới khi bình tĩnh trở lại, anh ta mới mở miệng: “Hàn Giang, anh không... không phải khích tôi đâu, thực ra là tôi bị lừa, người... người kế vị chết tiệt gì chứ. Có… có lẽ Tymoshenko đủ tư cách, nhưng chắc... chắc chắn không thể là tôi, nhưng tôi lại ngây thơ cả tin. Giờ... giờ thì tôi đã bắt đầu hiểu...hiểu ra huyết chú là cái gì, sức hấp dẫn của kệ tranh ngọc quả thực quá lớn... nó khién người ta mất hết tâm trí, mất hết lý trí... không thể biết đâu được là đúng là sai!”.

“Được rồi, bây giờ anh hiểu ra vẫn chưa muộn. Nhưng tôi không hiểu tại sao anh lại nói rằng Tymoshenko đủ tư cách, còn anh thì không? Lẽ nào ngay từ đầu Tướng quân đã lừa gạt anh?”, Hàn Giang không hiểu.

“Đúng! Ngay... ngay tò đầu ông ta đã lừa tôi, nhưng mãi sau này... tôi mới biết. Đó là sau khi tôi từ Saint Petersburg trở về...”, Stephen lại bắt đầu kể lại đoạn kí ức đau khổ.

7

Từ Saint Petersburg lạnh giá tuyêt rơi trăng trời trở về căn cứ bí mật ấm áp, mà lại là thập tử nhất sinh trở về, nhưng Stephen chẳng thấy dễ chịu chút nào. Anh ta lại thêm một lần thất bại, anh ta không biết Tướng quân có còn đủ kiên nhẫn để chờ đợi hết lần thất bại này tới lần thất bại khác của mình hay không, nhất là lần này, việc Tymoshenko bị chết khiến Stephen vô cùng sợ hãi.

Sống cùng Tymoshenko một thời gian tại Saint Petersburg, anh ta biết rằng Tymoshenko là thuộc hạ cưng của Tướng quân, tâm tư kín kẽ, học thức uyên thâm; nhất là sự am hiểu về lịch sử và văn hóa Tây Hạ, thì chẳng được mấy người như Tymoshenko. Khuyết điểm duy nhất của Tymoshenko là anh ta không giỏi dùng vũ lực, nhưng điều đó không thể cản trở vị trí của Tymoshenko trong lòng Tướng quân.

Trong lòng Stephen thấp thỏm lo âu, Tymoshenko chết rồi, còn anh ta thì bỏ chạy về đây, vậy Tướng quân sẽ nghĩ thế nào đây? Stephen suy nghĩ rối bời, anh ta cùng Fanny lại bị đưa tới mật thất trong căn cứ.

Lần này, Stephen và Fanny đều cảm giác được là trong bóng tối có người, bởi vì người đó thở rất mạnh. Stephen không hiểu rốt cuộc tình hình này là thế nào, anh ta cũng không dám hỏi, mà chỉ cung kính đứng im một chồ, chờ đợi giọng nói của Tướng quân từ trong bóng tối vang lên.

“Stephen, lần này cậu đã khiến ta quá thất vọng, thực sự vô cùng thất vọng!”, giọng Tướng quân vô cùng nghiêm khắc.

Tim Stephen đập thình thịch, thấp thỏm theo giọng nói của Tướng quân, anh ta không hiểu tại sao mình lại cung kính e sợ con người được gọi là “Tướng quân”, mà chưa từng trông thấy mặt này. Anh ta cũng là người dạn dày kinh nghiệm, nhưng trước sự lạnh lùng của Tướng quân thì sự tự tôn của anh ta chẳng đáng giá lấy một xu. Rõ ràng, lần này anh ta nhận thấy sự thay đổi thái độ của Tướng quân, lạnh lùng hơn những lần trước rất nhiều, xem ra thất bại lần này quả thực đã kinh động tới ông ta.

“Tướng quân, mong ngài hãy lượng thứ, đáng lẽ chúng tôi đã có thể chiến thắng…”, Stephen ra sức thanh minh ình.

“Ta không muốn nghe lí do của cậu nữa, lần này chúng ta không những tổn hại mất mấy người giỏi, mà còn vĩnh viễn mất đi Tymoshenko. Cậu phải biết rằng, đối với chúng ta, Tymoshenko vô cùng quan trọng.”

Stephen hiểu rằng chắc chắn Tướng quân sẽ nhắc tới Tymoshenko, anh ta cũng không thanh minh nữa, mà đành phải nhẫn nhịn, nghe Tưóng quân trách mắng.

Tướng quân ngừng lại một lúc rồi nghiêm giọng nói

tiếp: “Mất đi Tymoshenko cũng đồng nghĩa với việc ta đã

mất đi cánh tay phải. Cậu ta tinh thông bao nhiêu là chữ

nghĩa như vậy, nhất là chữ cổ, bây giờ cậu ta không còn

nữa, thì cậu nói xem chúng ta phải tiếp tục sự nghiệp thế nào đây! Cậu có làm được không?”

Trước lời chất vấn của Tướng quân, quả thực Stephen không im lặng được nữa rồi, anh ta phản bác lại: “Tướng quân, xin cho phép tôi nói một câu, vấn đề lớn nhất trong thất bại lần này thực ra lại nảy sinh từ chính Tymoshenko.”

“Ồ?”, Tướng quân có vẻ bất ngờ khi Stephen dám cãi lai mình.

“Chính Tymoshenko đã để Misha sống sờ sờ ngay trước mắt anh ta bao nhiêu năm như vậy. Cuối cùng ông ta ta lại phát hiện ra bí mật của chúng ta, nên đã giúp Hàn Giang và Đường Phong giành chiến thắng. Nếu như lúc đó Tymoshenko thông minh một chút, để Misha vĩnh viễn biến mất, thì có lẽ đã không có thất bại ngày hôm nay!?”, tim Stephen đập loạn xạ, nhưng bề ngoài anh ta vẫn cố tỏ ra bình tĩnh.

Phản bác của Tymoshenko bỗng khiến Tướng quân hạ hỏa. Trong bóng tối, ông ta im lặng hồi lâu, lâu đen nỗi Stephen bắt đầu hoài nghi Tướng quân có còn đây không?

Đột nhiên, Tướng quân lại mở miệng: “Stephen, cậu phải hiểu rằng, chỉ có ta mới đủ tư cách để đánh giá sai lầm của Tymoshenko. Hiện giờ chúng ta không nói tới sai lầm của Tymoshenko, mà là nói tới vấn đề của cậu.”

“Tôi thừa nhận tôi sai sót, nhưng mong ngài hãy cho tôi thêm một cơ hội, nhất định tôi sẽ không để ngài thất vọng!”, Stephen khẩn cầu.

Bóng tối lại im lặng hồi lâu, ba phút sau, Tướng quân mới cất lời: “Được! Ta có thể tha thứ cho cậu thêm lần nữa, nhưng lần hành động sau, ta sẽ phái một trợ thủ đi cùng với cậu.”

“Trợ thủ?” Stephen bồng có cảm giác vô cùng bất an, anh ta lập tức hiểu ngay ra ý đồ của Tướng quân.

Lần này, Tướng quân chẳng hề đấm tay nhưng cánh cửa sau lưng Stephen vẫn mở ra, một gã trọc đầu tiến đến. Stephen lại nhìn ra cửa, anh ta không trồng thấy White, chỉ có gã này bước vào.

Stephen nhìn lại người đàn ông này lần nữa, người da trắng, trọc đầu, mặc một bộ rằn ri cỡ đại, hình như xấp xỉ tuổi White, trông thỉ có vẻ rất yếu ớt, nhưng đôi mắt lại hừng hực có thần.

“Hi! Tôi là Stephen!”, Stephen chủ động đưa tay ra đầy thiện ý, nhưng người này lại chẳng buồn để ý tới, nên anh ta đành phải chán nản rụt tay về.

“Cậu có thể gọi vị này là ‘Đầu trọc!’”, lời Tướng quân lại vang lên trong bóng.

Đầu trọc? Stephen biết rằng gã bên cạnh mình chắc chắn không phải là loại xoàng, nếu xưng hô khiếm nhã như vậy, không biết có khiến gã này không vui hay không? Anh ta quay lại nhìn người này, ‘Đầu trọc’ cũng quay lại nhìn anh ta, lộ ra vẻ tươi cười khó coi, coi như là đã chào hỏi Stephen.

“Nhưng hai chúng tôi hợp tác hành động thế nào đây?”, Stephen không hiểu mình sẽ phải hành động thế nào cùng với cái gã đầu trọc này.

“Cậu chỉ cần lo việc của cậu, không cần chủ động liên lạc với Đầu trọc, tới khi nào cần thiết thì anh ta sẽ xuất "hiện giúp cậu hoàn thành nhiệm vụ!”, tuy Tướng quân nói vậy, nhưng Stephen vẫn cảm thấy cái eã “Đầu trọc” này là một rắc rối lớn.

8

Chẳng bao lâu sau, Stephen và Fanny đã nhận được lệnh của Tướng quân, mục tiêu tiếp theo chính là núi Hạ Lan. Stephen bắt đàu bắt tay vào chuẩn bị trang thiết bị tới núi Hạ Lan. Anh ta vừa chuẩn bị, vừa hỏi Fanny: “Gần đây em có nhìn thấy White không?”

“Không thấy! Kể từ khi quay lại đây, em đã không trông thấy White đâu cả!”, Fanny cũng cảm thấy khó hiểu.

“Em đã hỏi thăm được gì về gã Đầu trọc chưa?”, Stephen lại hỏi.

“Thời gian gần đây gã đó thường tập luyện trong căn cứ, nhưng chưa từng ừò chuyện với ai. Mấy lần em định bắt chuyện, nhưng hắn ta đều lờ em đi! Nhưng..

“Nhưng gi cơ?”

“Nhưng có lần em nghe thấy hắn ta chửi bậy, chửi bằng tiếng Nga!”

“Ồ! Như vậy tức là hắn ta là người Nga!”, Stephen lại nhớ lại những gì anh ta đã trải qua tại Saint Peterburg.

“Nhưng em chỉ nghe thấy mỗi câu đó, còn những cái khác thì chẳng biết gì cả!”, Fanny chán nản nhún vai.

Sau khi chuẩn bị xong xuôi, trong lúc Stephen đang nằm trên ghế sô pha nghỉ ngơi thì anh ta bỗng trông thấy một chiếc va li cũ kĩ dưới gầm giường. Đây là thứ mà lần trước White giúp họ mang về, nói là di vật của cha ở viện dưỡng lão, đồng thời còn mang tới cả bức thư mà cha viết cho anh trước lúc lâm chung.

Stephen kéo chiếc va li dưới gầm giường ra, phủi phủi bụi trên mặt va li đi, rồi mở nó ra. Sau khi White đưa chiếc va li này tới, Stephen đã từng kiếm tra qua một lần. Bên trong va li đều là những vật dụng bình thường, chẳng có thứ gì đặc biệt cả. Điều này cũng là lẽ thường tình, bởi White đưa nó về thì chắc chắn bọn họ đã lục tung nó lên rồi.

Stephen tiện tay quang những quần áo cũ ra, lật lật giở giở, rồi bỗng nhiên anh ta phát hiện ra dưới đáy vali có chút khác thường. Cách lớp da lót dưới đáy va li, anh ta trông thấy thấp thoáng chút vết tích kì lạ dưới lớp lót, giống như một bức tranh...

“Fanny, đưa kéo lại đây!”

Stephen dùng kéo cẩn thận cắt lớp lót trong chiếc va li ra, rồi lật lại thì thấy phía dưới lớp lót quả nhiên có thứ gì đó... Dưới lớp lót có khâu ba tấm bản đồ, đó là ba tấm bản đồ kho báu!

Stephen kinh ngạc phát hiện, hóa ra đây chính là bản đồ kho báu của Hắc Lạt ma. Tấm thứ nhất là tuyến đường tới kho báu trong núi Hạ Lan, tấm thứ hai là bản đồ bề mặt của chùa Hắc Thứu, tấm thứ ba thì chẳng đánh dấu gì cả, chỉ chằng chịt những đường vẽ ngoằn ngoèo quanh co. Stephen vẫn chưa hiểu ngay được hàm ý của tấm bản đồ thứ ba.

Stephen lại phát hiện ra bút tích của cha ở mặt sau của tấm bản đồ thứ hai:

Con trai, nếu lúc nào con gặp hoạn nạn, không thể giải quyết được công việc thì hãy dựa vào ba tấm bản đồ này để tìm thấy kho báu của Hắc Lạt ma để lại. Năm đó ông nội con đã giết chết Hắc Lạt ma, đoạt được kho báu của ông ta, rồi đem kho báu cất giữ trong động sâu của chùa Hắc Thứu, và đã vẽ bản đồ đánh dấu lại. Sau này cha và mọi người đã gặp đại nạn tại Thất sắc Cẩm Hải, cha chỉ thoát được thân còn bản đồ kho báu đã bị mất. Nhưng cha đã dựa vào trí nhớ để vẽ lại ba tấm bản đồ đó, sợ rằng cũng có chỗ không đúng, nên không thể vẽ hết ra cho con được. Nhớ kĩ, khi nào gặp hoạn nạn, không thể giải quyết được công việc, thì không nên tiếp tục nữa, nhớ kĩ! Hãy cẩn thận!

Stephen đọc xong những dòng này liền đưa cho Fanny. “Kho báu của Hắc Lạt ma!”, Fanny kinh ngạc.

“Khi nào gặp hoạn nạn, không thể giải quyết được công việc thì không nên tiếp tục nữa, nhớ kĩ!”, Stephen không ngừng lẩm bẩm, đột nhiên, anh ta vồ đầu một cái:

“Hiện giờ chính là lúc hoạn nạn của mình, không thể giải quyết được công việc.”

“Stephen, anh muốn đi tìm kho báu của Hắc Lạt ma?”, Fanny hỏi.

“Tại sao không chứ? Lẽ nào em không nhìn ra, kể từ khi chúng ta từ Saint Peterburg trở về, Tướng quân đã thay đổi thái độ với chúng ta. Nhất là cái chết của Tymoshenko đã khiến Tướng quân rất buồn. Hiện giờ anh càng lúc càng cảm thấy, người kế vị mà ông ta bày ra, chẳng qua chỉ là để dụ dỗ chúng ta bán sinh mệnh cho ông ấy, và rất có khả

năng Tymoshenko chính là người kế vị đã được chọn, mà chắc chắn không phải là chúng ta!”, Stephen vô cùng tức giận, đầu óc đã bắt đầu tỉnh táo ra.

“Bởi vậy, anh muốn nhân cơ hội tới núi Hạ Lan tìm kiếm kệ tranh ngọc lần này để tìm kho báu của Hắc Lạt ma?”

“Đúng! Sau đó chúng ta cũng không cần tới kệ tranh ngọc nữa, mà thoát khỏi sự khống chế của Tướng quân, mai danh ấn tích, cao chạy xa bay!”, Stephen càng nói càng phấn chấn. Anh ta thấy Fanny vẫn còn do dự, liền nắm ngay lấy tay phải của cô, “Em xem, cha anh đã tặng em chiếc nhẫn đeo trên ngón cái này, lúc đó anh thấy chiếc nhẫn này có chút kì dị, không giống đồ mỹ nghệ hiện đại. Bây giờ xem ra, rất có khả năng chiếc nhẫn này được cha đem về từ kho báu của Hắc Lạt ma.”

Fanny nhìn chiếc nhẫn trên ngón tay cái, trong lòng cũng bắt đầu xốn xang; cuối cùng; hai người quyết định: chỉ chờ đợi chuyến đi tới núi Hạ Lan.

9

Stephen hồi tưởng xong, máu mũi bắt đầu ộc ra không ngừng. Đường Phong và Makarov vội vàng giúp anh ta câm máu. Mât một lúc lâu sau, Stephen mới cầm được máu, nhưng cơ thể anh ta đã rất yếu.

“Anh chính là khách trọ trong phòng phía đông phải không?”, Hàn Giang hỏi.

“Đúng vậy! Lần này tôi... tôi không mang nhiều người theo, chỉ có tôi và Fanny. Ban đầu chúng... chúng tôi lấy nhà trọ làm nơi dừng chân, căn cứ vào bản đồ để vào trong núi tìm kiếm..

“Nhưng tại sao chúng tôi chỉ tìm thấy một tấm bản đồ kho báu trong phòng anh?”, Đường Phong không hiểu.

“Bởi vì khi các... các anh phát hiện ra tấm bản đồ kho báu đó, thì chúng tôi đã... đã xác định được phạm vi của chùa Hắc Thứu rồi, bởi... bởi vậy tấm bản đồ đó không cần dùng tới nữa...”

“Thảo nào! Vậy hai tấm bản đồ còn lại trong người anh?”, Đường Phong hỏi tiếp.

“Hiện… hiện giờ không còn nữa rồi! Cái gã đầu... đầu trọc đó đã xuất hiện gần nhà trọ, không... không hiểu sao gã ta lại biết được kế hoạch của chúng tôi. Fanny vì bảo vệ tôi nên đã đánh nhau với gã đầu trọc đó, và bị hắn giết chết. Tôi chạy thoát được khi bị gã truy đuổi, theo... theo đánh dấu trên bản đồ tìm thấy được Tiền điện của Thượng Tự, nhưng không ngờ cái gã đó cũng bám theo...”. Stephen nói đứt quãng.

“Nhưng anh đã không vào Hậu điện. Tôi nói cho anh biết, ở đó chính là kho báu của Hắc Lạt ma!”, Đường Phong cắt lời.

Mắt Stephen bỗng bừng sáng lên, nhưng rốt cuộc vẫn tắt ngóm: “Điều đó đã... đã không còn liên quan gì tới tôi nữa rồi... còn tại sao... tại sao tôi không vào hậu điện là bởi... bởi vì đã xảy ra chuyện tại... tại tiền điện...”

“Xảy ra chuyện? Xảy ra chuyện gì vậy?”, Đường Phong sốt sắng muốn biết trước khi họ tới đã xảy ra chuyện gì.

Nhưng Stephen lại thoi thóp nhắm mắt lại, miệng anh ta khẽ mấp máy, nhưng không bật thành tiếng. “Được rồi! Đường Phong! Xem ra anh ta không ổn rồi!”, Hàn Giang khuyên Đường Phong.

“Vậy bây giờ chúng ta phải làm thế nào? Rút lui hay là mở cánh cổng vòm này ra...”, Đường Phong vẫn chưa dứt lời thì bồng nhiên bên ngoài cổng vòm vang lên một tiếng động, ba người lập tức cảnh giác. Âm thanh đó càng lúc càng to. Đường Phong, Hàn Giang, Makarov cùng chụm súng lại, nòng súng của cả ba đều hướng về cống vòm. Họ không biết phía sau cánh cổng sẽ là gì, nhưng tất cả đều có cảm giác: một sự nguy hiểm khủng khiếp đang từng bước cận kề họ...
 

hoahongden12

Active Member

Từ thời cổ xưa, kiến trúc Trung Quốc đã phân đẳng cấp, Tây Hạ cũng không ngoại lệ. Mỗi một kiến trúc, bao gồm cả kiến trúc lẫn núi non sông nước quanh đó, đều được phân chia đẳng cấp. Có kiến trúc ở vị trí tôn nghiêm, có kiến trúc ở vị trí thứ yếu, có kiến trúc lại ở vị trí thấp kém. Sự phân đẳng cấp này được qưy định rất nghiêm ngặt, không thề đánh đồng với nhau được.

Tiếng động kì dị phía sau cổng vòm đã tắt ngấm, nhưng chưa được bao lâu sau đó lại vang lên, hơn nữa lại còn càng lúc càng to, càng lúc càng dồn dập. Đường Phong, Hàn Giang và Makarov đều lắng nghe nhưng không biết được đây ià âm thanh gì; ba người nhìn nhau, và cũng không dám hạ súng xuống. Tiếng động này rất không có quy luật, lúc thì vang lên, lúc lại biến mất.

“Có người bên ngoài đang đục cánh cổng vòm này!”, Makarov phong phú kinh nghiệm phán đoán trước tiên.

Có người? Phán đoán của Makarov khiến Đường Phong và Hàn Giang càng thêm căng thẳng, họ nắm thật chặt súng. Tiếng động đó cứ vang lên ngắt quãng, kéo dài trong bảy tám phút, đúng lúc ba người bắt đầu tê mỏi thì cánh cổng vòm bỗng mở tung ra. Bụi bay mù mịt, ánh sáng chói lóa từ bên ngoài cổng vòm xuyên qua lớp bụi dày cộm chiếu vào.

Ba người chờ đợi trong thế giới bóng tối quá lâu, nhất thời khó mà thích ứng được với ánh sáng bên ngoài. Đường Phong vội vàng bịt mắt lại, Hàn Giang cũng vội vàng che mắt, nhưng theo phản xạ, anh vẫn bắn hai phát súng về phía cổng vòm.

“Pằng! Pằng!”, sau hai tiếng súng vang lên thì chẳng có tiếng rên la nào cả, mà là những tiếng chim kêu choe chóe. Ba người giật thót tim, khi mắt dần thích nghi với ánh sáng bên ngoài, họ bồng nhìn thấy một con kền kền khổng lồ đang đậu ngoài cổng vòm.

Đường Phong bắt đầu hiểu ra, âm thanh gõ cửa ngắt quãng ban năy chính là tiếng kền kền mổ vào cổng. “Tại sao... tại sao trong này lại có kền kền?”

“Có thể đây chính là hang ổ của bọn chúng!”, Makarov lẩm bẩm.

“Hang ổ của kền kền?!”, câu nói vu vơ của Makarov khiến Đường Phong và Hàn Giang đều run cầm cập,

“Mọi người xem, trên thân kền kền chảy máu kìa.. Makarov nói.

“Đó là do Hàn Giang bắn đó!”, Đường Phong hét lên.

Cậu bé mồm cho tôi một chút đi! Đó không phải do tôi bắn,... con kền kền này định làm gì vậy?”, Hàn Giang cũng bắt đầu trở nên nhát gan.

Tìm anh báo thù!”, Đường Phong châm chọc.

“Lúc này mà cậu còn đùa với tôi à?”, Hàn Giang bất mãn kêu lên.

“Ai đùa với anh! Anh xem kền kền vào trong này rồi kìa!’

Vừa nói, ba người không hẹn mà gặp cùng lùi về phía lối đi. Con kền kền bị thương không hề tiến lại gần phía hội Đường Phong, ba người ngỡ ngàng nhìn kền kền từng bước tiến lại gần Stephen. Kền kền đứng lại bên cạnh Stephen, dang rộng đôi cánh khổng lồ ra rồi quay mình bước ra ngoài cổng vòm.

Kền kền bước ra khỏi cổng rồi thoắt cái đã biến mất.

Cả hội Đường Phong sững sờ nhìn một lúc lâu mới kịp phản xạ, cùng lao ra ngoài cổng vòm. Bên ngoài cống vòm, ba người lại được tắm táp dưới ánh nắng ấm áp, còn con kền kền đó đã biến mất..

Đường Phong nhìn xung quanh, phát hiện địa hình ở đây rất kì lạ, xung quanh là những vách núi cao vút, họ đang ở trong một “đáy chảo” lõm xuống.

“Nơi này thần kì quá, hóa ra chúng ta đang ở dưới đáy chảo!”, Đường Phong ngạc nhiên nói.

“Đây giống như một cái hố trời, chỉ có điều là một cái hố trời cỡ nhỏ mà thôi!”, Hàn Giang phán đoán.

“Đừng tán nữa, hố trời thường chỉ xuất hiện trong địa hình giữa đất liền và biển ở khu vực núi Tây Nam, ở đây làm sao mà có được? Hơn nữa làm sao hố trời lại xuất hiện trên núi cao thế này được? Theo như tôi thấy thì đây giống một hố thiên thạch hơn!”, Đường Phong phủ định phán đoán của Hàn Giang.

“Hố thiên thạch? Cũng không biết đây là vị trí nào của đỉnh núi phía bắc, chúng ta đang bị kẹt trong cái đáy chảo này”, Hàn Giang nói.

“Thử xem có đường nào leo được lên không!”, Makarov đề nghị.

Vậy là, ba người bắt đầu men theo quanh vách núi, đi một vòng, nhưng không phát hiện thấy gì, chỉ phát hiện thấy một cái khe nhỏỄ Đi xuyên qua khe này thì họ tới một cái “đáy chảo” khác, xung quanh vẫn là vách đá cao cao, hon nữa địa hình ở đây còn trở nên phức tạp hon, vách núi xung quanh hiện lên hình vòng cung rối rắm. Cả ba tuy rất thán phục sự sáng tạo của tự nhiên, nhưng không quên tìm đường đi. Đột nhiên, Đường Phong ngửi thấy mùi máu tanh nồng.

2

Vòng qua vách đá nhô ra, mùi máu càng lúc càng nồng nặc, còn có cả mùi phân hủy. Chẳng mấy chốc một vùng cỏ dại đã hiện lên trước mắt mọi người, bên cạnh bãi 486 I cỏ là một đống xương trắng.

“Đây… đây quả nhiên là hang ổ của kền kền!

Đường Phong kinh ngạc nhìn hàng đống xương trắng trước mắt.

Hàn Giang bịt mũi, bước tới gần đống xương. “Đây đều là xương của dê, bò, còn một số khác tôi cũng không biết..Hàn Giang nói tới đây bỗng im bặt, bởi trong đống xương trắng anh đã phát hiện thấy vài chiếc đầu lâu rải rác.

“Xem ra kền kồn ở đây bắt người thật!”, Đường Phong bỗng nhớ lại cơn ác mộng ám ảnh mình. Ác mộng?

Đường Phong run bắn lên. “Chúng ta ở trong động bao lâu rồi?”, Đường Phong bỗng hỏi.

Makarov ngửa lên nhìn trời, ông đoán: “Bây giờ chắc là buổi sáng, cho thấy chúng ta đã ở trong huyền cung gần một ngày rồi.”

“Không biết Yelena và tiến sỹ Từ ra sao rồi?”, Đường Phong không khỏi lo lắng.

“Nhìn xem! Chỗ này lại xuất hiện kí hiệu đánh dấu đó!”, Hàn Giang bỗng kêu lên.

Đường Phong và Makarov vội vàng ngó sang, quả nhiên trên vách đá màu đen xuất hiện một kí hiệu hình tam giác bắt mắt, ba vết khắc sâu hoắm khiến mọi người đều ấn tượng. “Theo như những gì Stephen vừa kể lại, thì tôi nghi ngờ cái gã sát thủ trọc đầu đó chính là Stechkin!”, Hàn Giang suy đoán.

“Cậu chắc chắn chứ?”

“Tuổi tác, quốc tịch, thủ đoạn đều trùng khớp, vậy còn có thể là ai chứ?”, Hàn Giang hỏi lại.

“Stechkin, White, Tướng quân...”, Makarov suy ngẫm, “Nhưng tôi vẫn không hiểu mối liên quan giữa ba người họ.”

“Tạm thời đừng nghĩ nhiều nữa. Kí hiệu hình tam giác này lại xuất hiện cho thấy Stechkin đang ở quanh đây, hoặc ít nhất là hắn ta cũng đã từng đi qua đây!”, Hàn Giang phán đoán.

“Đợi đã! Hàn Giang, anh nhìn chồ này đi!”, Đường Phong bồng chỉ vào một vách đá cách kí hiệu hình tam giác không xa hét lên.

Ba người phát hiện trên vách đá màu đen lại xuất hiện một kí hiệu hình thang. “Sao... sao lại như vậy được?”, Hàn Giang vô cùng kinh ngạc nói.

“Đây chính là kí hiệu mà chúng ta giao ước tại lều trại trước khi xuất phát!”, Makarov cũng giật mình.

“Không thể nào là ba chúng ta khắc được, vậy... vậy thì chính là...”, Đường Phong bất ngờ trước phát hiện này tới nỗi không thốt nên lời.

“Vậy đó chỉ có thể là Ye... Yelena và tiến sỹ Từ!”, giọng Makarov run rẩy.

“Có lẽ họ cũng đã vào trong huyền cung rồi, lại còn tới cả đây nữa!”, Đường Phong nói.

“Không đúng!”, Hàn Giang bỗng hét lên. “Nếu như là Yelena để lại, thì tại sao trong cả lối đi chúng ta không phát hiện thấy kí hiệu này, kể cả ngay từ ban đầu chúng ta đi sai đường đi chăng nữa, nhưng từ tiền điện tới đây, cả

quãng đường đó chúng ta cũng không phát hiện thấy kí hiệu hình thang này.”

“Lỡ anh không để ý thì sao?”, Đường Phong hỏi.

“Không thể, cả quãng đường đi tôi đều rất cẩn thận, chẳng phát hiện thấy một kí hiệu hình thang nào cả!”, Hàn Giang khẳng định chắc chắn.

“Được rồi, tiếp tục tìm kiếm phía trước xem sao, nhìn xem có còn kí hiệu đánh dấu nào không!”, Makarov nói.

Đường Phong và Makarov lại tiếp tục men theo vách đá tiến lên phía trước, nhưng quay đầu lại thì vẫn thấy Hàn Giang thẫn thờ nhìn chằm chằm kí hiệu hình thang trên vách đá. “Anh vẫn đang nghĩ gì vậy?”, Đường Phong thúc giụcỄ

Hàn Giang lại ngẩng đầu, nhìn lên bầu trời và bốn vách đá cao cao xung quanh. Mãi lâu sau anh mới lẩm bẩm thốt ra một câu: “Thật là muốn mọc ra đôi cánh, bay ra bên ngoài xem xem rốt cuộc đây là nơi nào.”

“Đừng mơ mộng hão huyền nữa, cả đời anh cũng không mọc cánh được đâu! cẩn thận một lúc nữa kền kền lại bay về đấy!”, Đường Phong thúc giục Hàn Giang mau đi.

Kền kền?! Vừa nghĩ tới con kền kền đến rồi lại đi trong chớp nhoáng mà lòng Hàn Giang nặng trĩu, anh vội vàng đuổi theo Đường Phong và Makarov, tiếp tục tiến lên phía trước.

3

Vách đá lại tới một chỗ ngoặt, cả kí hiệu hình tam giác và hĩnh thang đều không xuất hiện. Hàng loạt những hôc đá và vách đá đen sì nối liền nhau khiến Đường Phong tin tưởmg vào phán đoán của mình. “Đây chính là một chuỗi những hố thiên thạch! Mấy chục vạn năm trước, trong quá trình hình thành cấu tạo địa chất, nó đã bị những thien thạch rơi xuống tạo thành hố thiên thạch, bởi vậy nó mà có hố to hố nhỏ, vòng vòng chuỗi chuỗi như thế này.”

“Nhưng sao ở đây lại là Tàng kinh lầu của Thượng tự được?”, Hàn Giang không hiểu hỏi.

Câu hỏi của Hàn Giang cũng khiến Đường Phong ngớ ra.“Có lẽ. có lẽ thạch thất đó chính là Tàng Kinh Lầu!” Đường Phong chỉ có thể giải thích như vậy.

Hàn Giang không nói thêm gì nữa, lúc này, ba người đã kịch đường, là một hố thiên thạch khổng lồ, không khe hở Đường Phong nhìn một vòng, trên vách đá đenkịt xuất hiện một cửa hang.

“Lại là một cửa hang"”, sự xuất hiện của cửa hang này khiến Hàn Giang, vốn đang chán ngán bóng tối, cảm thấy bất ngờ.

“Đúng vậy! Tôi tưởng rằng vất vả lắm mới trông thấy ánh mặt trời, không cần phải chui vào hang núi nữa cơ!” Đường Phong cũng thấy khó hiểu.

Nhưng Makarov lại nói: “Hàn Giang, Đường Phong, ban nãy chúng ta đã đi qua hết những hố thiên thạch chưa?”

“Đi qua rồi!”, Đường Phong và Hàn Giang không hiểu ý lão Mã.

“Tôi mong rằng ngoài cửa hang ban nãy chúng ta chui ra và cửa hang trước mặt thì đừng còn hang nào khác nữa. Và nếu đúng như vậy thì khả năng chúng ta đi sai đường rồi!”, Makarov nói ra nỗi lo lắng trong lòng.

“Đúng thế! Nếu thể thì coi như toi!”, Đường Phong cũng lo lắng không biết ban nãy có sai sót gì không.

Đứng trước cửa hang, Đường Phong và Makarov cân nhắc hồi lâu. Đột nhiên Hàn Giang nói: “Đừng nghĩ nữa! Hai người xem này, ở đây lại xuất hiện kí hiệu hình tam giác!”

Đường Phong và Makarov ngó sang, trên vách đá nơi cửa hang quả nhiên lại xuất hiện một kí hiệu hình thang.

Ba người vội vàng kiểm tra xung quanh kí hiệu này, hi vọng sẽ phát hiện thêm kí hiệu hình thang đó, nhưng lần này họ lại không thấy gì.

“Kì lạ, kí hiệu hình thang đó biến mất rồi!”, Hàn Giang cảm thấy thật khó hiểu.

“Bên trong chắc chắn cỏ vấn đề!”, Đường Phong nói.

“Mọi người có để ý thấy lời Stephen nói ban nãy không? Anh ta nói rằng tại Tiền điện đã xảy ra chuyện!”, Makarov đột nhiên nói.

“Xảy ra chuyện? Đúng! Stephen nói như vậy, nhưng anh ta chưa nói xong thì đã hôn mê rồi!”, Đường Phong không khỏi thất vọng.

“Tôi nghĩ kí hiệu hình thang có liên quan tới chuyện bất ngờ xảy ra đó! Còn cái gã đầu trọc cướp mất hai tấm bản đồ kho báu của Stephen, chắc chắn đã tới đây từ lối đi bên ngoài cổng phía đông của Tiền điện. Hắn không tới Hậu điện để tìm kho báu của Hắc Lạt ma, mà đi về hướng này, tôi nghĩ rằng... hay là hắn đã biết nơi cất giấu kệ tranh ngọc rồi?”, Makarov suy đoán.

Suy đoán của Makarov khiến Đường Phong và Hàn Giang đều chìm trong suy tư. “Đây quả thực là vấn đề quan trọng. Nhưng theo như những gĩ Stephen kể lại thì Hắc Lạt ma và ông nội anh ta đã vì kệ tranh ngọc mà tới đây, nhưng không hề tìm thấy nó, mà chỉ coi đây là nơi cất giữ kho báu và tránh nạn của họ mà thôi!”, Đường Phong nói.

“Như vậy nghĩa là, cho dù gã đầu trọc có lấy được hai tấm bản đồ đi chăng nữa thì cũng không thể biết được nơi cất giấu "kệ tranh ngọc; nhưng sao hắn ta lại không vào trong Hậu điện mà đi thẳng tới đây?”, Hàn Giang rối bời nói.

“Sao hai cậu lại trở nên ngốc vậy!”, Makarov bỗng nghiêm giọng, “Các cậu có thể nghĩ đến khả năng đó, lẽ nào Stephen và gã đầu trọc không nghĩ được như vậy sao?”

“Ồ! Tôi hiểu rồi. Stephen xem bản đồ, biết rằng kệ tranh ngọc chắc chắn không có trong Hậu điện; nên bọn họ

đã từ cổng phía đông tới thẳng đây. Quả thực là chúng ta đã lãng phí quá nhiều thời gian trong đó.”

Đường Phong bỗng lập tức sáng tỏ. Anh thấy Hàn Giang hình như vẫn chưa hiểu ra; nên kéo áo Hàn Giang và nói: “Đừng nghĩ nữa, chúng ta mau đi thôi. Neu tôi đoán không lầm thì cái động đó không sâu lắm!”

“Sao cậu biết?”, Hàn Giang không hiểu hỏi.

Đường Phong không trả lời mà bật đèn pin lên, chui luôn vào trong hang.

4

Tiến vào trong cửa hang, Đường Phong mới phát hiện thấy lối đi này giống hệt như lối đi trước đó, cũng uốn theo hình xoắn ốc vòng lên trên. Đi được khoảng hơn ba chục bước thì trên vách đá lại xuất hiện kí hiệu hình tam giác, nhưng cũng không có kí hiệu hình thang.

Tình hình sau đó cũng đại loại như thể. Sau khi ba người hội Đường Phong nhìn thấy kí hiệu hình tam giác thứ 10 thì rốt cuộc phía trước mặt cũng lóe lên tia sáng. “Cuối cùng cũng đến cuối đường rồi!”, Hàn Giang than thở.

“Hi vọng không phải là hố thiên thạch đáng ghét nữa!”, Makarov nói.

Rốt cuộc ba người đã đi hết lối đi, mọi thứ đều rộng mở thênh thang. Đây vốn không phải là hố thiên thạch mà là đỉnh của quần thể núi. Đường Phong giật mình nhìn

ngắm cảnh vật hùng vĩ diễm lệ phía dưới, nhất thời kích động đến nỗi không thốt nên lời.

Hàn Giang cũng thẫn thờ vì cảnh đẹp trước mắt, bất giác tiến lên phía trước vài bước, bước tới cạnh bên vực núi phía tây, nhìn xuống dưới. Anh nhìn thấy hơn chục hố thiên thạch lớn nhỏ thấp thoáng trong những bụi rậm, cỏ hoang um tùm, liền nói: “Chính là đống hố thiên thạch mà ban nãy chúng ta đã đi qua!”.

Hàn Giang vừa nói dứt lời thì hai bóng đen khổng lồ đã xuất hiện, bao trùm cả khoảng không phía trên đầu, ba người vội ngẩng đầu nhìn. Hai con kền kền khổng lồ đang dang cánh bay lượn trên đầu họ, lao xuống những hố thiên thạch phía dưới, rồi sau đó đậu xuống một hố thiên thạch.

“Quả nhiên đó... đó là hang ổ của kền kền!”, Đường Phong nghĩ tới việc lại phải đi qua đó để quay về mà không khỏi hoảng sợ.

“Không! Hang ổ của bọn chúng không chỉ ở đây đâu, cả đỉnh núi này đều là hang ổ của chúng!”, Hàn Giang hồi tưởng lại cảnh tượng kền kền quắp cừu hoang đáng sợ mà anh trông thấy dưới núi.

“Cả đỉnh núi? Vậy thì chúng ta ở đây sẽ quá nguy hiểm rồi!”, Đường Phong hoảng hốt nói.

“Dĩ nhiên, kền kền có thể tấn công chúng ta bất cứ lúc nào!”, Hàn Giang quay lại nhìn xung quanh, “Mà cũng phải cẩn thận cái gã bí ẩn đó”.

Đường Phong cũng ngó nghiêng xem xét tình hình trên đỉnh núi, cửa hang mà ba người họ đi ra nằm ở phía đông của đỉnh núi. Toàn bộ phần phíạ đông và phía nam

của đỉnh núi địa hình bằng phẳng, còn phía tây và phía bắc địa hình lại cao vút lên, đó cũng chính là nơi cao nhất của ngọn núi phía bắc.

Trên phần phía bắc và phía tây của ngọn núi có vài ngọn cây mọc thưa thớt. Đường Phong rất ngạc nhiên khi thấy trên ngọn núi cao như vậy mà cây cối vẫn có thế sinh trưởng được, còn những chỗ khác trên đỉnh núi lại là những bụi cây và cỏ hoang rậm rạp.

Hàn Giang cũng đang quan sát địa hình trên đỉnh núi:

“Sao không trông thấy gã đó nhỉ?”

“Có lẽ gã đó đang nấp trong một góc nào đó!”, Makarov nói.

“Cũng không nhìn ra trên đỉnh núi có nơi nào cất giấu được kệ tranh ngọc, ở đây cũng không trông thấy bất kì di vật nào của thời Tây Hạ?”, Hàn Giang không khỏi nghi ngờ.

“Đúng vậy! Để trên đỉnh núi rất không an toàn, sấm chớp đùng đoàng, gió thổi mưa rơi, thật sự không sao hiểu nổi!”, Makarov cũng thấy khó hiểu.

“Chúng ta nên tư duy ngược lại một chút đi. Năm đó, hội Hắc Lạt ma và Mã Viễn tới đây đều không tìm thấy kệ tranh ngọc. Tôi nghĩ, kệ tranh ngọc trong núi Hạ Lan này chắc chắn được cất giấu tại một nơi nào đó bí mật, không dễ phát hiện đâu.”

Đường Phong nói xong, bắt đầu đi men vách đá theo chiều kim đồng hồ để tìm kiếm. Bước thấp bước cao, vì dưới chân anh vốn không có đường đi, Đường Phong chỉ nhìn thấy toàn cỏ dại và bụi rậm. Khi hội Đường Phong đi tới vực núi phía nam, thì trên trời bồng dày đặc mây đen, rồi trong chớp mắt mây đã che kín ánh mặt trời, sương mù từ trong khe núi bắt đầu bay ra. Anh lại nhìn xuống dưới núi, dưới đó đã là một vùng trắng xóa, không thấy bất cứ cảnh vật nào.

Sương càng lúc càng dày đặc, toàn bộ đỉnh núi bị bao trùm trong sương khói. “Thời tiết thật kì lạ!”, dường như sương mù cũng đang bao phủ tâm trạng của Đường Phong.

Hàn Giang và Makarov cũng im lặng, ba người tiếp tục tiến lên phía trước. Chẳng mấy chốc, họ đã đi vòng qua phía tây của ngọn núi nhỏ. Đường Phong nhìn ngọn núi này, rồi lại nhìn về phía đỉnh núi nhỏ nhô lên ở phía bắc, hai ngọn núi xem chừng cao gần bằng nhau, nên rất khó phán đoán đỉnh núi nào mới là đỉnh cao nhất của ngọn núi phía bắc.

“Có cần leo lên không?”, Makarov hỏi Đường Phong và Hàn Giang.

“Đã tới đây rồi thì chắc chắn không thể bỏ qua!”, trong lòng Đường Phong càng lúc càng cảm thấy kì lạ. Cái gã bí ấn đó đi đâu rồi nhỉ, sao đột nhiên hắn lại biến mất? Còn kệ tranh ngọc thì ở đâu đây? Có lẽ phải đứng trên đỉnh núi thì mới có thể phát hiện ra manh mối nào đó.

Đường Phong, Hàn Giang và Makarov leo lên đỉnh núi phía tây trước và nhìn xuống phía dưới, mây khói dày đặc khiến họ chẳng thể trông thấy cảnh vật gì. Ba người thất vọng leo xuống rồi lại leo lên đỉnh núi phía bắc, vẫn là sương khói mịt mù, không trông thấy điều gì khác thường.

Đám mây đen trong lòng Đường Phong càng lúc càng dày dặc. Trải qua bao khó khăn vất vả như vậy, đã Ị gần đến được cuối đường mà lại chẳng phát hiện được gì.

Kệ tranh ngọc, gã bí ẩn đều chẳng thấy đâu, lẽ nào mọi thứ u đều kết thúc không có kết quả? Rõ ràng kí hiệu hình tam giác chỉ hướng này, nhưng... nhưng ở đây ngoài mây khói và cỏ dại ra đều chẳng có gì cả. Hàng nghìn năm trước, có lẽ người Đảng Hạng cũng chẳng để lại thứ gì ở đây, mọi — thứ đều do mình tự suy diễn, tưởng tượng ra mà thôi!

5

Một cơn cuồng phong thổi qua, cỏ hoang trên đỉnh núi uốn lượn như những cơn sóng, Đường Phong cảm thấy ớn lạnh thực sự. “Trên này không có gì đâu, xuống dưới đi!”, Hàn Giang giục.

Đúng lúc ba người chuẩn bị đi xuống thì một cơn cuồng phong khác lại kéo tới, cỏ hoang bị cuồng phong thổi rạp xuống đất. Đột nhiên, mắt Đường Phong sáng lên, aríh phát hiện trong bụi cỏ thấp thoáng hiện lên một vật gì đó. “Đợi đã!”, Đường Phong hét lên.

Hàn Giang và Makarov đều ngây người ra nhìn anh. Đường Phong vẫn chưa nhìn rõ đó là thứ gì, anh bước nhanh vài bước, chắc chắn mình đang đứng ở chỗ cao nhất, rồi nhìn xuống dưới, vị trí phát hiện ban nãy nằm ở chính giữa đỉnh núi. Đường Phong càng nhìn càng cảm thấy ở đó chắc chắn có vấn đề.

Hàn Giang và Makarov không biết Đường Phong phát hiện thấy gì, đều sững sờ nhìn anh. Đường Phong đứng ở nơi cao nhất trên đỉnh núi, nhìn chằm chằm vào giữa bụi cỏ. Anh chờ đợi, chờ đợi ông trời lại ban phát cho anh thêm một trận cuồng phong.

Vài phút sau, một cơn cuồng phong còn lớn hơn lại ào tới, cỏ hoang trên đỉnh núi bị gió thổi bạt, tất cả đều nàm rạp xuống. Đường Phong mở to mắt, không sai! Chính là vị trí đó, anh phát hiện chính giữa bãi cỏ hoang, chính giữa đinh núi thấp thoáng hiện lên một gò đất hình tròn.

Gò đất không cao, phía trên rất bằng phẳng, nhưng diện tích không hề nhỏ. Đường Phong phấn khởi hét toáng lên: “Tôi thấy rồi!”, sau đó lập tức lao xuống dốc núi.

Hàn Giang và Makarov vẫn ngây ra chưa hiểu Đường Phong định làm gì, rồi hai người đành vội vàng chạy theo anh, ba người cùng tới chính giữa đỉnh núi.

“Cậu hớt hơ hớt hải, gào thét loạn lên, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy?”, Hàn Giang hỏi Đường Phong.

“Nhìn này! Đây là cái gì?”, Đường Phong cuống cuồng đào bới trong bụi cỏ một lúc, sau đó nhặt một hòn đất đen sì lên.

“Cái này là cái gì? Không phải chỉ là hòn đất thôi sao?”, Hàn Giang không hiểu.

“Anh nhìn kĩ lại xem!”

Hàn Giang vẫn chưa nhìn ra gì cả. Makarov bóc lớp đất bên ngoài đi, ông đã nhìn ra manh mối: “Đây giống một viên gạch, hơn nữa chắc là gạch cổ.”

“Đúng! Lão Mã, bác nói đúng đó, đây là một hòn gạch thời Tây Hạ!”, giọng Đường Phong đầy hưng phấn.

“Trời! Cậu thành thần nhân rồi đấy, cậu đứng trên đó mà vẫn nhìn ra được một viên gạch của thời kì Tây Hạ sao?”, Hàn Giang làu bàu.

“Sao anh vẫn chưa hiểu nhỉ! Không phải tôi đứng trên đó nhìn ra hòn gạch này là của thời Tây Hạ, mà là… mà là tôi nhìn ra ở đây có một di chỉ kiến trúc.”

“Di chỉ kiến trúc?”, Hàn Giang và Makarov vô cùng kinh ngạc.

“Bởi vậy tôi mới chạy xuống và quả nhiên đã đào được viên gạch Tây Hạ ở đây!”, Đường Phong phấn khởi nhìn Hàn Giang và Makarov, “Nghĩ mà xem, nhớ lại dòng chữ Tây Hạ mà chúng ta thấy trên cổng vòm…”

“Thượng tự Tàng kinh lầu?!”, Hàn Giang và Makarov đều ngạc nhiên.

“Kể từ khi trông thấy cổng vòm đó và dòng chữ trên bậu cửa, tôi luôn nghĩ về cái nơi gọi là Tàng kinh lầu. Thông thường thì những đền chùa thời Tây Hạ, ngoài đại điện rộng lớn nằm ngang trên trục chính ra, thì xung quanh còn xây dựng thêm Phật tháp và Tàng kinh lầu. Tại Hạ tự chúng ta đã phát hiện thấy di chỉ đại điện và Phật tháp, ở giữa núi lại phát hiện thấy Tiền điện, Trung điện và Hậu điện của Thượng tự; vậy thì ở đây vẫn còn thiếu một tòa Tàng kinh lầu. Phải cộng thêm Tàng kinh lầu mới có thể cấu thành một ngôi chùa hùng vĩ hoàn chình!”, Đường Phong càng nói càng hưng phấn.

“Ý cậu thì đây chính là di chỉ Tàng kinh lầu?”, Hàn Giang hỏi.

“Còn có thể là thứ khác sao? Đứng bên trên, tôi đã ước lượng qua, ban nãy đứng đây.qũng lại ước lượng lại lần nữa, dưới chân chúng ta là một di chỉ gò đồi có đường kính tới mười bảy, mười tám mét”, Đường Phong suy đoán.

“Lớn vậy sao?”, Makarov ngạc nhiên.

“Như vậy xem ra Tàng kinh lầu là một kiến trúc hình tròn?”, Hàn Giang hỏi.

“ừm, Tàng kinh lầu chắc là một kiến trúc hình tròn, nhưng chưa từng được khai quật khảo cổ, nên hình dáng kiến trúc cụ thể phía trên thế nào vẫn chưa biết được.”

“Xây dựng một tàng kinh lầu hoành tráng như vậy trên đỉnh núi? Thật không thể tin được!”, Makarov không khỏi trầm trồ.

“Lão Mã, bác đã tới núi Võ Đang chưa? Trên đỉnh núi Võ Đang có một Kim điện, bên trong thờ Trấn Vũ đại đế. Hoàng đế Vĩnh Lạc đời Minh cho rằng, Trấn Vũ đại đế chính là thần hộ mệnh của triều Minh”, Đường Phong hỏi lại Makarov.

“Núi Võ Đang à?”, Makarov lắc lắc đầu.

“Tôi cho rằng kiến trúc ở đây khá giống với kiến trúc ở núi Võ Đang, thậm chí kiến trúc trên này còn hùng vĩ hơn cả Kim điện. Tôi không biết, kiến trúc này là do Nguyên Hạo xây dựng, hay là gia tộc Một Tạng xây dựng lúc điều hành triều chính. Nhưng hãy nghĩ mà xem, trên

đỉnh núi cao lại có một đại điện hoành tráng như vậy, thì nó chắc chắn là kiến trúc quan trọng nhất của Tây Hạ rồi”,

Đường Phong ngừng lại một lúc rồi nói tiếp: “Mọi người nghĩ xem, kệ tranh ngọc trong núi Hạ Lan có khả năng lớn nhất sẽ được đặt ở vị trí nào?”

‘Ý cậu là ở đây?!”, Hàn Giang và Makarov giật mình nhìn Đường Phong.

“Còn có chỗ nào hợp lý hơn chỗ này nữa? Chỗ này nằm trên đỉnh núi cao nhất, người ngoài khó tới nhất, còn… còn có cả kền kền nữa! Tôi bồng có ý nghĩ rằng, có lẽ người Đảng Hạng thời Tây Hạ cố ý nuôi kền kền ở đây cũng nên!”, Đường Phong mạnh dạn suy đoán.

“Đường Phong, cậu nói như vậy khiến tôi nghĩ ra, tuy tên gọi chính thức ở đây vào thời Tây Hạ là chùa Giới Đàn, nhưng bởi vì cách đây rất lâu người Đảng Hạng đã cố ý nuôi kền kền ở đây, nên người dân xung quanh trông thấy kền kền mới gọi nơi này là ‘chùa Hắc Thứu” đấy!”, Hàn Giang nói.

“Không sai! Chắc chắn là như vậy, hai con kền kền mà chúng ta nhìn thấy có lẽ chính là hậu duệ của những con kền kền canh chùa trước kia!”, Đường Phong vừa nói vừa cảnh giác nhìn lên không trung, lo sợ hai con kền kền đó đột ngột xuất hiện lao xuống quắp lấy mình. Nhưng lúc này trên tròi chỉ có mây mù.

1. Hắc Thứu: trong tiếng Hán, Thứu có nghĩa là chim kền kền. Hắc Thửu là chi loài kền kền đen.

6

Makarov nghe Đường Phong và Hàn Giang nói vậy liền nghĩ ngay rằng: “Nếu người Đảng Hạng nuôi kền kền thì chắc chắn họ cùng sẽ nuôi chim ưng.”

“Ùm, rất có khả năng đó. Lão Mã, bác lại nghĩ tới hình tô-tem...”, Đường Phong hỏi.

“Không thể không nghĩ tới! Hình tô-tem dáng sợ đó..Makarov lẩm bẩm.

Hàn Giang lại đào bới được vài viên gạch thời Tây Hạ trong đống đất, thậm chí còn có cả một mảnh gạch hoa văn. Nhưng chẳng mấy chốc, Hàn Giang từ trong nỗi vui mừng đã rơi tõm xuống sự thất vọng, anh nói: “Đường Phong, cậu đúng là biết ăn biết nói. Cứ cho rằng cậu nói đúng hết đi, đây chính là di chỉ của Tàng kinh lầu của Thượng tự, chỗ này quả thực rất quan trọng, nhưng còn kệ tranh ngọc đâu? Tôi chẳng quan tâm nhiều như thế, tôi chỉ cần nhìn thấy kệ tranh ngọc.”

Hàn Giang nói một hồi như vậy cũng khiến Đường Phong tỉnh táo ra. Đúng vậy! Đã thấy Tàng kinh lầu rồi, những chỗ quan trọng trong chùa Hắc Thứu cũng thấy rồi. Họ đã tới đỉnh núi, nhưng vẫn chưa phát hiện thấy dấu tích của kệ tranh ngọc. Đường Phong không khỏi hụt hẫng trong lòng: “Theo nhừng gì tôi nghĩ ban đầu thì kệ tranh ngọc chắc là được cất giấu trong Tàns kinh lầu.”

“Nhưng Tàng kinh lầu đã bị phá hủy rồi, chỉ còn lại di chỉ. Từ di chỉ cũng có thể nhìn ra, ở đây nằm trên đỉnh núi cao, rất dễ bị sét đánh trúng. Nhìn tiếp những viên gạch này, phía trên đều có dấu vết bị lửa thiêu, rõ ràng ở đây đã từng bị hỏa hoạn. Tôi nghĩ đây chính là nguyên nhân mà Tàng kinh lầu bị phá hủy!”. Hàn Giang ngừng một lúc rồi nói tiếp: “Nếu như kệ tranh ngọc được cất giấu trong Tàng kinh lâu, thì rât có thẻ nó đã bị thiêu hủy cùng với Tàng kinh lầu rồi!”.

“Gì cơ? Bị thiêu hủy rồi sao?”, Makarov và Đường Phong đồng thanh kinh ngạc.

“Vậy nên hội Hắc Lạt ma và Mã Viễn đã đóng quân nhiều ngày ở đây, mà vẫn không tìm thấy kệ tranh ngọc”, Hàn Giang nói.

“Còn một khả năng nữa là kệ tranh ngọc đã bị gã bí ẩn đó lấy mất rồi!”, Makarov thốt ra điều mà không ai muốn nghĩ đến.

“Không! Không thể như vậy! Chỉ có một con đường duy nhất có thể tới đây, kể cả gã bí ẩn có thể lấy được kệ tranh ngọc đi chăng nữa, thì cũng vẫn phải theo đương cũ quay về. Nhưng chúng ta không hề gặp gã, lẽ nào hắn ta tàng hình?”, bất luận thế nào Đường Phong cũng không thể chấp nhận sự thực này.

“Nếu như vậy thì chắc kệ tranh ngọc đã bị thiêu hủy từ lâu rồi!”, Hàn Giang lại bới thêm được vài viên gạch ngói cháy đen.

Kệ tranh ngọc bị thiêu hủy rồi? Lẽ nào những nỗ lực của chúng ta đều là công cốc? Đường Phong lo lắng đi đi

lại lại kiểm tra di chỉ gò đất, anh vẫn hi vọng có thế phát hiện thấy chút dấu tích nào ở đây. Anh tính toán một hồi, nếu như tiến hành khai quật khảo cổ toàn bộ diện tích này thì cả thời gian và kinh phí đều vô cùng tốn kém. Hơn nữa, rất có khả năng là sau khi khai quật vẫn chẳng thu hoạch được gì.

Lại một cơn cuồng phong nữa ập tới, Đường Phong thất vọng đến đỉnh điểm. Anh chậm rãi bước xuống gò đất, đi vài bước về phía nam, nhìn gò đất phía bắc phía sau đỉnh núiề Đây là một đường trục thẳng, nếu như vẫn còn phát hiện gì đó, thì chắc chắn sẽ là ở đây - trên đường trục thẳng này.

Đường Phong không tin mình sẽ tiến công để rồi uổng công. Anh nghi ngờ chắc chắn đã xảy ra vấn đề ở chỗ nào đó. Tàng kinh lầu đã bị cháy rụi, lẽ nào cổ nhân lại đặt kệ tranh ngọc quý giá trong Tàng kinh lầu dễ bị sét đánh trúng đó? Không! Khòng thể! cổ nhân chẳng thể kém thông minh hơn người hiện đại, điều này đã được chứng minh trong vô số những cuộc thám hiểm khảo cổ trước đó của Đường Phong.

Đường Phong vừa nghĩ ngợi mông lung vừa lùi vài bước về phía nam. Đột nhiên, chân anh bị vấp một cái, anh lảo đảo rồi ngã nhào xuống bụi cỏ. Hàn Giang và Makarov thấy Đường Phong chớp mắt một cái đã biến mất liền vội vàng lao tới. Đến nơi, họ đã thấy Đường Phong nằm ngửa.mặt lên trời, giữa một bụi cỏ.

Hàn Giang và Makarov đỡ Đường Phong dậy, hỏi han: “Cậu sao thế? Đến đi cũng không vững nữa à?”

“Hừm!”, nói xong, Đường Phong ngồi dậy, “Ban nãy trên mặt đất có cái hố, tôi thụt chân xuống đó.”

“Hố?”, Hàn Giang và Makarov vội vàng lùng sục trong bụi cỏ, nhổ một đám cỏ lên, quả nhiên, bên cạnh chân Đường Phong là một cái hố nhỏ bị cỏ dại phủ kín.

Đường Phong bốc một ít đất bên trong lên, quan sát một

lúc, rồi lại bới một ít đất bên cạnh lên xem. Sau một hồi xem xét kĩ lưỡng như vậy, Đường Phong chỉ vào cái hố dưới chân, nói bằng giọng ra lệnh: “Đào!” đều

“Đào?”, Hàn Giang và vừa Makarov ngớ người ra.

“Cậu thành chỉ huy của bọn tôi từ lúc nào vậy?”, Hàn Giang vừa vỗ đầu Đường Phong nói.

“Ai nói có lý thì nghe người đó. Hơn nữa chân tôi bị trật khớp rồi, coi như là bị thương do làm nhiệm vụ!”, Đường Phong kêu lên.

“Cậu nói có lý ư? Đào cái hố này lên thì có lý ở chỗ nào?”, Hàn Giang hỏi.

“Đúng vậy! Cậu nhìn thẩy manh mối gì vậy?”, Makarov cũng hỏi.

“Hai người đừng hỏi nhiều như vậy nữa, chỉ cần đào thôi, một lúc nữa hai người sẽ biết!”, xem ra Đường Phong cũng có vài phần tự tin.

Hàn Giang bó tay, đành phải lôi chiếc xẻng sắt công binh trong ba lô ra, bắt đầu đào đúng chỗ mà Đường Phong chỉ. Hàn Giang chỉ đào vài nhát mà đã thấy có chút khác thường, anh nhìn lại Đường Phong. “Cứ tập trung đào đi!”, Đường Phong ra lệnh.

Hàn Giang nổi cáu, ra sức đào thật nhanh, bỗng anh mất thăng bằng, ngã chúi về phía trước, đầu dốc xuống dưới hố đất.

“Mẹ kiếp! Cậu chơi tôi đấy à?”, Hàn Giang điên tiết gào lên.

“Anh chửi gì thế! Lý lẽ của tôi anh vẫn chưa lĩnh hội được ư?”, giọng Đường Phong đầy phấn khởi.

Hàn Giang lồm cồm bò dậy, nhìn lại thì cái hố đó quả thực nó đã lõm xuống khá sâu, chiếc xẻng sắt cũng rơi vào trong rãnh. “Ở đây có hang?!”, Hàn Giang ngạc nhiên kêu lên.

Lần này không đợi Đường Phong ra lệnh, tự Hàn Giang đã rút xẻng ra, bắt đầu đào đất trên cửa hang. Chẳng mấy chốc, miệng hang mới bé bằng chiếc bát đã biến thành một miệng giếng rộng hơn nửa mét.

7

Hàn Giang thò đầu ra nhìn xuống dưới, anh chỉ nhìn thấy chút đất, nhưng khi soi đèn pin sang bên cạnh thì anh ngạc nhiên phát hiện ra xung quanh vách hang đều được xây bằng những viên gạch xanh ngay ngắn.

“Đây... đây là cái gì? Một kho báu?”, Hàn Giang nghi ngờ nhìn Đường Phong.

“Đây là một miệng giếng! Chỉ có điều đã hoang phế nhiều năm, bên trên bị đất cát che kín. Ban nãy, lúc tôi thụt

chân xuống, liền nghĩ ngay rằng phía dưới nhất định có thứ gì đó!”, Đường Phong phán đoán.

“Giếng?”, Hàn Giang và Makarov đều ngạc nhiên.

Hàn Giang lại thò đầu nhìn xuống dưới, đây quả thực là một miệng giếng. Thành giếng hình tròn, được xây từ những viên gạch xanh, giống hệt như giếng cổ trước đây anh đã từng trông thấy. Nhưng miệng giếng này lại khiến Hàn Giang không hiểu: “Trên đỉnh núi không có nước, vậy thì đào giếng để làm gì?”

“Vấn đề chính là ở chỗ đó!”, Đường Phong cố ý lấp lửng.

“Nói mau, tại sao ở đây lại có miệng giếng?”, Hàn Giang thúc giục.

Đường Phong đứng lên, rồi lại dùng mắt xem xét địa hình trên đỉnh núi, sau đó mới nói: “Tôi đã kiểm tra kĩ lưỡng địa hình trên đỉnh núi, ban nãy trên núi tôi đã áng chừng sai, thật ra gò đất vốn không nằm chính giữa đỉnh núi”.

“Ồ! Không nằm chính giữa đỉnh núi?”, Hàn Giang và Makarov đều ngạc nhiên.

“Đúng vậy! Gò đất nằm hơi chếch về phía bắc, còn cái giếng này mới chính xác là nằm chính giữa đỉnh núi!”

Kết luận của Đường Phong khiến Hàn Giang và Makarov vừa ngạc nhiên vừa nghi ngờ: “Miệng giếng này nằm chính giữa đỉnh núi?”, Hàn Giang và Makarov cũng dùng mắt ước lượng lại một lượt, “Cũng gần đúng, nhưng như vậy nói lên điều gì?”

“Vị trí hiện giờ chúng ta đang đứng, vừa vặn nằm trên trục nam bắc. Kiến trúc của Trung Quốc từ cổ xưa đã chú trọng sự đối xứng, càng là những kiến trúc quan trọng, thì càng phải nằm trên đường trục. Hiện giờ chúng ta đang nhìn về phía bấc, miệng giếng này, gò đất và đỉnh núi phía bắc, cả ba thứ vừa vặn đều nằm trên một trục thẳng nam bắc. Đây là một cách phân bố rất ý nghĩa, được quy hoạch ngay từ lúc xây dựng Tàng kinh lầu!”, Đường Phong giải thích.

Hàn Giang và Makarov nhìn về hướng bắc, cả ba thứ quả thực đều phân bố trên trục thắng nam bắc. Đường Phong lại nói tiếp: “Nếu tôi nhìn không lầm thì đỉnh núi phía bắc sẽ cao hơn đỉnh núi phía tây và là đỉnh cao nhất trong toàn bộ rặng núi này, bởi vậy năm đó, người Đảng Hạng đã xây Tàng kinh lầu ở đây, xây dựng Tàng kinh lầu trên đường trục nam bắc. Vậy thì, việc xuất hiện miệng giếng này trên đường trục nam bắc, không phải đã cho thấy ý nghĩa trọng đại của nó rồi sao? Huống hồ, miệng giếng này còn nằm ở vị trí chính giữa, địa vị thậm chí còn ngang hàng với đỉnh núi phía bắc và Tàng kinh lầu.”

“Một cái giếng vớ vẩn mà địa vị còn cao hơn Tàng kinh lầu và đỉnh núi?”, Hàn Giang không sao tin được.

“Từ thời cổ xưa kiến trúc Trung Quốc đã phân đẳng cấp, Tây Hạ cũng không ngoại lệ. Mỗi một kiến trúc, bao gồm cả kiến trúc lần núi non sông nước quanh đó, đều được phân biệt đẳng cấp; có kiến trúc ở vị trí tôn nghiêm, có kiến trúc ở vị trí thứ yếu, có kiến trúc lại ở vị trí thấp

kém. Đẳng cấp được phân rất nghiêm ngặt, không thể đánh đồng với nhau được. Bởi vậy, có những lúc chúng ta có thể căn cứ vào vị trí của một kiến trúc cổ để phán đoán tầm quan trọng của nó, từ đó suy đoán ra kích cỡ và hình dáng của kiến trúc đó, vân vân”, Đường Phong giải thích một tràng.

“Phức tạp như vậy thì cậu không cần dài dòng nữa, làm tôi nhức cả đầu. Ý cậu tôi cũng hiểu rồi, tức là cái giếng này rất quan trọng, nhưng nó có liên quan gì tới kệ tranh ngọc?”, Hàn Giang hỏi Đường Phong.

“Nếu như tôi đoán không nhầm thì trong miệng giếng này có thứ gì đó. Anh không tin thì xuống đấy mò đi!”

“Không phải cậu định nói kệ tranh ngọc ở dưới giếng chứ?”, Hàn Giang nhìn xuống dưới giếng nghi ngờ.

“Anh thử đào xem! Hiện giờ cái giếng này bị bùn đất đọng khô cứng rồi, phải đào giếng mới nhìn thấy được phía dưới!”, Đường Phong ra vẻ bí hiểm.

“Dưới giếng này lẽ nào không có nước sao?”, mặt Hàn Giang lộ rõ vẻ ưu tư.

“Chẳng phải ban nãy anh đã mạnh dạn phán đoán rằng trên đỉnh núi cao thế này thì lấy đâu ra nước? Sao bây giờ bảo anh xuống, anh lại lo bên dưới có nước?”, Đường Phong châm chọc Hàn Giang.

“Mẹ kiếp, sao bây giờ cứ việc nặng việc nhọc, việc bẩn thỉu là tới lượt tôi làm vậy, dù gì thì tôi cũng là cán bộ lãnh đạo!?”, Hàn Giang tức giận gào lên.

“Thì chính bởi vì anh là lãnh đạo nên lúc vất vả anh phải tiên phong, ở đâu có vất vả, ở đâu có nguy hiểm thì anh phải xông vào đó, như vậy mới ra dáng lãnh đạo chứ! Anh yên tâm, dưới giếng không có nước, không có cóc nhái, cũng không có rắn độc dã thú, siêu nhân, quái vật gì đâu!”

“Đúng vậy! Trên núi cao thế này không thể có những thứ đó được!”, Makarov cũng phụ họa theo.

“Được rồi! Tôi xuống, tôi sẽ tin cậu thêm lần nữa!”,- Hàn Giang vừa nói, vừa chuẩn bị dụng cụ xong xuôi để xuống giếng.

Nói là xuống giếng nhưng giếng không hề sâu, người Hàn Giang lọt vào trong giếng gần như đã bịt kín cả miệng giếng, anh không thể xoay người trong đó.

8

Hàn Giang khó nhọc đào vài nhát xẻng sắt, nhưng chỉ đào lên được chút bùn đất và sỏi đá, chẳng có gì cả. Đường Phong xem kĩ từng chút đất đá mà Hàn Giang đào được. Hàn Giang đào được khoảng hai mét thì người đã ướt đẫm mồ hôi, thở hổn hển; nhưng không phải do đào đất mà mệt, chủ yếu là do không gian chật hẹp trong giếng làm anh ngộp thở.

“Để Hàn Giang lên nghỉ một lúc đi, tôi sẽ xuống thay!” Makarov đề nghị với Đường Phong.

Đường Phong xua xua tay: “Không cần, sắp xong rồi bác!”

“Cậu điều khiển cái gì đấy hả cậu nhóc! Tôi đào sâu như vậy rồi, chẳng có cái quái gì cả!”, Hàn Giang dưới ^; giếng oán thán.

“Đừng nóng vội, anh là cán bộ lãnh đạo, phải cần cù chăm chỉ, đừng có mới làm có chút việc đã kêu mệt như thế!”, Đường Phong châm chọc Hàn Giang.

“Cái này mà gọi là làm chút việc à?”

“Cẩn thận! cẩn thận đấy!”

“Cậu cũng có chút lương tâm quá nhỉ, vẫn còn biết quan tâm tôi cơ à?”

“Không phải tôi bảo anh cẩn thận, mà là bảo anh đào cẩn thận. Ngộ nhỡ có báu vật gì đó bị anh làm hỏng thì anh không gánh được trách nhiệm đâu!”

Hàn Giang hậm hực lườm Đường Phong một cái, cắm mạnh xẻng xuống đất. Một tiếng “Cạch...” lanh lảnh vang lên, khiến dây thần kinh trong đầu ba người rung mạnh, có thứ gì đó thật sao?! Hàn Giang vội vàng cúi người xuống, khẽ vuốt lớp đất dưới chân, một vật bằng ngọc lộ ra. “Là ngọc! Là một vật bằng ngọc!”, anh mừng rỡ reo lên.

“Thứ gì bằng ngọc vậy?”, Đường Phong bên trên quan tâm hỏi.

“Tôi không biết, nhưng không phải là kệ tranh ngọc.

Một miếng ngọc dài dài, đầụ nhọn nhọn”, Hàn Giang dưới giếng nói vọng lên oang oang.

“Đưa nó lên đây!”, tuy Đường Phong đã chắc mẩm trong lòng, nhưng vẫn nóng lòng muốn nhìn thấy vật đó. Hàn Giang cầm vật đó leo lên.

Đường Phong cầm vật bằng ngọc, nói: “Ai bảo anh lên đây?”

“Không phải cậu bảo tôi lên sao?”

“Tôi bảo anh đưa vật này lên chứ có gọi anh lên đâu!”

“Này, cậu tưởng mình thành đội trưởng rồi chắc, giờ cậu lập tức xuống dưới đào đi!”, Hàn Giang cáu tiết.

Đường Phong thấy Hàn Giang có vẻ nổi nóng thật liền vội vàng đổi sang tươi cười: “Cán bộ lãnh đạo, không nên mới có chút thành tích đã ngạo mạn như vậy!”

“Đừng lắm lời, đây là thứ bằng ngọc, nhưng cũng đâu có phải là kệ tranh ngọc đâu!”

Đường Phong tỉ mẩn mân mê vật bằng ngọc trên tay, vật đó mát lạnh trơn bóng, lôi cuốn, hấp dẫn người xem. Chỉ có điều, đối với Đường Phong sức cuốn hút của nó kém xa kệ tranh ngọc. Đây là cảm giác mà Đường Phong tôi luyện được sau nhiều năm nghiên cứu văn vật. Anh ngắm nghía hồi lâu mới giải thích: “Cái này cũng được làm thành từ bạch ngọc Nephrite vùng Hòa Điền Tân Cương, nhưng chất ngọc không tốt bằng kệ tranh ngọc chúng ta thấy trước đây. Trong phân loại của bạch ngọc Hòa Điền, thì nó chỉ thuộc hạng trung, nhưng trong thời Tây Hạ thì đây cũng là loại ngọc rất tốt rồi. Vật bằng ngọc này chắc gọi là ngọc bội, là miếng ngọc tế lễ của đế vương thời cổ đại. Đế vương thời cồ đại, trong lúc tế lễ sẽ

khắc những lời muốn nói với thần linh trên trời hoặc liệt tổ liệt tông lên trên đó, sau đó chôn xuống đất hoặc là ném xuống nước để đạt được mục đích nói chuyện với thần linh hay liệt tổ liệt tông.

“Có phải cậu đoán trước được dưới giếng sẽ có ngọc bội phải không?”, Hàn Giang hỏi.

“Ban nãy tôi đã giải thích qua với mọi người về tầm quan trọng của miệng giếng này. Địa vị của miệng giếng này còn cao hơn cả Tàng kinh lầu và đỉnh núi cao nhất, vậy thì sẽ là gì đây? Tôi liên tưởng tới nghi lễ tế lễ trong lịch sử Trung Quốc, nên đã nghĩ tới miệng giếng này. Đây thực ra là một cái giếng vàng, nơi được gọi là Tàng kinh lầu, thực ra là nơi tế lễ của đế vương Tây Hạ. Đế vương Tây Hạ tế lễ ở đây, khắc những lời muốn nói với thần linh trên trời và liệt tổ liệt tông lên ngọc bội, sau đó ném xuống giếng”, Đường Phong giải thích.

“Đường Phong, trên này hình như có chữ!”, Makarov phát hiện thấy manh mối trên ngọc bội.

“Cháu cũng trông thấy rồi, toàn là chữ Tây Hạ. Tổng cộng ba mươi bảy chữ: Bạch cao Đại Hạ quốc hoàng đế Ngôi Danh Lượng Tộ phục cai trưởng sinh thiên, sơn xuyên hà khứu, liệt tổ liệt tông, bảo hộ ngã quốc gia thiên thu vạn đại, quốc tộ vĩnh xướng”, Đường Phong đọc những chữ trên ngọc bội lên.

“Nghĩa là gì?”, Hàn Giang hỏi.

“Đều là những lời cát tường, hoàng đế đời thứ hai của Tây Hạ là Lượng Tộ, cầu mong ông trời và liệt tổ liệt tông phù hộ cho vương triều Tây Hạ thiên thu vạn đại, đất.

nước của Lượng Tộ mãi mãi vĩnh hằng! Anh tiếp tục xuống dưới xem có còn món đồ ngọc nào nữa không?”, Đường Phong thúc giục Hàn Giang xuống giếng.

Lúc này Hàn Giang đã bị cuốn hút bởi khám phá mới nên cũng không buồn đôi co với Đường Phong nữa, anh nhảy nsay xuống giếng. Chẳng mấy chốc, anh lại đào thêm được một vật bằng ngọc giống hệt, rồi ngay sau đó là miếng ngọc bội thứ ba.

9

Đường Phong kiểm tra kĩ mấy miếng ngọc bội, hai miếng được đào lên sau đó cùng một loại ngọc với miếng thứ nhất, thậm chí hoa văn còn khá giống nhau, từ đó có thể suy đoán: mấy miếng ngọc bội này được xẻ ra từ cùng một tảng ngọc. Nhìn tiếp văn tự khắc ở đó, trên miếng ngọc bội thứ hai viết: Bạch cao Đại Hạ quốc hoàng thái hậu phục cai trường sinh thiên, sơn xuyên hà khứu, liệt tổ liệt tông, bảo hộ ngã quốc gia thiên thu vạn đại, quốc tộ vĩnh xướng, Một Tạng Thị nhân đinh hưng vương, lục súc phồn thịnh.

“Trên miếng ngọc bội này tuy không viết rõ là làm cho vị hoàng hậu Tây Hạ nào, nhưng những dòng phù khấn cho Một Tạng Thị sau đó có thể thấy, người cho chế tác miếng ngọc bội này chắc là hoàng hậu Một Tạng”, Đường Phong suy đoán.

“Chỉ từ miếng ngọc bội này cho thấy, vị hoàng hậur" Một Tạng này không chuyên quyền như trước đây chúng ta từng suy đoán! Bà chỉ cầu khấn trên đó rằng: mong thần linh, tổ tiên phù hộ cho gia tộc Một Tạng hưng thịnh, gia súc sinh sôi đầy đàn, lời cầu khấn này cũng chẳng có gì là không hợọp lý cả!”, Makarov không hiểu nên hỏi lại.

“Đúng vậy! Theo lý thì miếng ngọc bội này được ném xuống giếng, người ngoài vốn không trông thấy được.

Nếu như hoàng hậu Một Tạng Thị chuyên quyền, thì bà còn có thể viết thẳng thắn hơn trên đó, nhưng bà lại không làm vậy!”, Đường Phong cũng thấy thật khó hiểu.

“Mau xem trên miếng ngọc bội thứ ba viết gì vậy?”,

Hàn Giang nói.

“Trên miếng ngọc bội thứ ba viết rằng: Bạch cao Đại Hạ quốc hoàng đế Ngôi Danh Lượng Tộ phục cai trường sinh thiên, sơn xuyên hà khứu, liệt tô liệt tông, bảo hộ ngã quốc gia thiên thu vạn đại, quốc tộ vĩnh xướng, sát hại Một Tạng Thị”. Sau khi Đường Phong đọc xong mấy chữ cuối, người anh run bắn lên, “Sát hại Một Tạng Thị! Xem ra trước khi Lượng Tộ hạ quyết tâm sát hại Một Tạng Thị thì ông đã từng tới đây, cầu khấn trời đất, núi non sông nước, liệt tổ liệt tông ở đây rồi ném miếng ngọc bội đã viết xuống giếng vàng”.

“Sau này Lượng Tộ quả nhiên đã sát hại thành công hoàng hậu Một Tạng, giành lại quyền lực”, Hàn Giang nói.

“Gần như mỗi vị hoàng đế Tây Hạ khi lên ngôi đều mang theo cả sự đổ máu, chém giết vô tình! Hoàng hậu Một Tạng, một người đàn bà bí ẩn như câu đố này, rốt cuộc là người thế nào? Là loại hoàng hậu yêu quái được sủng ái mà trở nên ngạo mạn, dâm loạn chốn hậu cung, nắm quyền làm loạn triều chính, hay chỉ là một người mẹ bình thường?”, Đường Phong lại nhớ tới chiếc xương sọ bị mất.

“Đường Phong, tạm thời đừng quan tâm tới hoàng hậu Một Tạng nữa, chỉ đào được ba miếng ngọc bội đó lên còn chẳng thấy kệ tranh ngọc đâu cả!”, Hàn Giang đã bắt đầu sốt ruột.

“Được rồi! Tôi sẽ nói cho anh biết suy nghĩ của tôi. Khi tôi phát hiện ra cái giếng này, tôi nghĩ đây không chỉ là nơi cao quý nhất trên đỉnh núi, mà là nơi quan trọng nhất, cao quý nhất của chùa Hắc Thứu. Bởi vậy, rất có thể cái giếng này chính là nơi để vương Tây Hạ cất giấu kệ tranh ngọc. Mọi người có còn nhớ lúc ở Thất sắc cẩm Hải, Đại Lạt ma đã kể cho chúng ta nghe về tung tích sau này của kệ tranh ngọc không?”. Đường Phong không đợi Hàn Giang kịp mờ lời liền nói tiếp: “Đại Lạt ma kể về bốn kệ tranh ngọc, trong lúc Tây Hạ vong quốc đã ra lệnh cho các dũng sỹ Đảng Hạng đưa bốn kệ tranh ngọc tới bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Vậy thì, mọi người thử nghĩ mà xem, kệ tranh ngọc được đưa tới núi Hạ Lan sẽ được cất ở đâu đây? Chắc chắn sẽ phải chọn một nơi nguy hiểm nhất, không dễ phát hiện nhất. Nếu như dũng sỹ Đảng Hạng đó biết về sự tồn tại của giếng vàng, thì việc cất giấu nó tại đây chẳng có gì để nghi ngờ cả.”

“Vậy tại sao không phải là trong Tàng kinh lầu?”, Hàn Giang hỏi.

“Bởi vì Tàng kinh lầu được xây trên đỉnh núi, dễ bị sét đánh trúng; không biết chừng trong thời kì Tây Hạ vong quốc Tàng kinh lầu đã bị sét đánh thiêu hủy.”

Hàn Giang còn định nói thêm gì đó, nhưng Đường Phong không đợi liền nói tiếp một hơi: “Tôi còn có thể giải thích tại sao lại không cất giấu trong Hậu điện. Bởi vì tuy ở đó bí mật, nhưng lại không phải không thể,đến được. Hơn nữa, nếu như có người vào được trong Tiền điện thì chắc chắn người đó sẽ vào thẳng Hậu điện, mà không ngờ rằng kệ tranh ngọc lại cất giấu dưới giếng vàng. Tại sao lại không tìm chồ nào đó để chôn? Bởi vì cất giữ báu vật là để người đời sau tìm thấy, bởi vậy nhất định phải cất giấu ở một nơi đặc biệt, chứ không thể tùy tiện chôn kệ tranh ngọc ở nơi nào đó. cất giấu kệ tranh ngọc dưới giếng vàng vừa khiến người ta không thể ngờ tới, lại không dễ dàng đoạt được. Ngoài những điều đó ra, còn có kền kền bảo vệ.

Đồng thời làm như vậy lại vừa có thể để lại dấu vết cho những người có tâm muốn tìm kiếm.”

“Đúng! Cậu nói có lý. Nhưng còn kệ tranh ngọc thì sao? Theo lý thì ba miếng ngọc bội đó được ném xuống giếng từ đầu những năm Tây Hạ, còn kệ tranh ngọc lại được dưa tới đây vào những năm Tây Hạ suy vong, nếu vậy thì kệ tranh ngọc phải nằm trên những ngọc bội này mới đúng chứ!”, Hàn Giang nói ra nghi ngờ của mình.

“Theo lý mà nói thì là như vậy, nhưng có lẽ người cất giấu báu vật năm đó đã cố ý trêu chọc chúng ta!”, Đường Phong vẫn ra vẻ đã khám phá ra thành quả.

“Ý cậu là kệ tranh ngọc vẫn ở dưới đó?”

“Dũng sỹ Đảng Hạng này chắc chắn là một người hữu dũng hữu mưu. Nghĩ mà xem, sau khi Một Tạng Thị thất thế, Lượng Tộ hạ lệnh đóng cửa Thượng tự, phá bỏ lối đi để không cho người bên ngoài nhòm ngó. Vị dũng sỹ Đảng Hạng này chắc hẳn phải rất vất vả mới đặt được kệ tranh ngọc vào trong giếng vàng, bởi vậy chắc chắn anh ta sẽ cố gắng hết sức để cho người đời sau không dễ dàng tìm thấy kệ tranh ngọc.”

“Tôi hiểu rồi, nhất định là dũng sỹ Đảng Hạng đó đã lấy ngọc bội lên, sau đó chôn kệ tranh ngọc thật sâu rồi để những ngọc bội đó lên trên. Như vậy những kẻ trộm cắp không rõ về nơi này, cơ bản sẽ không ngờ rằng kệ tranh ngọc ở phía dưới những miếng ngọc bội!”, Hàn Giang gần như đã thông suốt, anh lại vung chiếc xẻng trong tay, chỉ có điều, lần này anh lại rất nhẹ nhàng, cẩn thận.
 

hoahongden12

Active Member
Tử Thư Tây Hạ
Quyển 3 - Chương 19: Stechkin

Hàn Giang quăng xẻng sắt xuống, bắt đầu lấy hai tay đào đất. Một phút, hai phút, ba phút qua. đi, đôi tay Hàn Giang gần như không ngừng dào bới, tim anh đập rộn ràng. Rốt cuộc, tay anh đã chạm vào một vật mềm mềm...

1

Hàn Giang cân thận đào tiêp xuông dưới, anh phát hiện ra bùn đất phía dưới còn rắn chắc hơn rất

nhiều, giống như ai đó cố ý nén xuống vậy. Tốc độ đào đất của anh rất chậm. Từng phút, từng phút qua đi, nhưng anh không còn đào thấy ngọc bội nữa. Khi đã đào sâu tới ba mét thì xẻng sắt của Hàn Giang chạm khẽ vào một vật cưng cứng.

Kinh nghiệm bao năm đã khiến Hàn Giang lập tức nhận ngay ra, vật này còn cứng hơn cả bùn đất xung quanh. “Chạm tới rồi!”, Hàn Giang phấn khởi hét lên.

“Chạm vào gì vậy?”, Đường Phong quan tâm hỏi.

“Một vật cứng!”. Hàn Giang quẳng xẻng sắt xuống, bắt đầu lấy hai tay đào đất. Một phút, hai phút, ba phút qua đi, đôi tay Hàn Giang gần như không ngừng đào bới, tim anh đập rộn ràng. Rốt cuộc, tay anh đã chạm vào một vật mềm mềm, đây là cái gì? Chắc chắn đây không phải là kệ tranh ngọc! Hàn Giang giật mình, vội vàng lấy đèn pin soi, một vật đen sì sì, giống như đất cát nhưng lại không phải. Anh giật thót tim: “Đường Phong, rốt cuộc thế nào đây? Sao không thấy kệ tranh ngọc đâu cả?”

Đường Phong nhoài tới miệng giếng, thò đầu xuống, lấy đèn pin soi soi, cười nói: “Không sao, đây là gỗ mục. Xem ra kệ tranh ngọc này năm đó chắc chắn được đặt trong một chiếc hộp gỗ tinh xảo, nhưng do bao năm tháng qua đi, hộp gỗ đã mục nát rồi. Đống đen sì sì đó chính là cặn bã phần mủn của chiếc hộp gồ đó.”

Nghe Đường Phong nói vậy, Hàn Giang mới yên tâm hơn một chút, anh vội vàng hất đống đen sì đó đi. Chẳng mấy chốc, một kệ tranh ngọc trơn mát, trắng bóng đã hiện lên trước mắt Hàn Giang.

Hàn Giang không giấu được sự vui mừng, anh rón rén cẩn thận nâng kệ tranh ngọc lên, sau đó nhảy lên mặt đất. Đường Phong đón lấy kệ tranh ngọc, hai tay vuốt ve nó, cảm nhận nó, sau đó giao kệ tranh ngọc cho Makarov.

Từ hồi đi theo giáo sư La, khả năng nhận biết chữ Tây Hạ của Đường Phong đã tiến bộ rõ rệt. Lúc này, tuy Đường Phong rất muốn khám phá ngay những văn tự trên kệ tranh ngọc, nhìn ngắm bản đồ trên đó, nhưna anh muốn để tất cả người cùng được hưởng niềm vui thắng lợi này.

“Bây giờ xem ra bốn kệ tranh ngọc đều đã được tìm thấy rồi. Hai tấm tại Hắc Thủy Thành và trên tuyết sơn Ni Mã Khanh đã nằm trong tay chúng ta, tấm trên núi Hạ Lan này cũng đã được chúng ta tìm thấy, chỉ có tấm được cất giấu tại Đôn Hoàng là đã bị Tướng quân cướp mất”, Đường Phong tổng kết.

“Xem ra giữa chúng ta và Tướng quân không tránh khỏi một trận tranh cướp sống chết!”, Hàn Giang lẩm bẩm.

Ai ngờ, Hàn Giang vừa dứt lời thì một giọng nói bỗng vang lên sau lưng họ: “Trận tranh cướp đó giờ có thể bắt đầu sớm rồi đấy!”

2

Ba người giật mình, cùng lúc quay lại nhìn. Hàn Giang và Makarov phản ứng nhanh nhạy, trong lúc quay người đã kịp rút súng ra. Mây khói lởn vởn trên đỉnh núi, một chọi ba, Đường Phong cũng rút súng ra. Đứng trước mặt họ là một người đàn ông nước ngoài cao gầy, trọc đầu.

“Stechkin!”, tuy Đường Phong đã sớm chuẩn bị tâm lý từ trước, nhưng vẫn giật mình.

“Khà, khà, cậu là Đường Phong phải không! Không sai, chính là tại hạ!”, Stechkin nói bằng giọng tiếng Trung lơ lớ nhưng nghe vẫn hiểu được.

“Gã bí ẩn đó chính là ông phải không?”, Makarov hỏi bằng tiếng Nga..

“Ha ha, Ivan, thật không ngờ chúng ta lại gặp nhau ở đây. Nói ra thì chúng ta cũng là đồng nghiệp cũ đấy. Tuy hồi đó chúng ta không làm việc cùng nhau, nhưng lúc tôi ở trong phân cục Leningrad cũng đã nghe qua đại danh của anh. Những kí hiệu đánh dấu trong rừng cây và cả trên suốt đường đi đều do tôi khắc, nhưng điều đó chẳng liên quan gì tới các người, đấy chẳng qua là do tôi sợ lạc đường nên tự mình đánh dấu mà thôi!” Stechkin giải thích về những kí hiệu hình tam giác.

“Quả nhiên tôi đoán không sai, đó là thói quen mà anh giữ lại từ hồi còn ở trong KGB!”

“Anh đừng nhắc tới KGB nữa. Lúc ngồi tù ở Bonika, tôi đã nghĩ rằng sau này ra ngoài tôi sẽ giết hết lũ KGB, nhưng ân nhân của tôi đã khiến tôi thay đổi suy nghĩ đó.”

“Ân nhân?”

“Ý anh nói tới Tướng quân?”

“Khà khà, đúng vậy!”

“Tướng quân là ai?”

“Ivan, anh không phải nóng vội đâu!”, nói tới đây, Stechkin bỗng quay sang nói với Đường Phong và Hàn Giang bằng giọng tiếng Trung lơ lớ, “Hai người cũng không cần sốt một đâu, nếu Tướng quân muốn gặp hai người thì tự ắt các anh sẽ được gặp ông. Nếu như Tướng quân không muốn gặp thì hai người cũng vĩnh viễn không bao giờ gặp được ông đâu.”

“Được rồi! Tôi không hỏi ông về Tướng quân, tôi hỏi về một người khác. Ông có thể nói cho tôi biết cái gã

White năm đó làm thế nào mà trốn thoát ngay dưới mắt chúng tôi không?”, Makarov đột nhiên hỏi.

Rõ ràng Stechkin không ngờ Makarov lại hỏi câu này nhưng ông ta hơi lùi lại phía sau một bước, sau đó nói: “Ivan, sao anh lại biết chuyện năm đó?”

“Đừng có quên tôi làm nghề gì?”

“Dĩ nhiên là tôi không quên, anh là thiếu tướng, còn tôi chỉ là một tên tù. Nhưng... nhưng những chuyện năm đó tôi không nhớ rõ nữa rồi!”, nói tới đây Stechkin dùng một tay day day thái dương, dáng vẻ rất đau khổ.

Makarov, Đường Phong và Hàn Giang đều không hiểu tại sao khi Stechkin nghe thấy câu hỏi này thì bộ dạng lại kì quái như vậy. Ba người không dám lơ là, cùng chĩa súng về phía ông ta. Đường Phong ôm chặt kệ tranh ngọc trong tayằ

Cứ kéo dài như vậy một lúc, Stechkin gần như đã hồi phục lại, ông ta cười lạnh lùng nói: “Đường Phong, cậu không cần phải giữ khư khư kệ tranh ngọc như vậy đâu, nó sắp là của tôi rồi!”

“Gì cơ?”, Đường Phong nghe vậy lại càng ôm kệ tranh ngọc chặt hơn.

“Vậy thì các người mau ngoan ngoãn giao nộp kệ tranh ngọc ra đây, tôi hứa sẽ không lấy mạng các người.

Các người phải biết rằng, nếu lần này tôi mà muốn lấy mạng các người, thì đã có thể ra tay từ lâu rồi. Mục tiêu duy nhất của tôi lần này chỉ là... đoạt được kệ tranh ngọc.”

“Ông ngu xuẩn nói mơ gì vậy. Chúng tôi ba người, ông chỉ có một mình, ông dựa vào cái gì mà bắt chúng tôi giao nộp kệ tranh ngọc!”, Hàn Giang tức tối.

“Lẽ nào các người chưa từng nghe qua uy danh của ta sao?”, Stechkin rõ ràng rất không hài lòng với sự khiêu khích của Hàn Giang.

“Bọn tôi biết ông rất lợi hại, nhưng chúng tôi cũng không xoàng đâu!”, Hàn Giang cũng không hiểu mình nói như vậy Stechkin nghe có hiểu được không nữa.

Stechkin nghe Hàn Giang nói vậy, không những không tức giận, ngược lại còn cười ha hả, tiếng cười đó vang vọng khiến Đường Phong sởn da gà. Cười xong, Stechkin thu súng về, bước vài bước lại gần họ.

Ba người cùng chĩa thẳng súng về phía Stechkin, nhưng Stechkin lại không chút sợ hãi. Lẽ nào cái gã này súng bắn không thủng? Đường Phong thấy rợn người. Đen cả Hàn Giang và Makarov lừng chinh chiến bao năm, kinh nghiệm đầy mình cũng không biết Stechkin đang định giở trò gì.

3

Stechkin từng bước áp sát Đường Phong, Đường Phong theo phản xạ lùi lại nửa bước. “Đường Phong, giao nộp kệ tranh ngọc ra đây!”, Stechkin hét lên với Đường Phong.

Hàn Giang và Makarov tưởng rằng Stechkin điên rồi, đang định nổ súng thì hắn ta cười xảo quyệt: “Ivan, Hàn Giang, nếu các người nổ súng thì sẽ hối hận đó!”

“Hối hận?”, Hàn Giang và Makarov đều sững sờ.

Đúng lúc này, phía sau Stechkin, vài người bước ra tò trong ngách phía tây của ngọn núi trước mặt. Đường Phong, Hàn Giang và Makarov nhìn kĩ lại, không khỏi kinh ngạc, là bốn tên áo đen trang bị vũ khí từ đầu tới chân đang kẹp lấy Yelena và Từ Nhân Vũ. Từ Nhân Vũ đã bất tỉnh nhân sự, xem ra đã rất yếu, gần như bị kéo đi xềnh xệch. Miệng Yelena chảy mán, cô trông thấy Đường Phong,

Hàn Giang và Makarov liền định hét lên nhưng đã bị một miếng băng dính dán kín miệng, kêu không thành tiếng.

Hàn Giang đã bắt đầu hiểu ra một phần về sự cố mà Stephen nói và cả kí hiệu hình thang họ trông thấy tại hang ổ của kền kền. Nhưng anh vẫn không hiểu những gã áo đen này mọc từ đâu ra?

“Hàn Giang, chắc chắn cậu sẽ cảm thấy kì lạ rằng chúng tôi từ đâu xuất hiện phải không?”, Stechkin chủ động mở miệng.

Stechkin vừá dứt lời thì đằng sau ngách phía tây ngọn núi lại nhảy ra bổn tên áo đen trang bị vũ khí từ đầu tới chân. Hàn Giang và Makarov cũng lùi lại phía sau một bước, ba người áp sát vào nhau, sẵn sàng phòng vệ.

“Tôi còn rất nhiều điều cảm thấy kì quái, tại sao các người lại tóm được Yelena và tiến sỹ Từ, rồi tại sao lại tìm thấy chỗ này? Còn nữa, ban nãy các người nấp ở đây nhưng tại sao chúng tôi lục soát khắp đỉnh núi mà lại không phát hiện thấy ai?”, Hàn Giang hỏi một tràng.

“Thượng đế ơi! Hàn Giang, cậu muốn biết quá nhiều đấy, tôi lấy đâu ra thời gian nói hết với cậu. Nhưng những vẫn đề này chẳng hề khó, tôi nghĩ, với trí thông minh của các người thì sau này quay về, hãy từ từ mà nghĩ thì sẽ hiểu ra thôi!... Không sai! Các người nghe không sai, tôi không giết các người đâu. Trước đây tôi giết quá nhiều người rồi, bởi vậy, bây giờ tôi không muốn giết người nữa!”, Stechkin lại bước lên phía trước vài bước, “Tướng quân bảo rằng tôi đã giết quá nhiều người rồi, giờ thì nên thay đổi cách sống, ông bảo tôi học cách kinh doanh, làm thương nhân. Tôi chỉ muốn đoạt được kệ tranh ngọc, chúng ta thực hiện một cuộc giao dịch công bằng nhé, thế nào?”

“Giao dịch?”, ba người lại lùi lại phía sau vài bước.

“Lay Yelena và Từ Nhân Vũ đổi lấy kệ tranh ngọc trong tay các người! Tôi thấy đây là việc không thể nào công bằng hơn được nữa!”, StecKkin nói ra mục đích của mình.

“Trao đổi ư?!”, ba người nhìn nhau. Không ai muốn từ bỏ Yelena và Từ Nhân Vũ, nhưng không ai dám quyết định.

Đường Phong và Hàn Giang nhất thời không biết làm thế nào. Trong thời khắc quan trọng nhất, vẫn là người có kinh nghiệm phong phú như Makarov đứng ra, ông quyết định kéo dài thời gian trước đã, chờ đợi thời cơ. Vậy là, Makarov nói với Stechkin: “Giao dịch này rất công bằng, chúng tôi có thể giao cho anh kệ tranh ngọc, bởi vì Yelena quan trọng hơn kệ tranh ngọc rất nhiều.”

“Vậy tốt! Để Đường Phong đặt kệ tranh ngọc xuống đây!”, Stechkin dùng ngón chân chỉ chỉ vào bụi cỏ trước mặt.

Nhưng anh phải nói cho chúng tôi biết rõ tất cả những chuyện này là như thế nào. Nêu không thì chúng tôi sẽ ôm kệ tranh ngọc này nhảy xuống dưới, và cũng không giao dịch gì với các anh cả!”, Makarov gào lên. Lúc nay ba người họ đã chủ động lùi lại phía sau vài bước.

“Đừng! Đừng! Đừng... Chúng ta nói chuyện đã!” Stechkin bông đôi mặt tươi cười.

4

Đường Phong cảm thấy con người Stechkin có chút quái dị, có chút thần kinh, loại người này hành động không bình thường, thường hay làm những việc mà người khác không thể ngờ tới. Makarov cũng

nghĩ vậy, ông cố gắng kéo dài thời gian nên lại kích động Stechkin: “Tôi muốn biết- sau khi ông được giải cứu khỏi nhà tù Bonika, ông đã đi đâu?”

“Từ Bắc Cực tới vùng nhiệt đới! Sao, có hài lòng với câu trả lời này của tôi không?”, Stechkin cười thật khó coi.

“Nhiệt đới?”, câu trả lời vừa xong của Stechkin đã

chứng thực cho những gì Stephen nói, nhưng Makarov vẫn tỏ ra không biết.

“Ivan, anh đừng mong moi được gì từ tôi tôi chỉ có thể nói với anh vậy thôi.”

“Vậy thì sau đó thế nào? Ông đã nghe theo mệnh lệnh của Tướng quân tới núi Hạ Lan?”

“Không sai! Tướng quân giao cho tôi nhiệm vụ là cùng với Stephen đoạt được kệ tranh ngọc.”

“Nhưng ông đã giết chết Stephen.”

“Đó cũng là ý của Tướng quân. Từ lâu Tướng quân đã không tin tưởng Stephen. Có thể nói rằng, từ trước tới nay Tướng quân chưa bao giờ tin tưởng Stephen, bởi vậy lần này Tướng quân lệnh cho tôi phối họp với Stephen, nhưng thực ra là để ngầm giám sát hành tung của hắn. Nếu hắn vẫn trung thành thì tôi không cần phải lộ diện, còn nếu Stephen có mưu đồ gì thì sẽ giết ngay.”

“Bởi vậy anh đã giết chết Stephen để cướp đi bản đồ kho báu?”

“Nói tới bản đồ kho báu thì đây chính là điều ngu xuẩn nhất của Stephen. Hẳn và Fanny ngu xuẩn tưởng rằng chỉ dựa vào tấm bản đồ đó là có thể tìm thấy kho báu của Hắc Lạt ma, và có thể thoát khỏi chúng tôi, cao chạy xa bay. Nhưng chúng không biết rằng: tất cả nhũng điều này đều nằm trong lòng bàn tay của Tướng quân, Tướng quân đã biết về sự tồn tại của tấm bản đồ kho báu từ lâu rồi!”

“Ông ta cố ý trả lại tấm bản đồ kho báu cho Stephen ư?”, Makarov khẽ giật mình.

“Không! Quả thực ban đầu Tướng quân cũng không để ý, nhưng trước khi họ xuất phát, Tướng quân đã biết về sự tồn tại của bản đồ kho báu.”

“Vậy là ông ta giả vờ là không biết, rồi ngầm phái anh đi giám sát họ?” “Khà khà, Tướng quân không cần tới kho báu của Hắc Lạt ma. Tướng quân nghi ngờ kệ tranh ngọc được cất giấu trong chùa Hắc Thứu, nhưng chỉ có mỗi bản đồ kho báu thôi thì chưa đủ. Stephen là người thông thạo địa hình ở đây nhất, bởi vậy Tướng quân vẫn quyết định tạm dùng tới Stephen trước đã. Thật không ngờ sau khi phát hiện ra kho báu, cậu ta đã mất hết lý trí... khà khà… Stephen đáng thương, vì thực sự tưởng rằng mình sẽ thoát khỏi lòng bàn tay của Tướng quân!”, Stechkin cười nhạt.

“Sau đó anh đã âm thầm bí mật bám theo Stephen tới đây?”

“Đúng vậy! Hai bọn họ ở tạm nhà trọ trong núi, sau đó ngày nào cũng lên núi tìm kiếm theo tấm bản đồ; còn tôi thì sống trong sương gió ngoài trời, âm thầm theo dõi họ. Cách đây mấy hôm, dựa vào chỉ dẫn của bản đồ kho báu, Stephen đã phát hiện ra bí mật của tượng Phật khổng lồ và tiến vào trong phần cơ thể tượng Phật. Tôi thấy ở đây địa hình phức tạp, nhiều chuyện quái dị, nhất là khoảnh rừng cây khiến người ta bị lạc, bởi vậy tôi sợ đêm dài lắm mộng nên muốn diệt trừ Stephen và Fanny trước đã, để lấy được bản đồ kho báu tự mình vào trong tìm kiếm.”

“Vậy là ông đã giết chết Fanny gần nhà trọ và để Stephen trốn mất?”

“Hắn ta rất xảo quyệt, không những trốn thoát mà còn đem cả tấm bản đồ kho báu quan trọng nhất đi mất. Từ đó khiến tôi mất hết tin tóc về hắn. Không có bản đồ kho báu, tôi không dám mạo hiểm vào trong núi. Đúng lúc tôi không biết làm thế nào thì cảm ơn thượng đế, các anh đã xuất hiện.”

“Anh đã bám theo chúng tôi?”, Makarov ngạc nhiên.

“Không sai! Tôi chỉ một mình bám theo các người vào đến trong rừng. Khoảnh rừng kì dị đó khiến người ta bị lạc đường, tôi cũng mấy lần suýt nữa thì lạc trong đó, vậy là tôi đã khắc hình tam giác đánh dấu lên thân cây mà các người nhìn thấy đó.”

“Hôm qua trước khi chúng tôi xuất phát, anh đã vào bên trong tượng Phật khổng lồ rồi?”

“Đúng, tôi đã tìm thấy tượng Phật, hơn nữa còn biết trước bí mật bên trong mắt tượng Phật, nên đã vào trong đó trước các người. Tôi biết sớm muộn gì thì các người cũng tìm thấy tượng Phật, nên đã cố ý để lại sợi dây thừng để dụ các người vào nhầm mắt phải của tượng Phật.”

“Anh biết trước rằng tiến vào mắt phải đại Phật sẽ bị lạc đường?”

“Trước đó gã oat con Stephen không xem kĩ bản đồ nên đã đi sai đường, kết quả phải đi lòng vòng mất một ngày một đêm trong đó mới thoát được ra ngoài.”

“Vậy là anh đã dụ chúng tôi vào mắt phải của đại Phật, còn mình thì vào bên mắt trái..

“Đúng vậy. Từ mắt trái đi vào rất thuận lợi, không bị lạc đường, cũng không có ngã rẽ, chẳng mấy chốc đã đến đươc Tiền điên.”

“Stephen nói rằng xảy ra sự cố tại Tiền điện, chính là chỉ sự xuất hiện đột ngột của anh?”

“Không! Ivan, anh đừng nôn nóng, để tôi kể à nghe!”, lúc này Stechkin lại trở nên hứng thú.

“Tôi tới Tiền điện, đúng lúc trông thấy Stephen đang nghiên cứu ba tấm bản đồ kho báu. Ba tấm bản đồ kho báu đó rất kì quái, vẽ linh ta linh tinh, Stephen nhất thời không hiểu nên khône dám liều lĩnh tiến thêm một bước.”

“Điều này không lạ, năm đó cha của Stephen là Mã Xướng Quốc dựa vào trí nhớ để vẽ lại, đương nhiên là có sai lệch. Bởi vậy trên bản đồ kho báu, Mã Xướng Quốc đă cảnh báo Stephen rằng, không đến bước đường cùng thì không nên đi tìm kho báu!”, Makarov nói.

“Stephen cho rằng mình đã đến bước đường cùng. Hai chúng tôi đã đấu nhau rất lâu trong Tiền điện. Hắn muốn giết tôi để báo thù cho Fanny, nhưng hắn không đủ sức để làm điều đó, hơn nữa hắn cũng không tìm thấy kho báu của Hắc Lạt ma, còn tôi thì cũng cần tới sự giúp sức của hắn nên đã đưa ra một ý kiến: hai chúng tôi sẽ cùng nhau tìm thấy kệ tranh ngọc và kho báu của Hắc Lạt ma, sau đó giải quyết dứt điểm, ai thắng thì những báu vật đó thì sẽ thuộc về người ấy.”

“Stephen đồng ý với ý kiến của anh?”

“Đương nhiên! Hắn chẳng có lý do gì để từ chối, bởi vì dề nghị của tôi rất công bằng.”

“Đúng là Stephen bị lú lẫn rồi, làm sao mà anh ta là đối thủ của anh được?”, Makarov lẩm bẩm.

“Ivan, nhưng Stephen lại không nghĩ như vậy. Hắn nghĩ rằng đợi tới khi tìm được kho báu, nhân lúc tôi không phòng bị, sẽ xử lý tôi!”

“Kết cục là anh đã ra tay trước?”

“Không! Là hắn định tấn công trộm tôi tại lối đi ngoài cổng phía đông, nhưng đáng tiếc, hắn vẫn không phải là đối thủ của tôi.”

“Tại sao các anh lại chọn đi cửa phía đông mà không phải là phía bắc?”, Hàn Giang đột nhiên hỏi.

“Tôi và Stephen nghiên cứu tấm bản đồ kho báu đó và cho rằng cửa phía tây không đi được; lối đi phía bắc cũng bị đá vụn bịt kín, còn không nhìn rõ rốt cuộc phía sau sâu chừng nào, nhất thời khó mà đi được. Bởi vậy, đi về phía đông trước xem sao, một nguyên nhân quan trọng khác, chính là nhờ bộ óc thông minh của tôi nghĩ ra. Năm đó, Hắc Lạt Ma và ông nội của Stephen đã tìm kiếm bao lâu ở đây mà cũng không tìm thấy kệ ừanh ngọc. Vậy thì chắc chắn kệ tranh ngọc không ở trong cung điện phía bắc, mà rất có khả năng là ở đây.”

“Đây chính là sự cố mà Stephen nói?”

“Không! Sự cố thật sự không phải là dừng ở đó. Đúng lúc tôi và Stephen giao hẹn với nhau, chuẩn bị xuất phát thì hai vị khách không mời mà tới bỗng xông vào.”

“Yelena và Từ Nhân Vũ?”

“Đúng! Yelena! Ồ! Ivan, tôi không thể không nói rằng, con gái của anh quá... quá đẹp... mỗi lần tôi nhìn

Thấy cô ta, tim tôi đều đập thình… thịch... nhảy nhót không ngừng. Tôi thật lo lắng, nếu cứ thế này thì tôi sẽ bị con gái ông làm cho bị bệnh tim mất... Kể từ khi gặp Yelena tại Bonika, tôi đã bị thu hút bởi vẻ đẹp của cô ấy. Khuôn mặt của cô ấy, hơi thở của cô ấy, giọng nói của cô ấy, ồ!... Không lúc nào là không hấp dẫn tôi. Thật không „— ngờ chúng tôi lại gặp lại nhau trong động…”, mặt Stechkin biểu cảm đầy vẻ tâm thần.

5

“Gã điên! Anh làm tôi thấy buồn nôn đấy!”, Makarov gào lên. Ông trông thấy Yelena phía sau Stechkin đang ráng sức giãy giụa nhưng cũng không thoát được khỏi sự kìm kẹp của hai gã trai vạm vỡ.

“Tôi chẳng quan tâm anh buồn nôn hay không, phải chăng anh cũng không thể ngăn cản được tình yêu của tôi với Yelena!”, Stechkin bỗng thần kinh gào lên. Makarov không dám công kích hắn thêm, đành phải chờ đợi Stechkin tự dịu xuống. Một lúc sau, dường như Stechkin đã bình tĩnh trở lại, rồi giống như tự mình lẩm bẩm, nói tiếp: “Yelena đáng yêu của tôi chắc là lo lắng cho các người, nên đã xông vào mắt trái tượng Phật. Nhưng họ không phải là đối thủ của tôi, tôi và Stephen chẳng mấy chốc đã khuất phục được Yelena, cái gã tiến sỹ Từ đó thì còn càng khỏi phải nói.”

“Tôi hiểu rồi!”, Makarov khẽ gật gù, “Anh đã áp giải Yelena và tiến sỹ Từ lên đỉnh núi, nhưng sao ban nãy chúng tôi không trông thấy anh?”

Stechkin chần chừ một lúc, nói: “Ivan, tôi áp giải Yelena và Từ Nhân Vũ lên đỉnh núi, nhưng quả thực tôi không biết kệ tranh ngọc đó cất ở đâu, vậy là tôi trốn đi, chờ đợi các anh tới. Tôi nghĩ rằng Đường Phong có thể giúp tôi tìm thấy kệ tranh ngọc, quả nhiên... ha ha ha..

Stechkin cười điên dại, Makarov vẫn không phát hiện ra cơ hội có thể khống chế được Stechkin, trong lòng vô cùng lo lắng. Ông đành phải tiếp tục kéo dài thời gian: “Anh trốn đi? Trên đỉnh núi này có chồ để trốn sao?”

“Ha ha! Chồ tôi trốn chắc chắn anh làm sao đoán được, dưới đỉnh núi phía tây có một cái động”, Stechkin chỉ về ngách phía tây của ngọn núi.

“Vậy bao nhiêu người của anh thế này lên đây bằng cách nào vậy?”, Makarov không hiểu, hỏi.

“Tôi mà nói ra chắc các anh sợ chết khiểp!”, Stechkin bỗng giở mặt nham hiểm, “Người của chúng tôi leo lên từ vách núi phía tây.”

“Gì cơ? Các anh dùng dây thừng leo lên từ vách đá cheo leo?”, không chỉ Makarov mà Đường Phong và Hàn Giang cũng vô cùng sửng sốt.

Makarov lại nhìn một lượt tám gã áo đen phía sau mà lòng không khỏi lo lắng.

Makarov vẫn không phát hiện ra cơ hội tốt, vì kể cả trong tay Stechkin không có con tin, thì nếu chỉ dựa vào Hàn Giang và Đường Phong, cộng thêm cả mình, cũng chắc chắn không thể thắng được.

“Anh có quen Branch không? Boolean Kennedy Branch?”, đột nhiên Makarov hỏi.

“Không! Không quen”, Stechkin trả lời rất dứt khoát.

“Anh và Brainin rốt cuộc quan hệ thế nào? Còn cả Isakov nữa?”, Makarov hỏi.

“Brainin, Isakov? Không phải tôi đã nói hết với Yelena rồi sao?”

“Những gì anh và Brainin nói sau mấy chục năm đều giống hệt nhau, quan hệ của hai người lẽ nào chỉ đơn giản vậy thôi sao?”, Makarov truy hỏi.

Stechkin hơi sững lại một chút: “Giống hệt nhau?

Thôi đi, Ivan, anh đừng moi móc gì thêm nữa. Gã Brainin đó là tướng, tôi chỉ là một tên tù, hai chúng tôi thì liên quan gì tới nhau?”

“Nhưng sau khi anh được Tướng quân cứu đi thì Brainin cũng bất ngờ bị thiêu chết; đây lẽ nào lại là một sự trùng hợp?”

“Thôi đi, Ivan, anh cứ coi đó là sự trùng hợp đi. Tôi đã nể mặt anh lắm rồi đấy, trả lời anh bao nhiêu là câu hỏi ngu ngốc, bây giờ tới lượt anh thực hiện lời hứa của mình rồi, mau giao kệ tranh ngọc ngay!”, ánh mắt Stechkin hung tợn: “Nếu không tôi sẽ dùng dao ra tay với Yelena đấy.

Chắc anh không muốn trên khuôn mặt trắng nõn nà của Yelena có vết dao chứ?”.

Makarov hiểu rằng Stechkin đã hết kiên nhẫn, trời đã tối, thời gian dành cho họ cũng không còn nhiều nữa.

6

Rõ ràng Stechkin đã mất hết kiên nhẫn, hắn điên cuồng gào lên: “Mau lên, giao kệ tranh ngọc ra đây! Neu còn chần chừ tôi sẽ không khách sáo với Yelena nữa đâu đấy!”

Nói xong, hai gã áo đen liền cầm súng gí vào thái dương Yelena. Makarov chán nản nhìn sang Hàn Giang, ông muốn Hàn Giang đưa ra chủ ý cuối cùng. Đường Phong cũng nhìn Hàn Giang, họ biết rằng lúc này Hàn Ồiang đang đối diện với sự lựa chọn khó khăn.

Sau khi trải qua sự cân nhắc khổ sở, Hàn Giang chậm rãi nói: “Đường Phong, đưa kệ tranh ngọc cho chúng!”

Đường Phong sững sờ, thảng thốt nhìn Hàn Giang nói: “Cứ giao kệ tranh ngọc cho chúng như vậy sao?”

“Đưa cho chúng!”, Hàn Giang giống như hạ quyết tâm.

Đường Phong hết cách, cầm kệ tranh ngọc bước tới chỗ cách Stechkin khoảng chục bước chân, khẽ đặt kệ tranh ngọc lên bãi cỏ, sau đó nói với Stechkin: “Thả Yelena và Từ Nhân Vũ ra ngay!”

Stechkin trông thấy kệ tranh ngọc, mắt liền lóe lên tia vui mừng, vội vàng tiến lên phía trước vài bước để định lấy kệ tranh ngọc. Đường Phong giật ngay kệ tranh ngọc lại, hét lên với Stechkin: “Từ từ! Ông thả Yelena và Từ Nhân Vũ ra đã, nếu không thì tôi sẽ đập vỡ kệ tranh ngọc này chứ không đưa cho ông đâu!”

Đường Phong giương súng lên, chỉ có điều anh không nhắm vào Stechkin mà hướng báng súng thẳng xuống, sẵn sàng tư thế cùng kệ tranh ngọc tan nát.

“Đừng! Đường Phong, tôi đã đồng ý thả người rồi, cậu phải tin tôi!”, Stechkin bỗng đổi giọng tươi cười, “Nhưng cậu cũng phải cho tôi xem kệ tranh ngọc thật giả thế nào đã?”

“Vừa mới tìm thấy, đem từ giếng vàng lên, sao có thể là giả được?”

“Được rồi! Đặt hết cả những thứ bằng ngọc mà ban nãy cậu tìm được lại đây!”, Stechkin được voi đòi tiên.

Đường Phong đành phải đặt cả ba miếng ngọc bội lên bụi cỏ. “Lùi lại phía sau hai bước!” Stechkin hét về phía Đường Phong.

Đường Phong chầm chậm lùi lại hai bước, tay phải vẫn nắm chặt khẩu súng ngắn 92. Stechkin quát mắng những tên áo đen bên cạnh, hai gã kẹp chặt Yelena, còn hai gã khác kéo lê Từ Nhân Vũ đang thoi thóp, bước tới kệ tranh ngọc.

Những gã áo đen thả Yelena và Từ Nhân Vũ ra. Đường Phong vội vàng bóc miếng băng dính trên miệne Yelena ra rồi cùng cô đỡ Từ Nhân Vũ lùi lại. Gã áo đen nhân cơ hội này nhặt kệ tranh ngọc và ngọc bội lên, quay về giao lại cho Stechkin.

Stechkin nhìn kệ tranh ngọc và ngọc bội, sau đó hài lòng cất vào trong ba lô của mình. Ngay sau đó hắn liền giở mặt, hung ác bặm trợn nói với Đường Phong và mọi người: “Đường Phong, Hàn Giang, các người có thể đưa tên họ Từ kia rời khỏi đây, nhưng phải để Makarov và Yelena lại.”

“Ông định làm gì?”, Đường Phong hét lên.

Hàn Giang vổn đã đề cao cảnh giác với Stechkin từ trước nên theo phản xạ, anh che chắn cho Yelena: “Chuyện đó không thể?”

“Thế thì đừng trách ta!”, Stechkin rút súng ra, nhắm thẳng vào Hàn Giang.

7

Bên này, hội Đường Phong chỉ có ba khẩu súng, còn Stechkin lại có tới chín khẩu, ba chọi chín. Quan trọng hơn là phía Stechkin hầu như đều là súng đột kích mini, hỏa lực vượt xa phía Đường Phong.

Đường Phong và Hàn Giang đều biết rằng, một khi

đã đánh nhau thì họ sẽ lành ít dữ nhiều. Đúng lúc mọi

người đang không còn cách gì để kéo dài thời gian thì trên

không trung bỗng vang lên một âm thanh khó hiểu. Mọi

người đều kinh ngạc, cùng ngẩng đầu nhìn lên trời, nhung trên đó sương mù càng lúc càng dày đặc, chẳng trông thấy gì cả.

“Cái gì vậy?”, Đường Phong cảm thấy hoảng loạn.

“Không biết...”, Hàn Giang ngẩng đầu nhìn lên mây mù, lẩm bẩm.

Mây trên đình đầu càng lúc càng thấp, tất cả mọi người đang đứng trên đỉnh núi đều có cảm giác bị đè nén chưa từng thấy, giống như cả bầu trời sắp sụp xuống vậy.

“Kền kền!”, Đường Phong bỗng phát hiện thấy phía bắc trên đỉnh núi có hai con kền kền khổng lồ bay từ trong mây ra, lao thẳng về phía họ.

“Chính là hai con kền kền đó!”, Hàn Giang nhận ra đây chính là hai con kền kền thỉnh thoảng lại xuất hiện trên đỉnh đầu họ.

Stechkin và những tên áo đen cũng bị bất ngờ trước cảnh tượng đột ngột này, chúng sững sờ đứng chết gí một chỗ, không biết hai con kền kền định làm gì. Thế nhưng,

Hàn Giang trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, đã phát hiện thấy cơ hội, anh nhìn chằm chằm hai con kền kền đang lao về phía bọn chúng. Hai con kền kền từ đỉnh núi phía bắc lao xuống, bay sát đỉnh đầu Stechkin và những gã áo đen, quắp ngay lấy hai tên áo đen đang đứng như trời trồng, sau đó kéo mạnh lên, bay lượn trên không trung.

Hàn Giang chớp ngay lấy cơ hội có một không hai này, anh giương súng lên bắn, “Pang! Pằng!”, hai tiếng súng. Hai tên áo đen trước mặt lập tức gục xuống đất.

Đường Phong và Makarov nghe thấy tiếng súng liền lập tức tỉnh ra, cùng giương súng bắn về phía những tên áo đen. Trong lúc hoảng loạn, Stechkin và những gã áo đen bắt đầu phản kích, nhưng bọn chúng đã cuống hết cả lên, nên đạn bắn ra không trúng Đường Phong, Hàn Giang và Makarov. Yelena nghe thấy tiếng súng liền lập tức nằm bò ra đất, những gã áo đen trong chốc lát đã tổn thất mất hơn nửa quân số.

Lúc sau, hai con kền kền buông mạnh hai tên áo đen xuống đất, cả hai trong chớp mắt đã biến thành đống thịt vụn nát. Hàn Giang và Makarov nấp vào bụi cỏ tiếp tục bắn tỉa những tên áo đen còn lại. Đạn trong súng bắn hết, họ lại nhặt súng của những gã áo đen bị giết, vừa bắn vừa tiến công. Đường Phong chăm chú để ý Stechkin đang thoắt ẩn thoắt hiện trong bụi cỏ, anh biết rằng kệ tranh ngọc đang nằm trong tay Stechkin.

Sau một hồi rối loạn, tám tên áo đen đã hoàn toàn bại trận, chỉ còn lại một mình Stechkin. Yelena phía sau không ngừng nhắc nhở Hàn Giang và Makarov phải cẩn thận, bởi cô đã được lĩnh hội sự lợi hại của Stechkin từ trước đó. Nhưng lúc này, Stechkin đang rối loạn, trong lúc hoảng loạn hắn chẳng bắn trúng được phát nào.

Hàn Giang thấy Stechkin như vậy liền cho rằng Yelena cứ quan trọng hóa vấn đề, anh càng đánh càng dũng mãnh, vừa bắn vừa áp sát phương hướng mà Stechkin tháo chạy về phía đồng cỏ.

Trong lúc hoảng loạn, Stechkin không biết đi đường nào nên đã chạy thẳng về phía bắc đỉnh núi, nhưng chẳng

mấy chốc hắn lại vòng sang phía tây ngọn núi. Đường Phong, Hàn Giang và Makarov cũng truy đuổi lên đỉnh núi phía tây, nhưng đúng lúc này thì bóng dáng Stechkin đã mất hút khỏi tầm mắt họ.

8

Đường Phong và Hàn Giang vẫn tiếp tục bắn, Makarov vẫy tay về phía họ, ra hiệu cho hai người ngừng lại. Lúc này cả hai mới phát hiện ra trên đỉnh núi im lìm tĩnh lặng, hai con kền kền đã biến mất, Stechkin cũng mất hút.

Ba người từ từ đứng thẳng dậy, nhìn về phía tây đỉnh núi, cỏ hoang và bụi rậm xung quanh quá cao và rậm rạp, có lễ Stechkin đang lẩn trốn trong đó. Ba người cẩn thận rón rén giương súng lên, dò dẫm liến lên phía trước. Mỗi một bước đi, Hàn Giang và Makarov đều vô cùng cẩn thận. Nhưng Đường Phong lại không có tố chất được huấn luyện như họ, nên sự biến mất của Stechkin trong tầm mắt đã khiến anh bỗng chốc trở nên hoang mang. Anh tuyệt đối không thể để Stechkin tháo chạy như vậy! Nhưng tại sao Stechkin chớp mắt cái đã bốc hơi như thế? Đường Phong suy nghĩ rối bời, lơ là cảnh giác. Khi anh bước tới bụi cây rậm rạp nhất dưới đỉnh núi phía tây thì đã bỏ Hàn Giang và Makarov tụt lại phía sau. Hàn Giang mấy lần lấy tay ra hiệu cho anh dừng lại, nhưng Đường Phong lại không để ý thấy.

Ban nãy hình như Stechkin biến mất ở chồ này. Đường Phong nhìn xung quanh, cỏ hoang mọc đến ngang hông lắc lư trong gió, vẫn không trông thấy bóng dáng của Stechkin đâu. Anh quay lại thấy Hàn Giang và Makarov hóa ra lại ở đằng sau mình nên vội vàng dừng lại. Đúng lúc Đường Phong chần chừ không bước tiếp, thì một cơn cuồng phong ập tới, anh bồng ngửi thấy mùi chết chóc.

Đường Phong đang định rút lui thì bỗng cảm thấy một sức mạnh ghê gớm nào đó đang níu lấy chân mình. Anh định co người lại, nhưng đã muộn, đúng giây phút đó anh bị mất thăng bằng, ngã sõng soài ra cỏ. Ngay sau đó Đường Phong nhìn thấy một bóng đen lao vào người mình. Anh định nghiêng người né qua bóng đen đó, nhung anh chưa kịp xoay người thì hai mắt đã tói sầm lại, mất hết cảm giác.

Tới khi Đường Phong tỉnh lại thì bên tai đang náo loạn tiếng súng. Anh ngồi phắt dậy, phát hiện thấy đầu mình vẫn còn nguyên trên cổ. Anh lắc lắc đầu, một con đau thấu tận xương tủy xộc tới. “Ban nãy cậu bị Stechkin tấn công, may mà có Hàn Giang kịp thời nổ súng, nếu không thì cậu mất mạng rồi đấy!”, Makarov vừa bắn về phía Stechkin trên dốc núi vừa hét lên với Đường Phong.

“Stechkin..lúc này Đường Phong mới nhớ lại bóng đen đó mà không khỏi rùng mình. Anh đã được nghe Yelena kể qua về độ nguy hiểm của Stechkin.

Đường Phong bới khắp trong bụi cỏ, chẳng mấy chốc đã mò thấy súng của mình. Anh phát hiện Stechkin đã tháo chạy lên dốc núi phía tây, nên liền nổ vài phát súng, sau đó cùng Makarov lao lên dốc núi. Tới khi họ lao lên đỉnh núi

phía tây thì Stechkin đã vượt qua đó, tháo chạy xuống khe núi phía sau.

Hàn Giang trông thấy hắn chạy xuống khe núi liền chạy chậm lại, cười nói: “Hắn không chạy thoát được đâu.”

Ba người đứng chặn Stechkin bên vực núi, Stechkin đã chạy ngược lại, phía sau hắn là vực sâu thăm thẳm. Hàn Giang cười nhạt với Stechkin: “Thật không ngờ phải không, đến kền kền cũng giúp chúng tôi.”

“Hừm, các người tưởng rằng như vậy là sẽ bắt được ta sao?”, Stechkin cười điên dại.

Ba người ngớ người ra, Makarov hét lên với Stechkin:

“Mau đầu hàng đi, anh còn có thể sống nốt quãng đời còn lại trong tù.”

“Ha ha... ha ha...”, Stechkin lại cười man dại: “Nhà tù?! Dù sao tôi cũng đã thoát ra được rồi thì cả đời này cũng không chui lại vào đó đâu.”

Đường Phong và Hàn Giang không biết Stechkin định làm gì, chỉ thấy hắn thít chặt quần áo trên người, cười nhạt:

“Ta còn lâu mới bó tay cam chịu, cũng không thể nhảy xuống vực tự sát, ta sẽ đem kệ tranh ngọc đi một cách bình an.”

Đường Phong, Hàn Giang và Makarov nhìn nhau, không hiểu Stechkin đang định giở trò gì. “Hắn điên rồi!”,

Hàn Giang lẩm bẩm.

“Không! Hắn không điên đâu...”, Makarov đoán được ý đồ của Stechkin, khẽ nhắc nhở Đường Phong và Hàn Giang: “Các cậu nhìn cái túi sau lưng hắn đi!”

Đường Phong phát hiện ra Stechkin đang khoác một thứ giống chiếc ba lô sau lưng, nhưng thực ra được chia

thành hai lóp. “Thế là thế nào?”, Đường Phong nhìn Makarov dò hỏi.

“Trước đây trong KGB, chúng tôi đều được học nhảy dù!”, Makarov đã chắc chắn về suy đoán của mình.

“Nhảy dù?”, Đường Phong kinh ngạc.

“Ý bác là hắn nhảy sẽ từ trên đỉnh núi xuống?”, Hàn Giang cũng há hốc mồm kinh ngạc.

“Bọn chúng có thể leo được lên đây thì cũng có thể nhảy được xuống dưới!”, Makarov cố ý nói thật to.

“Không sai! Ivan, anh đoán không sai! Tạm biệt nhé các bạn của tôi, năm đó trong KGB, điểm nhảy dù của tôi cao tuyệt đối đấy!”, Stechkin nói xong liền định nhảy xuống.

Hàn Giang đang định nổ súng thì thì bỗng có một bóng người lao ra từ vực núi phía tây. Người đó giống như phát điên vậy, bất chấp tất cả lao về phía Stechkin. Stechkin cũng bất ngờ, hắn nổ súng về phía người này, bắn trúng người đó. Nhưng người đó vẫn điên cuồng nhảy bổ về phía Stechkin, sau đó ôm chặt lấy hắn lao xuống vực sâu.

“Stephen...”, đúng lúc người đó ôm Stechkin nhảy xuống núi thi Đường Phong, Hàn Giang và Makarov đều nhận ra đó là ai. Họ không hiểu nổi tại sao Stephen lại bò lên được đây, mọi thứ đều quá nhanh, điều không thể ngờ tới lại đã thực sự xảy ra.

Ba ngươi vội vàng lao tới bên vách núi, nhìn xuống dưới, sâu hun hút, sương khói dày đặc, dưới vực sâu không có lấy một tiếng động vọng lại. Stephen và Stechkin đã mất hút như vậy, giống như chưa từng xảy ra chuyện gì cả...
 

hoahongden12

Active Member

Đường Phong hoảng hốt nhìn cảnh tượng này, anh không cam tâm rút Lui ra ngoài. Phía sau giống như có một con mãnh thú đang truy đuổi, Đường Phong chạy thục mạiig. May mà Lối đi này không có ngã rẽ, cũng chẳng có cánh cổng nào, nên chẳng mấy chốc anh đã nhìn thấy ánh sáng phía trước, anh biết rằng đó chính là mắt trái của tượng Phật.

1

Đường Phong cứ đứng mãi bên vách núi, không chịu rút lui, mọi thứ đều quá nhanh, nhanh tới nỗi khiến anh không kịp có bất cứ phản ứng gì. Hàn Giang vỗ vai Đường Phong: “Thôi nào, chúng ta phải đi thôi!”

Đường Phong rốt euộc đă định thần lại: “Nhưng... nhưng kệ tranh ngọc rơi xuống đó rồi!”

“Bởi vậy chúng ta mới phải khẩn trương xuống dưới tìm nó.”, Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

“Đúng! Mau xuống dưới tìm kệ tranh ngọc”, Đường Phong quay người định đi, nhưng bồng đứng khựng lại, mặt đầy thất vọng nói: “Vách núi cao như thế này mà ngã xuống dưới, thì e rằng kệ tranh ngọc cũng vỡ vụn mất rồi!”

Hàn Giang khẽ thở dài: “Trừ khi chiếc dù của Stechkin được bật lên.”

“Mong là như vậy... nhưng nếu như thế thì Stechkin cũng không chết, rất có khả năng là hắn sẽ đem kệ tranh ngọc bỏ trốn!”, Đường Phong lòng nặng trĩu ưu tư.

“Không thể có điều đó! Stechkin bị Stephen bất ngờ tấn công nên không kịp phản ứng. Ban nãy tôi đã đứng trên vách núi nhìn, nếu chiếc dù được mở ra thì hai người họ chắc chắn không rơi xuống nhanh như vậy đâu!”, Makarov suy đoán.

“Đúng vậy! Chắc chắn Stechkin chưa mở dù, nếu không thì chúng ta đã nhìn thấy!”, Hàn Giang cũng nói.

“Hơn nữa theo như tôi quan sát thì chiếc dù mà Stechkin mang theo rất nhỏ, chính là loại dù chỉ có thể dùng ột người. Cho dù Stechkin có bật nó lên đi chăng nữa, thì chiếc dù đó cũng không thể tải được trọng lượng hai người!”, Makarov suy đoán thêm.

“Nếu như vậy thì bọn chúng chết chắc rồi! Kệ tranh ngọc cũng chắc chắn đã vỡ vụn!”, Đường Phong thất vọng nói.

“Thì phải xuống dưới mới biết được”, Hàn Giang đáp.

Đường Phong bồng nhớ ra gì đó: “Này! Tôi nhớ là Stechkin vừa nói rằng ngách phía tây dưới đỉnh núi có một

hang đông, có khi nào hai gã đó không nhảy dù, mà lai chui vào trong hang động đó không nhi?”

Hàn Giang lắc đầu: “Ban nãy tôi xuống dưới xem rồi, hang rất nhỏ, còn Stephen ôm Stechkin nhảy xuống với tốc độ nhanh như vậy, thì Stechkin lấy đâu ra cơ hội mà chui vào trong hang?”

“Sao Stephen lại đột ngột xuât hiện như vậy nhỉ?”,___ ___

Đường Phong không tài nào hiểu nổi.

“Chắc chắn là anh ta leo lên đây!”, Hàn Giang đoán.

“Leo lên đây? Vậy thì động lực nào đã thôi thúc anh ta leo lên đây nhỉ?”, Đường Phong lắc đầu nói.

“Bởi vì anh ta muốn báo thù!”, Makarov lẩm bẩm.

“Báo thù? Mã gia như vậy ỉà đã tuyệt tự rồi đấy!”, Đường Phong nói tới đây thì sau lưng bỗng vang lên giọng Yelena: “Chúng ta mau rời khỏi đây thôi, hai con kền kền đó...”, Yelena chỉ nói đến vậy.

Ba người đành quay lại cạnh giếng vàng. Nhìn chiếc giếng trống trơn, Đường Phong vô cùng thất vọng. Anh và Hàn Giang đỡ Từ Nhân Vũ đi về con đường ban đầu họ đã đến.

2

Mọi nguy hiểm dường như đã qua đi. Cả đội quay trở lại hang 0 của kền kền, nhưng không thấy hai con kền kền

đó đâu nữa. Đường Phong nhìn lên trời, chăm chú hồi lâu, tự lẩm bẩm: “Ken kền vẫn chưa quay về ổ?”

“Có lẽ chúng sẽ không quay về nữa đâu.Makarov đột nhiên nói.

“Không quay về nữa? Lão Mã, ý bác là sao?”

“Bởi vì thứ mà chúng canh giữ đã không còn nữa rồi!”, Makarov bình tĩnh trả lời.

Đường Phong tư lự gật gù rồi lại tiếp tục bước đi. Khi tới gian thạch thất nhỏ, Hàn Giang lại tỉ mẩn quan sát mặt đất một lượt, vệt máu của Stephen kéo dài ra tận bên ngoài, xem ra quả thực là anh ta đã gắng gượng để leo lên đỉnh núi.

Khi mọi người quay trở lại Tiền điện thì Hàn Giang hỏi Yelena: “Bọn em vào đây từ mắt trái tượng Phật phải không?”

“Bọn em thấy mọi người mãi vẫn không ra, rồi lại thấy mắt phải của tượng Phật khép lại. Tiến sỹ Từ phát hiện trên phần đỉnh đầu tượng Phật lại xuất hiện những vết chân dẫn đến mắt trái tượng Phật, những vết chân đó đứt quãng, lúc ẩn lúc hiện. Vậy là em và tiến sỳ Từ thương lượng, thử vào bên trong từ mắt trái, quả nhiên mắt trái tượng Phật cũng có một cái động”, Yelena nhớ lại.

“Bọn em đã vào trong động và đến đây rất nhanh?”

“Bọn em vào trong động, chưa đi được bao lâu thì phát hiện ra kí hiệu hình tam giác đó. Vì vậy bọn em chắc rằng mình đã đi đúng đường. Cái gã bí ẩn đó cũng chắc chắn đi theo đường này, bởi thế nên bọn em cũng không

khỏi lo lắng cho các anh. Vì nếu bọn em đã đi đúng đường, thì khả năng các anh đã đi sai đường.”

“Đúng vậy, bọn anh đã bị lạc đường trong mắt phải Thư tượng Phật, bị kẹt trong này, còn mấy lần suýt chút nữa là mất mạng!”, lúc này hồi tưởng lại mà Hàn Giang vẫn thấy sợ hãi.

“Kí hiệu hình tam giác đó không ngừng xuất hiện, bọn em liền lần theo lối đi tiến lên phía trước. Đi được kỉioảng nửa tiếng thì tới đây. Đúng lúc em và Từ Nhân Vũ ồ lên trước vẻ đẹp của huyền cung hùng vĩ trong hang núi này, thì hai bóng đen xộc tới, sau đó hai bọn em bị hôn mê.

Đợi tới khi em tỉnh lại thì đã bị Stephen và Stechkin trói lại, áp giải tới gian thạch thất nhỏ. Nhưng sau đó không hiểu giữa Stechkin và Stephen đã xảy ra chuyện gì, hình như hai gã đó đã đánh nhau trong lối đi, em còn nghe thấy tiếng súng. Sau đó thì chỉ còn một mình Stechkin quay lại, hắn áp giải bọn em lên đỉnh núi, sự việc tiếp đieo thế nào bọn anh đều biết cả rồi!”, Yelena hồi tưởng lại những gì mình gặp phải trên đường.

“May mà cuối cùng chúng ta đã thoát hiểm!”,. Hàn Giang an ủi Yelena.

“Nhưng kệ tranh ngọc và Stechkin lại về cõi vĩnh hằng rồi!”, Yelena thất vọng nói.

“Không! Chưa chắc. Chúng ta vẫn có thể tìm thấy kệ tranh ngọc.”

“vẫn còn kho báu của Hắc Lạt ma!”, Đường Phong bỗng nhớ tới kho báu của Hắc Lạt ma.

Đường Phong vừa dứt lời thì cả Đại điện bỗng rung chuyển, mọi người đều hoảng hốt nhìn xung quanh, nhưng ngay lập tức, mọi thứ lại trở lại như cũ.

“Chuyện gì vừa xảy ra vậy? Động đất ư?”, Hàn Giang kêu lên.

“Không biết, hình như lại yên ổn rồi!”, Makarov đáp.

“Chúng ta mau chóng tới Hậu điện đem kho báu của Hắc Lạt ma ra đã!”, Đường Phong vẫn nhớ tới kho báu của Hắc Lạt ma.

Mọi người đổ dồn ánh mắt về phía Hàn Giang, Hàn Giang đang tính toán, không ai nói gì, trong Tiền điện im ắng như tờ. Đột nhiên, Từ Nhân Vũ vừa mới tỉnh dậy bỗng rống lên như lợn kêu: “Nhìn xem, trên mặt... mặt đất... có »nước chảy ra kìa!”

Tất cả mọi người đều hoảng hốt nhìn xuống theo hướng tay Từ Nhân Vũ chỉ. Quả nhiên, phía dưới cánh cổng sơn vàng phía tây đang có một dòng suối chảy tới Tiền điện, chia thành từng rãnh nhỏ trên mặt đất, rồi tràn lan, lượng nước càng lúc càng lớn, tốc độ chảy càng lúc càng nhanh.

“Không ổn rồi! Trung điện cũng có nước chảy ra!”,

Đường Phong giật mình nhìn khe nước khác đang tuôn trào từ cánh công bọc vàng tới Trung điện. Cả năm người không ai bảo ai cùng lùi lại phía sau. Khi họ lui tới cửa hang phía nam, thì hai dòng nước phía bắc và phía tây đã

hòa làm một, chảy xuông phía nam có địa hình thâp hơn..

“Chạy! Chạy mau!”, Từ Nhân Vũ hét xong liền chạy như bay ra ngoài, chẳng giống người bị thương vừa tỉnh °yị “ dậy chút nào.

“Chạy!”, Hàn Giang trông thấy nước chảy càng lúc càng nhiều nên hô to.

Tất cả mọi người lao ra ngoài, cũng không để ý đường đi hay kí hiệu gì cả. Khi Đường Phong liếc nhìn cánh cống bọc vàng phía bắc lần cuối, thì một dòng nước xối xả đã thay thế cho dòng nước nhỏ tuôn ra từ trong cổng.

Đường Phong hoảng hốt nhìn cảnh tượng này, anh không cam tâm rút lui ra ngoài. Phía sau giống như có một con mãnh thú đang truy đuối, Đường Phong chạy thục mạng. May mà lối đi này không có ngã rẽ, cũng chăng có cánh cổng nào, nên chẳng mấy chốc anh đã trông thấy ánh sáng phía trước, anh biết rằng đó chính là mắt trái của tượng Phật.

Từ Nhân Vũ, Makarov, Yelena đã leo lên sợi dây thừng chỗ cửa hang, Hàn Giang cũng đã tóm được sợi dây và đang leo lên. Đường Phong quay lại nhìn cửa hang tối đen phía sau lưng, đó đúng thật là một con mãnh thú, dòng nước lớn phụt ra giống như ngàn quân vạn mã đang lao về phía anh. Đường Phong định tóm lấy sợi dây chồ cửa hang nhưng dòng hồng thủy đã đuổi kịp, khiến anh gần như bị

dòng nước lớn cuốn phăng ra xa. Anh tưởng rằng mình đã bị dòng nước cuốn xuống núi, thịt nát xương tan; nhưng đúng lúc tuyệt vọng thì một đôi tay vạm vỡ rắn chắc tóm lấy anh. Đường Phong ngạc nhiên, toát mồ hôi hột, ngẩng đầu nhìn lên, là Hàn Giang.

Hàn Giang đang lơ lửng trên không trung, tay phải bám chặt vào sợi dây thừng, tay trái đang tóm lấy Đường Phong. Dòng nước từ mắt phải tượng Phật đang tuôn trào, giống như một thác nước, lao thẳng xuống dưới.

Đường Phong ngẩng đầu nhìn Hàn Giang, anh hiểu rằng Hàn Giang sẽ không chịu đựng được lâu. Tay phải Hàn Giang trơn tuột.

“Dây thừng không chịu nổi trọng lượng của hai người, chiếc móc câu bên trên sắp lung lay rồi!”, phía trên vọng xuống giọng của Yelena.

Hàn Giang ngước lên trên, rồi lại nhìn Đường Phong nói: “Cậu em, hai chúng ta thành một sợi dây leo lên trên thôi!”

“Vốn dĩế.. vốn dĩ đã vậy rồi mà,... luôn... luôn là vậy!”, Đường Phong khó nhọc nói, nét mặt cố tươi cười.

“Được rồi! Nhưng hiện giờ hai chúng ta phải lựa chọn rồi! Tôi sẽ nhảy hay là cậu nhảy?”, tay phải của Hàn Giang lại tụt xuống một đoạn.

Đường Phong nhìn xuống phía dưới, đầu óc choáng váng: “Neu nhảy thì anh nhảy đi, tôi không nhảy đâu!”

“Không nhảy thì cả hai chúng ta đều toi đấy!”, Hàn Giang sốt ruột.

“Nếu chết cả hai chúng ta cùng chết!” "

Hàn Giang bị Đường Phong chọc tức tới nồi mắt trợn............... *

trừng trắng dã. Anh hiểu rằng bắt buộc phải quyết định thật Xiití nhanh, tay phải của anh đã tuột xuống đoạn cuối cùng của ^ sợi dây thừng. Yelena ở bên trên hét toáng lên: “Hàn, chiếc Xấu móc câu sắp rụng rồi!”

Giọng Yelena sắp khóc.

“Không sao đâu, Yelena, anh không chết được đâu!”

Hàn Giang hét xong cũng cảm nhận thấy chiếc móc câu bên trên sắp không trụ được nữa rồi. Anh nhìn xuống dưới, trong lòng bỗng nảy ra một ý định nên liền hét lên với Yelena phía bên trên: “Yelena, bọn em đừng tóm dây thừng nữa, anh có cách rồi!”

Cách? Đường Phong không biết Hàn Giang còn có chiêu gì. Hàn Giang nhìn xuống phần dưới bức tượng Phật, hét lên với Đường Phong: “Nhìn thấy phía dưới tượng Phật rồi chứ?”

“Rồi!”

“Hai chúng ta cùng nhảy vào nếp gấp trước ngực tượng Phật.”

“Nếp gấp?”, Đường Phong nhìn xuống phần đưới của tượng Phật, trên phần ngực kiên cố của tượng Phật vẫn có thể thấp thoáng nhận ra nếp gấp trên áo, “ở đó ổn không?”

“Không ổn cũng không còn cách nào khác!”

Hàn Giang vừa dứt lời thì chiếc móc sắt phía trên đã bung ra. Yelena nghe theo lời Hàn Giang, không tóm lấy sợi dây thừng. Dây thìmg, móc sắt cùng loạt đá vụn rơi tõm xuống dưới.

Cọng cỏ cứu mạng cuối cùng của Hàn Giang và Đường Phong cũng đã đứt, hai người giống như hai vật thể rơi tự do trong không trune. Hàn Giang tính toán qua khoảng cách từ mắt tượng Phật tới nếp gấp trước ngực đại Phật, cố gắng để cơ thể mình ngả về phía trước. Khi anh rơi xuống phần nhô ra trước ngực tượng Phật, độ ma sát lớn đã giữ anh khỏi tuột xuống phía dưới. Anh vội vàng thò tay ra tóm vào vách đá, anh cũng không biết mình bám vào cái gì, lúc này thì tóm được cái gì hay cái đó. Đường Phong cũng vậy. Sau một hồi chân tay múa may loạn xạ, rốt cuộc hai người cũng bám trụ được trên ngực tượng Phật như một kì tích.

Đôi tay của Hàn Giang bám được vào chỗ nhô lên của nếp gấp trên vách đá, còn Đường Phong thì lại may mắn tóm được vào một thân cây mọc nghiêng ngả, chân cũng giẫm lên nếp gấp trên áo tượng Phật.

Đôi tay của hai người đã bám lấy bất cứ thứ gì có thể tóm được trên vách đá, chân giẫm lên nếp gấp trên thân tượng Phật, cẩn thận rón rén lần từng bước. Sau khi đã mất rất nhiều công sức, rốt cuộc họ cũng leo lên được vai trái của tượng Phật, Yelena, Makarov và Từ Nhân Vũ cũng đã chạy tới nơi, mọi người cùng nhau hợp sức. Họ nhìn Đường Phong và Hàn Giang, mặt trước quần áo của họ gần như bị cọ rách hết, giày dưới chân cũng bị mài rách thành

hai lỗ thủng to, trên người và trên tay rất nhiều vết trầy xước, một cái móng tay của Hàn Giang còn bị bật ra.

“Đeu tại cậu hại cả đấy!”, Hàn Giang sức cùng lực kiệt ngồi phịch xuống đất, nhưng vẫn không quên cằn nhằn Đường Phong.

Đường Phong thở hổn hển: “Mọi người cũng không phát huy tinh thần từ bỏ lợi ích cá nhân gì cả, quang tôi tụt lại sau cùng.”

“Đấy là do cậu vẫn còn muốn lấy kho báu của Hắc Lạt ma đấy chứ!”

“Ồ! Tiến sỳ, không phải anh đã bị Stechkin đánh bất tỉnh sao? Sao lúc chạy tháo thân anh lao đi nhanh nhât vậy?”, Đường Phong quay ra hỏi Từ Nhân Vũ.

“Còn phải hỏi, đến nước ấy thì ai không nhanh cơ chứ? Từ trước tới nay tôi luôn tin rằng, bên trong cơ thể mỗi người đều ẩn chứa một thứ năng lượng khổng lồ, tiềm năng đó có thể phát ra hay không thì phải xem mỗi người thôi..Từ Nhân Vũ lại bắt đầu luận điệu gian tà của anh.

“Thôi! Thôi! Thôi! Thôi.. Đừng tranh luận vớ vẩn nữa, mau xuống núi đi, trời sắp tối tới nơi rồi!”, Hàn Giang thúc giục mọi người xuống núi.

Chẳng mấy chốc cả đội đã tới thềm đá phang phía dưới tượng Phật. Đường Phong lại ngẩng đầu nhìn lên tượng Phật lần nữa, anh phát hiện ra mắt phải tượng Phật cũng đã mở ra và nước cũng đang tuôn trào từ đó ra. Nhưng lúc này lượng nước đã nhỏ hơn nhiều, chỉ còn lại hai dộng nước nhỏ vần theo má tượng Phật chảy xuống.

“Tượng Phật rơi lệ.. ề”, Đường Phong bồng lẩm bẩm.

“Tượng Phật rơi lệ sao?”, mọi người đều ngạc nhiên, “Quả nhiên, tượng Phật đã rơi lệ rồi!”, mọi người không khỏi trầm trồ trước sự kì diệu của kiến trúc tượng Phật khổng lồ và huyền cung trong đó.

Sắc trời đã tối dần, mây khói trên trời đã tản đi, quầng hoàng hôn phía tây soi chiếu lcn vách núi cheo leo của đỉnh núi phía bắc, pho tượng Phật khổng lồ trước mặt họ hiện lên vô cùng tang thương.

5

Mọi người quay trở lại nơi cắm trại, rồi ở trong đó một đêm. Và cũng thật kì lạ, tối nay Hàn Giang không phân cho ai trực ban, nhưng mọi người đều yên tâm ngủ rất say, không hề có ác mộng, đến cả âm thanh quái dị cũng không nghe thấy nữa.

Sáng hôm sau, Hàn Giang và Đường Phong bàn bạc qua, rồi quyết định đi theo đường tò phía nam chùa Hắc Thứu xuống núi. Tuy đường đi chính năm nào đã biến mất từ lâu, nhưng lần này mọi người đi xuyên qua rừng cây rất nhanh. Phía ngoài rừng cây là một vùng bụi cỏ rậm rạp, đường đi dưới chân không ngừng dốc xuống dưới, quay lại nhìn, đỉnh núi phía bắc sừng sững đă càng lúc càng xa.

Đường Phong liên tục phán đoán đường đi, mọi việc cũng tạm coi là thuận lợi. Khi họ đi tới vực núi chính diện

phía nam, thì trước mắt bồng rộng mở thênh thang, đi tiếp

về phía trước một đoạn thì xuất hiện một con đường đất.

Hàn Giang quan sát một hồi, rồi phấn khởi nói: “Trên dôc

núi này có vết bánh xe, chắc là có thế nhìn thấy người.”

“Có tín hiệu liên lạc rồi này!”, Từ Nhân Vũ vui mừng reo lên.

“Còn có cả dấu chân nữa, giống như vừa có người đi qua đây!”, Đường Phong phát hiện ra một chuồi dấu chân trên đường đi.

Hàn Giang thấy có sóng điện thoại, liền lập tức liên ỉạc với tổng bộ bằng điện thoại chuyên dụng, nói qua với Triệu Vĩnh tình hình của hai ngày qua, đồng thời lệnh cho anh đưa người tới núi Hạ Lan tìm kiểm thi thể của Stechkin và Stephen, dĩ nhiên còn cả kệ tranh ngọc quan trọng nữa.

Nghỉ ngơi một hồi, cả đội tiếp tục lên đường, vết chân trên đường đi cứ kéo dài mãi, “Giống như của hai người, cách chúng ta không xa lắm!”, Đường Phong nói.

“Hơn nữa lại còn là cua một nam, một nữ!”, Hàn Giang suy đoán thêm.

“Lẽ nào ngoài chúng ta, Stechkin và Stephen ra, vẫn còn có người tới chùa Hắc Thứu?”, Từ Nhân Vũ bỗng ngạc nhiên hỏi.

“Không thể, dấu chân này phát hiện ra từ bên ngoài núi!”, Hàn Giang nói.

“Một nam, một nữ, tôi bồng nghĩ tới hai người...”, Đường Phong hình như nghĩ ra điều gì đó. j

“Ai?”, Hàn Giang hỏi lại.

“Anh có còn nhớ đôi tình nhân chúng ta gặp trong nhà trọ không?”, Đường Phong nói.

“Anh nghi ngờ vết chân này là của họ để lại?”, Hàn Giang cũng trở nên trầm ngâm.

“Mùa này vẫn chưa phải là mùa du lịch ở núi Hạ Lan, sao lại có đôi tình nhân tới đây làm gì? Điều này thì cũng chẳng có gì nhimg nghĩ lại những khách khứa trong nhà trọ xem, chúng ta tới đây mang theo sứ mệnh đặc biệt, buồng phía đông là Stephen, vậy thì đôi tình nhân phòng phía nam chỉ đơn giản là đến du lịch vậy sao?”

“Không đơn giản vậy thì đã sao nào? Tôi thấy các cậu lo bò trắng răng rồi, đôi tình nhân đó cũng có lộ diện ở chùa Hắc Thứu đâu, cứ cho là những vết chân này là của họ đi chăng nữa thì người ta cũng đi leo núi thôi mà!”, Từ Nhân Vũ phản bác lại.

“Không quan tâm nhiều nữa, hiện giờ nhiệm vụ trước tiên là phải tìm thấy thi thể của Stephen và Stechkin, còn cả kệ tranh ngọc nữa!”, Hàn Giang nói xong, mọi người nhìn thấy phía trước thấp thoáng xuất hiện một thị trấn nhỏ.

6

Nghỉ ngơi một đêm, sáng hôm sau khi mọi người tỉnh dậy thì Triệu Vĩnh đã theo lệnh dẫn người tới bắt đầu tìm kiếm trong núi. Hàn Giang, Đường Phong và.Yelena lái xe

tới chân núi. Đường Phong phán đoán vị trí mà Stephen và " v Stechkin rơi xuống, chắc là dưới vực sâu phía tây của đỉnh L e núi phía băc. Xe của Hàn Giang tới chân núi thì đã hêt

đường đi tiếp, ba người đi bộ vào trong núi, phía trước

hoàn toàn không có dấu tích của con người để lại, khắp nơi

đêu là cỏ dại và lau sậy.

Khó nhọc di chuyển trong đám cỏ dại và lau sậy hơn một tiếng đồng hồ, Hàn Giang đã cảm thấy hy vọng: “ở đây chính là vực núi phía tây dưới ngọn núi phía bắc, thi thể của Stechkin và Stephen chắc là ở quanh đây thôi.”

Đường Phong ngẩng đầu nhìn lên vách núi cheo leo, lòng lo lắng nói: “Sợ rằng không đơn giản như anh nói đâu, rơi từ trên cao như vậy xuống, có khả năng bọn họ đã bị rơi xuống một khu vực rất rộng lớn.”

“ừm, Đường Phong nói đúng, rơi từ nơi càng cao xuống thì độ văng càng xa. Bởi vậy Stephen, Stechkin và cả kệ tranh ngọc nữa, có khả năng bị rơi trong một khu vực rất rộng; còn ở đây núi cao, cây cối rậm rạp, nếu muốn tìm thấy cũng không dễ đâu!”, Yelena nói.

“Bởi vậy tôi mới gọi Triệu Vĩnh tới đây. Tôi đã phân tích qua rồi đấy, ta sẽ chia những khu vực mà hai gã đó có khả năng rơi xuống thành sáu nơi, hiện chúng ta đang đứng ở khu vực thứ năm, là nơi mà tôi cho rằng có khả năng lớn nhất có thể phát hiện thấy thi thể của chúng và kệ tranh ngọc. Bởi vậy, khu vực này sẽ do mấy người chúng ta lục soát, còn năm khu vực còn lại đều sẽ do Triệu Vĩnh đưa người đi tim.”

“Được thôi! Vậy thì chúng ta chia nhau ra lục soát hay là cùng một lúc?”, Đường Phong hỏi.

Hàn Giang nhìn Yelena, rồi lại nhìn sang Đường Phong do dự: “Chia nhau ra lục soát, nhưng cũng không được để lạc nhau, ở đây bất cứ lúc nào cũng có thể gặp nguy hiểm.”

“Vậy sao anh không mang thêm người tới! Tôi bảo anh lôi theo tiến sỹ Từ đi cùng thì anh không nghe!”, Đường Phong oán thán.

“Tiến sỹ Từ bị thương, cần phải nghỉ ngơi!”

“Nghỉ cái khỉ! Tôi còn bị thương nặng hơn anh ấy!”

“Được rồi! Được rồi! Cậu bị thương nặng nhất, vậy thì để Yelena cùng nhóm với cậu, tôi một mình một nhóm. Chúng ta căn cứ theo khu vực khoanh trên bản đồ, lục soát Jtừ trái sang phải, cả lúc đi lẫn lúc quay lại. Mỗi lần đi rồi quay lại như vậy mất khoảng một tiếng đồng hồ, chúng ta sẽ đụng mặt nhau một lần. Neu ai có phát hiện gì thì bắn một phát súng ra hiệu. Giao hẹn như vậy nhé!”

Hàn Giang phân công xong nhiệm vụ liền một mình đi về phía bên trái tìm kiếm, còn Đường Phong và Yelena đi về phía bên phải. Theo tuyến đường mà Hàn Giang vẽ, họ bắt đầu từ chỗ giáp ranh khu vực thứ năm, lục soát tới mãi tận dưới chân vực. Cả quá trình này phải đi đi lại lại khoảng bốn lần, như vậy cũng có nghĩa là đụng mặt nhau bốn lần.

Lần đầu tiên gặp nhau, ba naười đều đến đúng giờ, chẳng phát hiện được eì cả. Lần thứ hai cũng vậy, chẳng 560 I phát hiện được gì cả, sự thất vọng đã hiện rõ trên mặt Hàn

Giang. Nhưng lần thứ ba, khi Đường Phong và Yelena gặp nhau tại nơi giao hẹn, thì Hàn Giang lại không xuất hiện đúng giờ.

Đường Phong và Yelena nhìn nhau, trong lòng đầy hoài nghi. “Có khi Hàn Giang đã phát hiện thấy gì rồi!”, Yelena đoán.

“Mong rằng như vậy!”

Đường Phong và Yelena đợi ở điếm hẹn năm sáu phút đồng hồ mà vẫn chưa thấy bóng dáng Hàn Giang đâu cả. Yelena bắt đầu lo lắng: “Không phải anh ấy nói rằng nếu phát hiện thấy gì sẽ bắn một phát súng tín hiệu sao?”

Yelena vừa dứt lời thì trên không trung bồng vang lên tiếng súng, ánh lửa đạn làm lóa cả mắt: “Tôi đã nói chắc là Hàn sẽ phát hiện thấy gì rồi mà!”, Yelena mừng rỡ đi về phía tín hiệu đạn nổ để tìm kiếm.

Đường Phong theo Yelena, đi được gần chục phút, xuyên qua một khoảnh rừng, và họ trông thấy Hàn Giang đang đứng sừng sững trước một bụi rậm. Họ tiến lại gần Hàn Giang, nhìn thấy một thi thể khủng khiếp đang vắt ngang trên một đống cây khô.

“Stephen...”, Đường Phong thốt lên, anh chưa từng thấy một thi thể nào lại thảm hại đến vậy. Tuy thân thể Stephen xem ra cũng tạm coi là nguyên vẹn, nhưng nếu nhìn kĩ thì gần như không còn lấy một chỗ thịt nguyên vẹn, chồ nào cũng rách nứt hết cả, có chồ nội tạng còn lòi cả ra ngoài, tất cả khung xương cũng dã gãy hết, vài chiếc xương bị gãy còn đâm xuyên thủng cả da thịt, phần da và quần áo cũng lòi cả ra. Khủng khiếp nhất vẫn là khuôn mặt

của Stephen, hoàn toàn không còn nhìn ra mặt người, một con ngươi vẫn còn trong hố mắt, hố mắt còn lại thì trống trơn, sâu hoắm...

“Chết thảm đến mức này sao?!”, Đường Phong nhìn thi thế của Stephen mà không khỏi xót xa.

“Xem ra khu vực thứ năm là nơi có khả năng phát hiện ra kệ tranh ngọc nhất!”, Yelena nói.

Hàn Giang đứng im một hồi mới định thần lại, chậm rãi nói: “Nhưng tôi đã tìm khắp xung quanh đây, mà cũng không thấy thi thể của Stechkin và cái ba lô đựng kệ tranh ngọc đâu cả.”

“Có thể là rơi ở chỗ khác!”, Đường Phong đoán.

“Ban đầu tôi cũng nghĩ vậy, nhưng sau khi xem kĩ thi thể của Stephen thì tôi đã phát hiện ra một manh mối. Mọi người nhìn quần áo của Stephen đi!”, Hàn Giang nhắc nhở.

“Quần áo làm sao?”, Đường Phong không hiểu.

Hình như Yelena đã nhìn ra vắn đề: “Bên trong người Stephen có mặc một chiếc áo chống đạn!”

“ừm, đúng là như vậy. Stechkin ra tay chuẩn xác, do Stephen mặc chiếc áo này nên mới lọt qua được mắt của Stechkin. Điều này đã chứng minh cho những gì mà Stephen kể lại, anh ta đã đề phòng Stechkin từ trước đó rất

Gô lâu. Cuối cùng, hành động mà Stephen ôm Stechkin lao xuống cõi chết càng khiến Síechkin không thể ngờ tới, bởi Stechkin không thể ngờ rằng, Stephen vẫn chưa chết”, Hàn Giang giải thích xong, lại chỉ vào đôi tay của Stephen nói: “Mọi người nhìn chồ này đi!”

Lúc này Đường Phong mới phát hiện Stephen vẫn đang trong tư thế ôm chặt lấy StcclikiM null không khỏi thốt lên: “Xem bộ dạng của Stephen, như anh ta chết cũng không chịu buông tay!”

“Đúng! Nếu như Stephen và Stechkin cùng nhảy xuống, Stephen lại ôm chặt lấy Stechkin thì đáng lẽ ra thi thể của cả hai phải ở cùng nhau mới đúng!”, Hàn Giang nói.

“Đúng vậy!”, Đường Phong ngẫm nghĩ một hồi mà cũng không lần ra được manh mối, rốt cuộc, anh nói với Hàn Giang: “Hãy lục soát hết khu vực này đã rồi tính tiếp!”.

Hàn Giang cũng đành phải đậy thi thể của Stephen lại, đánh dấu, sau đó tiếp tục lục soát khu vực còn lại theo như kế hoạch ban đầu.

7

Càng xuống dưới vực núi, đường càng khó đi. Đường Phong và Yelena bước thấp bước cao xuyên qua bụi cỏ dại và lau sậy um tùm, rậm rạp, mà còn không được bỏ qua bất cứ một địa điểm khả nghi nào. Gai góc mấy lần đâm vào người Đường Phong. Đột nhiên, Yelena đi đằng trước bỗng bị thụt chân, ngã sõng soài ra đám cỏ dại và lau sậy.

Đường Phong thấy vậy liền vội vàng tới đỡ Yelena. Thấy cô chỉ bị xây xước nhẹ, anh liền trêu ghẹo: “Cô j

không được để xảy ra chuyện gì đâu đấy, không thì tôi lại chẳng biết ăn nói thế nào với Hàn Giang!”

“Đừng có trêu tôi nữa, hình như ban nãy tôi bị cái gì vướng vào chân thì phải.”

Đường Phong phát hiện thấy giày của Yelena mắc vào một sợi dây, mắt anh sáng lên, đây không phải là sợi dây trên chiếc ba lô của Stechkin sao? Đường Phong nhanh chóng tìm thấy chiếc ba lô đó trong bụi cỏ.

Yelena vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ reo lên: “Ba lô của Stechkin!”

Hai người vội vàng mở ba lô của Stechkin ra, vài miếng ngọc vụn nát xuất hiện trước mắt họ, Đường Phong vừa nhìn đã nhận ra ngay đây chính là mảnh vụn của ba miếng ngọc bộiế Tiếp tục lật ba lô ra thì cảnh tượng mà Đường Phong không muốn trông thấy đã hiện lên rồi, anh lại tìm thấy mấy miếng ngọc vỡ. “Chết rồi, mấy miếng ngọc bội vỡ vụn thế này thì.chắc chắn kệ tranh ngọc cũng khó mà còn nguyên vẹn được!”, anh không khỏi lo lắng.

Đường Phong nhận ngay ra, những miếng ngọc vỡ dốc ra được từ đáy ba lô, chính là kệ tranh ngọc mà anh phát hiện thấy trong giếng vàng: “Toi rồi, quả nhiên đã vỡ vụn rồi!”

Đúng lúc Đường Phong hồn xiêu phách lạc thì Yelena đột nhiên phát hiện ra trong ba lô vẫn còn một chiếc hộp gấm: “Này, sao ở đây lại cỏ một cái hộp vậy?”

Đường Phong giật mình. Anh cũng nhìn thấy chiếc hộp đó, mở ra xem, hóa ra lại là một kệ tranh ngọc, một kệ I tranh ngọc đã bị nứt gãy thành mười mấy mảnh.

“Sao... sao lại mọc đâu ra thêm một kệ tranh ngọc, thế này?”, Yelena không hiểu.

“Đây chắc là kệ tranh ngọc mà mấy đời gia tộc nhà Stephen để lại, đáng tiếc cũng bị vỡ vụn rồi!”, Đường Phong lập tức nghĩ tới Mã Xướng Quốc, cha của Stephen.

“Đây là một phát hiện bất ngờ. Cả bốn kệ tranh ngọc chúng ta đều tìm thấy rồi, chỉ... chỉ có điều... vỡ mất hai tấm!”, Yelena nuối tiếc nói.

“Tìm thêm xem, ba lô của Stechkin tìm thấy rồi, thi thể của hắn chắc cũng quanh đây thôi!”, Đường Phong nhìn xung quanh.

Yelena nghe Đường Phong nói vậy, theo phản xạ liền rút súng ra. “Stechkin bị rơi xuống thành đống thịt nát rồi, cô còn sợ cái gì?”, Đường Phong thấy Yelena hơi nhạy cảm quá đà.

“Đừng lơ là cảnh giác, Stechkin có thể thoát ra được khỏi nhà tù Bonika thì chắc chắn không phải loại người đơn giản đâu!”, Yelena cảnh cáo Đường Phong.

Lời cảnh báo của Yelena khiến Đường Phong lại nhớ tới cảnh tượng mình bị bất ngờ tấn công trong bụi cỏ lúc trên đỉnh núi. Một ông già trông gầy yếu vậy mà khỏe kinh người, đó là một năng lượng không thể kháng cự... Đường Phong nghĩ tới đây cũng rút súng ra.

Đường Phong và Yelena thận trọng lục soát một lượt xung quanh, nhưng không thấy thi thể của Stechkin. Yelena nhìn đồng hồ, sắp tới giờ hẹn Hàn Giang nên đành phải xách ba lô của Stechkin tới nơi hẹn gặp mặt với Hàn Giang.

Trên tay Hàn Giang cũng đang cầm một chiếc túi. “Chiếc túi đựng dù của Stechkin?!”, Đường Phong nhận ngay ra chiếc túi trong tay Hàn Giang.

“Tôi vừa phát hiện ở đằng kia, còn chưa kịp mở ra!”, Hàn Giang nói.

“vẫn chưa mở ra? Như vậy cũng tức là chiếc dù của Stechkin vẫn chưa bật, vậy thì hắn chết chắc rồi!”, Đường Phong vừa ngạc nhiên vừa vui mừng.

Hàn Giang trầm ngâm một hồi, nói: “Từ chiếc túi chưa được mở ra này suy đoán, thì chắc là như vậy, nhưng xác của Stechkin đâu? Chúng ta đã tìm khắp cả năm khu vực, phát hiện thấy xác Stephen ở đây, chiếc túi đựng dù và ba lô của Stechkin, kệ tranh ngọc cũng tìm thấy rồi nhưng vẫn chưa thấy xác của Stechkin đâu cả”.

“Có khi nào xác Stechkin rơi xuống khu vực khác không? Dù gì thì xác của Stephen và cả hai cái túi cũng văng đi mấy nơi, đâu có ở cùng một chỗ, rất có thể xác của Stechkin cũng rơi xuống chồ nào đó cách đây khá xa!”, Yelena suy đoán.

Hàn Giang nhìn lên trời rồi nói: “Chúng ta tìm kiếm thêm lần nữa, nếu như vẫn không tìm thấy thì quay về đợi tin tức của hội Triệu Vĩnh.”

Vậy là ba người chia thành các ngả tìm kiếm lại một lượt từ vách núi ra bên ngoài. Sau mấy tiếng đồng hồ, khi Hàn Giang, Đường Phong và Yelena gặp lại nhau, họ vẫn chẳng thu hoạch được gì.

Ba người thất vọng quay trở lại dưới chân núi dựng

tạm lều trại, họ chờ đợi tin tức từ Triệu Vĩnh đang tìm li...............

kiếm ở những khu vực khác. Màn đêm buông xuống, từng tốp người lần lượt kéo nhau về báo cáo, bốn khu vực đều chẳng phát hiện thấy gì, chỉ còn lại khu vực thứ sáu nơi ị Triêu Vĩnh đích thân tìm kiếm. Khu vưc này nằm giáp ranh

với khu vực thứ năm, và được Hàn Giang cho răng đây Ị/ chính là nơi có khả năng phát hiện ra được điều gì đó nhấtế

Đến bữa tối, Triệu Vĩnh đem theo ba lính đặc công quay trở về, thất vọng báo cáo với Hàn Giang: “Tôi đã lục soát ba lần, nhưng cũng không có bất cứ phát hiện có giá trị nào.”

Hàn Giang vừa nghe thấy vậy đã thất vọng đổ người ra ghế. Lẽ nào Stechkin bốc hơi rồi sao? Người sống không thấy đâu, người chết cũng không thấy xác?! “Không! Không thể như vậy!”, Hàn Giang đột nhiên bật lên khỏi ghế.

“Quả... quả thực chẳng phát hiện được gì!”, Triệu Vĩnh bị tiếng hét của Hàn Giang làm cho giật bắn mình.

Hàn Giang hất hất tay, ra hiệu cho Triệu Vĩnh đi ra, nhưng chưa kịp đợi Triệu Vĩnh ra ngoài, Hàn Giang đã lại gọi giật anh lại: “Buổi đêm tăng cường cảnh giới. Sáng sớm ngày mai cho quân tản ra, tiếp tục lục soát, tổ chức cho những đặc công giỏi leo lên vách núi tìm kiếm!”

Triệu Vĩnh vừa nghe thấy vậy đã chóng cả mặt, nhưng lai không dám cãi lai lênh của Hàn Giang, nhất thời

không biết phải làm thế nào. Lúc này, Đường Phong bỗng rầu rĩ nói: “Tôi nghĩ không phải tìm kiếm nữa đâu!”

“Tại sao?”, Hàn Giang, Triệu Vĩnh, Yelena đều nhìn Đường Phong.

“Stechkin còn sống hay đã chết đều không quan trọng nữa rồi... Mọi người hãy nhìn cái này...”, Đường Phong nói tới đây thì quay nhìn mọi người. Khi tất cả quây lại thì thấy Đường Phong đã ghép hai kệ tranh ngọc vỡ vụn lại. Đường Phong chỉ vào kệ tranh ngọc, bắt đầu nói: “Hai kệ tranh ngọc này một kệ thì vỡ thành 18 mảnh, một kệ thì thành 13 mảnh, nhưng đều không thiếu sót, ghép lại vẫn có thể sử dụng”.

Hàn Giang chăm chú quan sát một lượt, sau đó gật gù, miệng lẩm bẩm: “Tiếp theo phải trông cậy vào hiểu biết của giáo sư La rồi.”
 

hoahongden12

Active Member
Tử Thư Tây Hạ
Quyển 3 - Chương 21: Người sống sót thứ 4

Đội thám hiểu xảy ra chuyện, chính phủ hai nước Trung Quốc — Liên Xô đều áp dụng phương pháp giải quyết trong hòa bình. Tuy vậy, chính phủ hai nước cũng đều đã mất hết hứng thú với việc tìm kiếm Hạn Hải Mật Thành, về phía Liên Xô, Makarov bị gọi vào KCB, Makarov thì được KGB bí mật bảo hộ nghiêm ngặt, kệ tranh ngọc được cất giữ, hồ sơ và các tài liệu liên quail thì bị tiêu hủy. Vậy phía Trung Quốc thì sao?

1

Triệu Vĩnh lại đưa người đi tìm kiếm thêm một ngày, vẫn không phát hiện thấy thi thể của Stechkin. Hàn Giang quyết định không lãng phí thời gian thêm nữa, để Triệu Vĩnh và một số nhân lực dẫn theo ở lại, còn mình cùng Đường Phong, Yelena, Makarov và Từ Nhân Vũ quay về tổng bộ.

Hàn Giang căn cử vào manh mối mới, để phân công lại nhiệm vụ, giao hai kệ tranh ngọc bị vỡ cho giáo sư La.

Đối diện với hai kệ tranh ngọc bị vỡ vụn thành hơn chục

mảnh này, giáo sư La cũng không khỏi chau mày. Mãi lâu sau, giáo sư La mới nói với Hàn Giang: “Tôi chỉ có thể thử xem có thể ghép hai kệ tranh ngọc này lại không, sau đó mới giải nghĩa những văn tự trên đó và tấm bản đồ phía sau.”

“Vậy thì phiền bác quá! Bác hãy cố gắng phục chế lại hai kệ tranh ngọc này trong khả năng lớn nhất!”, Hàn Giang khẩn cầu.

“Cậu yên tâm, tôi sẽ cố gắng hết sức. May mà những mảnh vỡ vẫn còn đủ nên vẫn có thể phục chế được, nhưng kết quả sau đó thế nào, thì tôi cũng không dám khẳng định!”, giáo sư La từ trước tới nay làm việc rất cẩn trọng, những việc nào không chắc chắn, ông đều không hứa hẹn trước. Nhưng Hàn Giang và Đường Phong cũng biết, giáo sư La đã nói đến như vậy rồi, thì xem ra ông cũng khá tự tin.

Hàn Giang quay sang Yelena và Makarov, nói: “Yelena, sau khi hai người về nước, anh hi vọng hai người có thể kiểm tra đến cùng hồ sơ của Branch, Stechkin và Brainin.”

“Bây giờ anh đang giao việc cho bọn em, giống như sếp của bọn em ấy nhỉ. Anh phải biết rằng ở chỗ em, đến Ilyushin cũng phải ngoan ngoãn nghe theo lời em đấy!”, Yelena nổi cáu.

“Đâu có, anh sao dám giao nhiệm vụ cho em, đây chẳng phải là anh đang thương lượng, để mong em giúp đỡ đó sao?”, Hàn Giang liền vội vàng đối mặt tươi cười hớn hở chưa từng thấy, khiến Đường Phong suýt thì bật cười.

“Nói vậy còn tàm tạm. Em nói cho anh biết, trước đây em đã từng kiểm tra qua hồ sơ của Stechkin và Brainin rồi, chẳng có gì sai lệch so với tình hình mà em nắm được, nếu đối chiếu với hồ sơ thì không thấy họ che giấu chuyện gì cả!”, Yelena nói.

“Vậy thì kiểm tra Branch xem sao!”, mắt Hàn Giang đảo qua đảo lại như ngẫm nghĩ, rồi nói tiếp: “Còn... còn cả cái gã Shchedrin nữa, lão Mã, bác thử đi hỏi ông ấy xem, gợi cho ông ẩy nhớ lại chuyện trước đây, đặc biệt là chuyện bạo động ở căn cứ Tiền Tiến tnrớc đây, cháu cảm thấy điều này rất quan trọng.”

“Tôi cũng nghĩ vậy. Bao nhiêu là việc cho thấy vấn đề mà hiện giờ chúng ta đang đối diện, chắc có liên quan tới tổ chức bí ẩn và căn cứ Tiền Tiến năm nào!”, Makarov chần chừ một lúc rồi than thở: “Nhớ lại đúng thật là xấu hổ, năm đó tôi còn là người phụ trách căn cứ Tiền Tiến.

“Còn cả cái gã White nữa, Shchedrin đã nhắc tới cái gã White người Mỹ đó, rất khả nghi. Sau này Stephen cũng gặp phải một người Mỹ tên là White!”, Hàn Giang dặn dò Makarov.

“White?!”, Makarov lắc lắc đầu, “Nhưng sợ rằng Shchedrin cũng chẳng biết được bao nhiêu, lần trước ông ta cũng từng nói rằng sau này không tiếp xúc với Stechkin nữa, White cũng mất tích.”

“Bất luận thế nào bác cũng phải cố hỏi ông ấy bằng được!”, Hàn Giang dặn dò.

“Được rồi! Hàn, khỏi cần anh phải dặn bọn em từng li từng tí như thế, đừng quên bọn em cũng là đặc công. Em còn phải điều tra về báo cáo tử thi cuối cùng của Brainin, còn phải tìm hiểu tình hình của Stechkin tại Bonika. Tóm lại, những gì anh nghĩ tới, chắc chắn em đã nghĩ ra trước cả anh!”, Yelena đầy vẻ tự tin.

Hàn Giang bối rối, cười cười: “Anh thích vẻ tự tin này của em. Nghe em nói vậy thì anh cũng vên tâm rồi.”

2

Tiễn Yelena và Makarov xong xuôi, Đường Phong và Hàn Giang vẫn không có phút nào được rảnh rang. Điện thoại của cảnh sát Kim từ đội cảnh sát hình sự gọi tới: “Hàn à, anh chạy đi đâu đấy? Mấy hôm nay gọi mãi cho anh mà chẳng có ai nghe máy!”

“Anh Kim à, mấy hôm trước tôi đi thực thi nhiệm vụ đặc biệt.”

“Nhiệm vụ đặc biệt? Vậy thì tôi không hỏi nữa.”

“Sao? Vụ án của giáo sư Trần có gì tiến triển không?”

“Tiến triển? Cũng chẳng coi là tiến triển được, báo cáo khám nghiệm tử thi của Trần Tử Kiến có rồi!”

“Được, hai mươi phút sau gặp”, Hàn Giang nghe điện thoại xong liền đánh mạnh vô lăng, quay đầu xe lao vun vút về phía hướng trụ sở đội cảnh sát hình sự.

Hai mươi phút sau, Đường Phong và Hàn Giang đã tới chồ đội cảnh sát hình sự. Cảnh sát Kim lấy báo cáo

khám nghiệm tử thi của giáo sư Trần Tử Kiến ra, do dự một hồi mới nói: “Kết luận khám nghiệm tử thi vốn không có gì phức tạp, ban nãy lẽ ra tôi có thể nói luôn với anh qua điện thoại. Chỉ là..

3

“Anh Kim, anh cũng biết ấp a ấp úng từ lúc nào vậy?”

“Chỉ là kết luân về cái chết của Trần Tử Kiến khiến tôi thấy có chút khó hiểu, bởi vậy mới mời anh tới đây”, cảnh sát Kim giải thích.

“Khó hiểu? Không phải lần trước nói rằng là do Trần Tử Kiến tự sát sao? Sao rồi, bây giờ lại chuyển thành bị giết ư?”, Hàn Giang hỏi lại.

“Không! Không! Không phải ý đấy. Tới hiện giờ Trần Tự Kiến tự sát hay là bị giết vẫn chưa có kết luận cuối cùng. Bởi vậy, vụ án này đến nay vẫn chưa kết thúc, bản thân tôi vẫn nghiêng về khả năng tự sát!”, cảnh sát Kim nhìn Hàn Giang, rồi lại nhìn sang Đường Phong, giải thích thêm: “Tôi nói khó hiểu là vì thực ra từ lần trước tại hiện trường đã nói với các anh rồi, tư thế chết kì dị của Trần Tử Kiến cứ ám ảnh tôi mãi. Báo cáo khám nghiệm tò thi lại chỉ rõ: Trần Tử Kiến do chịu sử hoảng loạn khủng khiếp từ bên ngoài đã dẫn đến đứt mạch máu não mà chết.”

“Đúng là vì hoảng sợ quá mà chết ư?”, Đường Phong ngạc nhiên, “Nhưng Tiểu Lô, trợ lý của Trần Tử Kiến nói rằng giáo sư Trần vốn không có bệnh tật gì về tim mạch và huyết áp cả.”

“Đây chính là điều khiến người ta không sao giải thích được. Sau đó chúng tôi đã điều tra hồ sơ bệnh án và hồ sơ khám sức khỏe của Trần Tử Kiến, đúng là ông ấy không có bệnh tật gì về tim mạch và huyết áp. Người không có tiền sử bệnh tim mạch hay huyết áp, thì sao lại dễ dàng bị khủng hoảng mà chết như vậy được? Điều này không thể giải thích nổiỄ Tôi làm cảnh sát hình sự được nửa đời rồi, nếu nói là có người từng chết vì sợ hãi thì cũng có, nhưng hầu hết họ đều có tiền sử bệnh tim hay huyết áp. Vụ án của Trần Tử Kiến, đúng là lần đầu tiên tôi thấy, thật quá kì lạ! Tư thế chết càng kì quái!...”, cảnh sát Kim lẩm bẩm.

3

Hàn Giang và Đường Phong nghe cảnh sát Kim trao đổi xong thì cũng đã đến buổi trưa. Hai người đi ra khỏi đội cảnh sát hình sự, Hàn Giang hỏi Đường Phong: “Sao rồi? Có thu hoạch được gì không?”

“Tôi lại muốn tới phòng thí nghiệm của giáo sư Trần lần nữa xem sao!”, Đường Phong bỗng nói.

“Sao, cậu lại nghĩ ra cái gì à?”, Hàn Giang hỏi lại.

“Tôi luôn cảm thấy trong vụ án của giáo sư Trần chắc chắn chúng ta đã bỏ sót điều gì đó...”, Đường Phong tự lẩm bẩm.

“Cậu vẫn nghi ngờ giáo sư Trần bị giết?”

“Tới đó xem trước đã!”

Chẳng mấy chốc, hai người đã tới phòng thí nghiệm của giáo sư Trần. Đúng buổi trưa nên trong tòạ nhà vắng hoe. Trước khi tới, Đường Phong và Hàn Giang cũng không thông báo cho Tiểu Lô, vì cả hai người đã thông thạo đường đi ả đây. Chiếc thang máy già cỗi vẫn kêu cót két, trong hành lang không bật đèn, tuy là ban ngày nhưng vẫn khiến người ta không khỏi cảm thấy âm u lạnh lẽo.

Đường Phong thấy cửa phòng thí nghiệm khép hờ nên khẽ gõ vài cái, không ai mở cửa. Vậy là Hàn Giang không đợi Đường Phong gõ tiếp, anh đẩy thẳng cửa đi vào, Đường Phong thấy vậy cũng vội vàng đi theo. Tiểu Lô không ở đây, hai người đi vào gian phòng bên trong, chỉ thấy Tiểu Lô đang quay lưng về phía họ, mắt chăm chú nhìn lên màn hình máy tính. Hàn Giang gõ gõ cửa, Tiểu Lô nghe thấy tiếng động liền quay ngoắt người lại, nhìn thấy Đường Phong và Hàn Giang thì liền vội vàng đóng ngay file văn bản đang đọc lại, sau đó lại thao tác trên máy tính một lúc rồi mới đứng dậy đón tiếp Đường Phong và Hàn Giang.

Những hành động hấp tấp của Tiểu Lô không thể lọt qua được mắt của Đường Phong và Hàn Giang. Hỏi han vài ba câu, Đường Phong liếc mắt ra hiệu với Hàn Giang. Hàn Giang hiểu ý, nói với Tiếu Lô: “Chúng tôi muốn được xem bức tượng phần đầu mà giáo sư Trần làm.”

“Phần đầu? Bức tượng đó không phải đã hỏng rồi sao?”, Tiểu Lô hỏi lại.

“Hỏng rồi cũng xem.”

Tiểu Lô hình như không thoải mái lắm, nhưng không dám từ chối Hàn Giang, đành phải dẫn Hàn Giang đi lấy bức tượng hình đầu người trong két sắt. Đường Phong không đi theo, anh thấy Tiểu Lô ra ngoài liền vội vàng tới bên máy tính của cậu ta. Tuy Tiểu Lô đã tắt file văn bản vừa đọc đi nhưng vẫn để lại dấu vết trống “Văn bản gần đây nhất của tôi”. Đường Phong phát hiện ra những văn bản mới mở gần đây có bốn cái, ba cái phía dưới đều là văn bản về y học và nhân loại học, nhưng tiêu đề của văn bản trên cùng là: “Nghiên cứu lời nguyền Tây Hạ (lấy “Quỷ đoạn bách tự yếu quyết” làm ví dụ)”.

Đường Phong bỗng giật thót tim, anh đang định mờ văn bản đó ra để đọc thì bên ngoài cửa đã vọng lại giọng Hàn Giang. Đường Phong đành đứng phắt dậy chạy tới bên cửa sổ, giả vờ như đang nhìn ngắm cảnh vật bên ngoài.

Phần đầu pho tượng khuôn mặt phụ nữ bị gọt mất nửa mặt lần nữa hiện lên trước mắt Đường Phong. Đường Phong nhìn đầu pho tượng, im lặng hồi lâu, rốt cuộc, anh quay lại nói với Tiểu Lô: “Tôi muốn đem bức tượng này đi, có được không?”

Tiểu Lô mím môi: “Tùy các anh, dù sao bức tượng này cũng không dùng đến nữa.”

Đường Phong ôm lấy bức tượng Phật rồi cùng Hàn Giang rời khỏi phòng thí nghiệm. Ra khỏi tòa nhà, lên xe Hàn Giang, Đường Phong lập tức nói ra phát hiện mới của mình: “Tôi đã phát hiện thấy một file văn bản trong máy tính của Tiểu Lô: “Nghiên cứu lời nguyền Tây Hạ (lấy “Quỷ đoạn bách tự yếu quyết” làm ví dụ)”, hơn nữa thứ ban nãy anh ta tập trung tinh thần đọc chính là cái này.”

“Như vậy nói lên điều gì?”

“Từ tiêu đê đã cho thây đây là một bài luận văn. Nhưng đây không phải là chuyên ngành của Tiểu Lô, đó là thứ mà tôi nghiên cứu mới đúng, nhưng Tiểu Lô lại tìm đọc là sao nhỉ?”

“Có lẽ hiện giờ người ta hứng thú với văn hóa Tây Hạ, thích thì xem thôi.”

“Thích thì xem? Vậy tại sao lúc nhìn thấy chúng ta anh ta lại căng thẳng như vậy, lại còn vội vàng đóng ngay file lại? Hơn nữa, bài luận văn đó rất kì lạ: “Nghiên cứu lời nguyền Tây Hạ (lấy ‘Quỷ đoạn bách tự yếu quyết’ làm ví dụ)”?! Hiện giờ trong lĩnh vực nghiên cứu Tây Hạ, tôi cũng được coi là bán chuyên gia, nhưng vẫn chưa từng đọc qua bài luận văn này và cũng chưa từng nghe thấy ‘Quỷ đoạn bách tự yếu quyết’ bao giờ.”

“Vậy chắc kiến thức của anh còn thiếu! Khà khà!”, Hàn Giang trêu ghẹo.

“Kiến thức của tôi còn thiếu? Được, cứ cho là vậy đi. Nhưng tôi vẫn thấy Tiểu Lô có vấn đề, anh phải coi trọng manh mối phía giáo sư Trần.”

“Được rồi, chúng ta còn có manh mối quan trọng hơn, chắc hôm nay Triệu Vĩnh về đấy!”. Hàn Giang nói tới đây liền tăng tốc.

4

Về tới tổng bộ thì thấy Triệu Vĩnh đã rầu rĩ quay về.

“vẫn chưa tìm thấy thi thể của Stechkin phải không?”, Hàn Giang tháy bộ dạng Triệu Vĩnh như vậy là biết ngay.

Triệu Vĩnh thất vọng, lắc đầu nói: “Không thấy, chúng tôi đã tìm kiếm khắp khu vực đó nhưng vẫn không tìm thấy xác Stechkin đâu.”

“Gã này bốc hơi ư?”, Hàn Giang thất vọng tới cực điểm, liền ra lệnh: “Cậu tiếp tục tìm kiếm, có manh mối gì lập tức thông báo cho tôi”.

Triệu Vĩnh đành miễn cường nhận lệnh đi ra, còn Đường Phong lại đang ngây người trước máy tính của Hàn Giang, tất cả máy tính trong tổng bộ đều không nối mạng với bên ngoài, chỉ có mồi máy tính của Hàn Giang là làm được điều đó.

Hàn Giang vồ vỗ Đường Phong, hỏi: “Xem gì thế?”

Đường Phong đang tìm kiếm trên mạng tiêu đề của bài luận văn, mà anh nhìn thấy trong máy tính của Tiểu Lô, nhưng trên mạng chẳng có gì cả. Đường Phong lại tìm kiếm riêng tiêu đề: “Quỷ đoạn bách tự yếu quyết”, kết quả tìm kiếm lên tới vài trăm nghìn, nhưng khi anh đọc lướt qua thì phát hiện thấy đều là những tin tức không liên quan.

Điều này khiến Đường Phong càng thêm nghi hoặc: “Bài luận văn đó của Tiểu Lô ở đâu ra nhỉ?”

“Không phải do cậu ta tự viết chứ?”, Hàn Giang cười nói.

“Cậu ta? Cậu ta có khả năng đó sao?”, Đường Phong chìm trong nghi hoặc.

‘Được rồi, chúng ta sẽ sắp xếp lại toàn bộ vấn đề từ

I đầu tới cuối!”, Hàn Giang chuyển chủ đề.

“Toàn bộ sự việc? Cuộc bán đấu giá?”, bây giờ cứ nhắc tới cuộc bán đấu giá đó là Đường Phong cảm thấy đau đầu.

“Không! Lần này chúng ta bắt đầu từ kệ tranh ngọc, bắt đầu từ kệ tranh ngọc cỏ được từ gia đình của Stephen!”, Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

“Gia đình của Stephen?”

“Đúng! Hai hôm nay tôi đã suy ngẫm lại một lượt, toàn bộ sự việc xem ra dường như là bắt đầu từ cuộc bán đấu giá đó, nhưng thực ra thì nó đã bắt đầu từ cách đây mấy chục năm rồi, bắt đầu kể từ khi Hắc Lạt ma lấy được kệ tranh ngọc của Đôn Hoàng”. Hàn Giang vừa nói vừa lấy ra một tờ giấy, viết lên đó bốn địa danh núi Hạ Lan, Đôn Hoàng, tuyết sơn A Ni Mã Khanh và Hắc Thủy Thành, theo các hưóng Đông, Tây, Nam, Bắc rồi nói tiếp: “Bốn kệ tranh ngọc được cất tại bốn địa điểm khác nhau. Hiện giờ chúng ta đã biết rằng, mấy trăm năm nay, hai kệ tranh ngọc tại núi Hạ Lan và tuyết sơn A Ni Mã Khanh, trước khi chúng ta tới, đã chẳng có ai đụng đến. Hai kệ tranh ngọc ở Đôn Hoàng và Hắc Thủy Thành thì tù’ đầu thế kỷ trước đã không còn ở nguyên vị nữa rồi.”

“ừm, tấm ở Hắc Thủy Thành là do Kozlov phát hiện ra, còn tấm ở Đôn Hoàng thì không biết do ai phát hiện ra, nhưng cuối cùng đã bị Hắc Lạt ma đoạt được.”

“Hai ngày hôm nay tôi luôn nghĩ về hai kệ tranh ngọc đó. Cậu cho rằng tấm ở Hac Thủy Thành được phát hiện thấy trước hay là tấm ở Đôn Hoàng?”, Hàn Giang bỗng đưa ra một câu hỏi kì lạ.

“Nếu xét theo thời gian hoạt động của hai nhân vật lịch sử này, thì chắc là kệ tranh ngọc tại Hắc Thủy Thành được Kozlov phát hiện vào năm 1909. Thời gian hoạt động chủ yếu của Hắc Lạt ma là vào thập niên 20 của thế kỷ trước, như vậy thì chắc là sau khi Kozlov phát hiện ra Hắc Thủy Thành; hơn nữa, rất có khả năng là sau khi Hắc Lạt ma nghe thấy Kozlov phát hiện ra kệ tranh ngọc, nên đã cố ý đi tìm và đã đoạt được kệ tranh ngọc kia.”

Hàn Giang nghe Đường Phong phân tích vậy liền ngẫm nghĩ, nói: “Cậu nói có lý, tôi vốn dĩ cũng nghĩ như vậy, nhưng có khả năng nào tình hình thực tế lại ngược lại không nhỉ?”

“Ngược lại?”, Đường Phong ngạc nhiên, “Ý anh là kệ tranh ngọc ở Đôn Hoàng đã được phát hiện thấy từ trước đó lâu rồi?”

“Sớm nhất cũng là trước thời Kozlov. Tôi còn nhớ trước đây, cậu từng kể với tôi rằng, Kozlov đã từng hai lần tới Hắc Thủy Thành thám hiểm vào năm 1908 và 1909.”

“Đúng vậy! Kozlov nhận lệnh của Hội địa lý hoàng gia phái tới Trung Quốc; vốn dĩ theo kế hoạch của ông ta thì chuyến khảo sát đó sẽ được thực hiện trong một vùng rộng lớn từ Mông cổ tới Tứ Xuyên, Vân Nam. Lần đầu tiên, cũng tức là năm 1908, lần đầu tìm thấy Hắc Thủy

Cô" Thành, cũng chẳng có phát hiện gì đáng nói. Ông ta cho rằng đó chẳng qua chỉ là thành phố nhỏ bị bỏ hoang, nên tiếp tục tiến quân về mục tiêu cuối cùng của mình là vùng Tứ Xuyên, Vân Nam. Nhưng khi Kozlov đi tới Thanh Hải, thì Hội địa lý điện báo cho ông rằng: một số văn vật phát hiện được tại Hắc Thủy Thành rất có giá trị, bảo ông phải lập tức quay trở lại Hắc Thủy Thành, tiếp tục khai quật. Vậy là mới có cuộc khai quật lần thứ hai của Kozlov tại Hắc Thủy Thành vào năm 1909. Cũng trong chính lần khai quật này, Kozlov đã có phát hiện gây chấn động trong đại Phật tháp bên ngoài Hắc Thủy Thành.

“Theo cậu thì nguyên nhân nào đã thôi thúc Kozlov từ Thanh Hải vòng trở lại Hăc Thủy Thành, rôi tiếp tục khai quật?”, Hàn Giang hỏi.

“Theo như nhận thức từ xưa, từ một vài văn vật mà lần đầu tiên Kozlov phát hiện trong Hắc Thủy Thành rồi vận chuyển về Saint Petersburg, thì trong số những văn vật đó, nhà Hán học nổi tiếng người Nga, Ivanovich Ivanov, đã phát hiện ra một loại văn tự cổ mà ông chưa từng thấy. Đó chính là chữ Tây Hạ mà chúng ta biết tới ngày nay. Chính phát hiện này đã gây được sự chú ý của Hội địa lý, nên họ đã lệnh cho Kozlov quay trở lại Hắc Thủy Thành.”

“Có khi nào là kệ tranh ngọc không?”

“Kệ tranh ngọc? Ý anh là Kozlov đã nghe nói về bí mật của kệ tranh ngọc, nên mới quay trở lại Hắc Thủy Thành?”, Đường Phong như him trong suy tư.

“Tại sao tôi lại có suy nghĩ kì lạ như vậy? Cậu nghĩ mà xem, Hắc Lạt ma là người ít học, ông ta không thể nào hiểu được những chữ trên kệ tranh ngọc, thậm chí đến lịch sử của Tây Hạ, ông ta cũng không biết. Vậy thì làm sao ông ta lại biết được mọi chuyện, biết được bí mật của kệ tranh ngọc?”

Mắt Đường Phong bỗng sáng lên: “Ý anh là trong đội quân đó có một cao nhân?”

“Chắc chắn là vậy, nếu không thì kể cả Hắc Lạt ma có đoạt được kệ tranh ngọc đi chăng nữa, thì cũng không thể biết được bí mật của nó.”

“Cao nhân?”, Đường Phong ngẫm nghĩ, “Trước đây tôi cũng nghĩ tới điều này, nhưng tôi cho rằng cao nhân đó chính là Mã Viễn, ông nội của Stephen.”

“Mã Viễn? Ông ấy là người thông thạo chữ nghĩa trong đội ngũ của Hắc Lạt ma. Nhưng cậu nghĩ lại xem, dựa vào năng lực của Mã Viễn thì có thể đọc được văn tự Tây Hạ trên kệ tranh ngọc không?”

“Lẽ nào bên cạnh Hắc Lạt ma và Mã Viễn vẫn còn một cao nhân khác?”, Hàn Giang nói vậy khiến Đường Phong thực sự mông lung.

5

Hàn Giang vẽ một vòng tròn đậm quanh hai chữ “Đôn Hoàng” trên giấy, sau đó viết chữ “X” lên đó, rồi bên cạnh chữ “X”, anh vẽ thêm một dấu hỏi và nói: “Chúng ta bắt đầu nói từ chữ ‘X’ này, sự tồn tại của cao nhân này có hai khả năng. Khả năng thứ nhất là, kệ tranh ngọc do chính ông ta phát hiện ra, sau đó vỉ một mục đích nào đó nên ông Ocjii ta đã hiến tặng kệ tranh ngọc cho Hắc Lạt ma. Neu là như vậy thì kệ tranh ngọc ờ Đôn Hoàng, rất có khả năng đã được vị ‘X’ này phát hiện ra trước khi Kozlov phát hiện thấy kệ tranh ngọc tại Hắc Thủy Thành. Dĩ nhiên, vẫn còn, một khả năng khác, đó là ‘X’ chỉ là một thuộc hạ của Hắc Lạt ma, phục vụ cho Hắc Lạt ma giống như Mã Viễn vậy, sau cùng cũng tham gia vào vụ sát hại Hăc Lạt ma tại chùa Hắc Thứu. Nhưng theo tôi, thì tôi lại nghiêng về khả năng ‘X’ chính là người phát hiện ra trước, bởi vì tôi cho răng năng lực của ‘X’ vượt xa Hắc Lạt ma và Mã Viễn.”

“Suy đoán của anh khiến người khác phải kinh ngạc đấy, nhưng tôi vẫn chưa đồng ý với suy đoán này, bời thật sự có cao nhân ‘X’ này tồn tại hay không? Biết đâu Mã Viễn cũng biết chữ Tây Hạ thì sao?”, Đường Phong lắc đầu, không chịu dễ dàng đồng ý với suy đoán của Hàn Giang.

“Mã Viễn biết chữ Tây Hạ ư?”, Hàn Giang lắc đầu, “Không thể! Cậu đã từng nói rằng, người giải mã được chữ Tây Hạ sớm nhất thời cận đại là nhà Hán học người Nga Ivanovich Ivanov, ồng ta đã căn cứ vào những văn bản mà Kozlov đem về Saint Petersburg, thì mới giải mã được ý nghĩa các văn tự Tây Hạ. Sao cậu có thể tưởng tượng ra rằng: một gã tú tài biến chất như Mã Viễn lại có thể hiểu được văn tự Tây Hạ?”

“Vấn đề không phải nảy sinh rồi sao? Ivanovich Ivanov là học giả đầu tiên giải mã được văn tự Tây Hạ, hơn nữa, việc ông giải mã được văn tự Tây Hạ cũng là từ sau khi Kozlov phát hiện ra Hắc Thủy Thành. Giả dụ nếu thực sự có cao nhân ‘X’ này, thì lẽ nào ‘X’ còn lợi hại hơn ông ta? Có thể giải mã được văn tự Tây Hạ trước hoặc gần như cùng lúc với Ivanovich Ivanov, tôi khôn 2 tin!”, Đường Phong lắc đầu lia lịa.

“Điều này...”, sự phản bác của Đường Phong khiến Hàn Giang cứng miệng. Hàn Giang ấp úng một hồi mới nói: “Đây quả thực là một vấn đề, nhưng tôi vẫn tin rằng có sự tồn tại của ‘X’. Đừng quên lời thề mà cậu và lão Mã thấy trên thềm đá Hậu điện!”, Hàn Giang nhắc nhở Đường Phong.

“Lời thề trên thềm đá!”, tư duy của Đường Phong tức tốc quay trở lại huyền cung trong núi sâu âm u.

“Cậu từng nói với tôi rằng, phía dưới đoạn lời thề trên thềm đá chỉ còn lại tên của Mã Viễn, đáng lẽ phải còn tên của vài người nữa, nhưng đều bị ai đó cố ý xóa đi rồi!”

“Đúng vậy! Việc này tôi luôn cảm thấy kì lạ!”

“Cậu nói xem, việc đó là do ai làm? Ai có thể khắc tên lên xong lại xóa chúng đi? vốn dĩ đã ở trong thạch điện âm u hun hút rồi, chẳng có ai trông thấy, vậy tại sao vẫn phải xóa đi? Sợ bị phát hiện ư?”, giờ thì tới lượt Đường Phong bị hàng loạt những câu hỏi của Hàn Giang làm cho cứng họng. Hàn Giang nói tiếp: “Tôi nghĩ những chữ đó bị xóa đi không phải là vì sợ ai đó nhìn thấy, mà là... mà là những người đó đều chết rồi!”

“Chết rồi? Chỉ còn Mã Viễn sống sót?”

“Chính xác mà nói, thì là họ đều đã bị cái người sống sót đó giết chết!”

“Hả... ý anh là mấy người đó đều bị Mã Viễn giết chết?”, Đường Phong ngạc nhiên.

“Đây là giải thích họp lý nhất. Theo như Stephen kể lại, thì vào những năm cuối thập niên 40 thể kỷ trước, Mã Viễn đã gặp nạn khi tới Thất sắc cẩm Hải tìm kiếm kệ tranh ngọc; còn theo phán đoán của anh thì hội Mã Viễn đã giết chết Hắc Lạt ma rồi khắc lời thề lên thềm đá vào khoảng cuối những năm 20, muộn nhất cũng không vượt

quá đầu những năm 30. Vậy thì ở giữa đã có khoảng chừng hơn chục năm. Vậy thử nghĩ một chút, hơn chục năm đó Mã Viễn đã làm gì?”

“Tìm kiếm kệ tranh ngọc, tìm kiếm Hạn Hải Mật Thành!”

“Không sai. Trong quá trình này, những người khắc lời thồ trên thềm đá, chắc chắn đã xảy ra rất nhiều rất nhiều chuyện, giống như chúng ta vậy. Bời thế, tới cuối những năm 40, trước khi Mã Viễn ròi khỏi chùa Hắc Thím thì nhừng người cùng lập lời thề với ông ta, lúc đó chắc đều đã không còn trên đời này nữa.”

“Cũng có nghĩa là trong mười mấy năm đó, những người từng khắc lời thề trên thềm đá đều đã chết cả rồi, bao gồm cả Mã Viễn?”

“ở đây lại xảy ra hai khả năng, từ những gì mà Đại Lạt ma ở Thất sắc cẩm Hải kể về Mã Viễn, thì có thể nhận thấy: lúc đó Mã Viễn đã là thượng tá của Cục bảo mật, dưới trướng ông ta đã có cả một đám người, có thể coi là đủ lông đủ cánh. Bởi vậy, tôi đoán, rất có khả năng trong mười mấy năm đó, ông ta đã giết chết những người cùng thề với mình, rồi xóa hết tên của họ đi. Dĩ nhiên, vẫn còn có một khả năng khác là: trong ngần ấy năm, những người đó đã chết tự nhiên, hoặc gặp nạn trong quá trình tìm kiếm kệ tranh ngọc. Nhưng nếu như vậy thì lại khôna giải thích được việc: tại sao tên những người đó lại bị xóa đi!”, Hàn Giang nói một hồi về phán đoán của mình.

“Theo phán đoán của anh thì cao nhân bí ẩn ‘X’ đó, chắc cũng là một trong sổ những người thề trên vách đá!”

“ừm, tôi nghĩ chắc là vậy. Hiện giờ, theo suy đoán của tôi, thì chúng ta có thê kết nối toàn bộ sự việc lại với nhau rồi!”, lúc này, một bức tranh hoàn chỉnh dường như đã xuất hiện trước mắt Hàn Giang.

6

Hàn Giang thấy Đường Phong vẫn chưa tin phán đoán của mình, nhưng cũng không giải thích thêm, mà vẫn tiếp tục miêu tả lại bức tranh đang được mở ra trước mắt mình: “Trước tiên, cao nhân ‘X’ này đã phát hiện ra kệ tranh ngọc tại Đôn Hoàng, rồi ông ta đã giải mã được chữ *Tây Hạ trên mặt kệ tranh ngọc, nhưng khổ nỗi, vì thân cô thế cô nên ông không có cách nào để tìm thấy nhũng kệ tranh ngọc còn lại. Bởi vậy, rất có khả năng vào đầu năm 1909 tại Thanh Hải, ông đã kể cho Kozlov nghe một chút về kệ tranh ngọc. Bởi vì, căn cứ theo tình hình chúng ta nắm được trước đây, thì trên kệ tranh ngọc ở Đôn Hoàng chắc là có khắc địa điểm cất giấu kệ tranh ngọc tại Hắc Thủy Thành, điều này chúng ta có thể nhờ giáo sư La nhanh chóng giải mã ra.”

“Đúng! Điều này không cần giáo sư La giải thích, chúng ta cũng có thể suy đoán ra. Nhưng nếu chỉ dựa vào cái này mà suy đoán rằng: Kozlov biết Hắc Thủy Thành là theo ý kiến của cao nhân ‘X’ kia thì khône ổn. Tôi đã đọc qua báo cáo của Kozlov viết sau khi về nước, trong đó không hề nhắc tới lý do liên quan tới việc được ‘X’ chỉ

điểm nên mới quay trở lại Hăc Thủy Thành!”, Đường Phong phản bác lại

Dĩ nhiên là Kozlov không thế nhắc tới cái người ‘X’ đó trong báo cáo rồi, vì ông ta muốn vơ hết công lao vào mình, còn ‘X’ chắc chắn cũng không muốn tên mình xuất hiện trong báo cáo của Kozlov, bởi vậy mà Kozlov hoàn toàn có thể giấu đi những điều đó trong báo cáo của mình.”

“Được rồi, cứ cho rằng anh suy đoán đúng đi, Kozlov đã nghe cao nhân ‘X’ đó chỉ điểm nên mới quay trở lại Hắc Thủy Thành, và cũng phát hiện ra kệ tranh ngọc ở đây, nhưng như vậy thì giúp ích gì cho cao nhân ‘X’? Ông ta cũng đâu có đoạt được kệ tranh ngọc!”

Câu hỏi của Đường Phong lại khiến Hàn Giang cứng họng. Hàn Giang trầm tư một hồi rồi nói: “Tôi nghĩ, khi ‘X’ nói với Kozlov, Hắc Thủy Thành có kệ tranh ngọc, thì chắc chắn giữa họ đã giao hẹn với nhau. ‘X’ vốn dĩ cũng có cơ hội đoạt được kệ tranh ngọc, nhưng rốt cuộc Kozlov đã phản bội lời giao hẹn, đem kệ tranh ngọc trở về Saint Petersburg.”

“Anh cứ tiếp tục vẽ ra đi!”, Đường Phong cảm thấy Hàn Giang đột nhiên trở thành một tiểu thuyết gia, bởi trí tưởng tượng vô cùng phong phú.

“Tùy cậu tin hay không, nhưng tôi sẽ nói hết những suy nghĩ của tôi, cậu nghe xong không biết chừng sẽ tin đấy. Tuy tôi vẫn chưa thể hoàn toàn xác định được tung tích của ‘X’, nhưng cao nhân ‘X’ lúc ẩn lúc hiện này, chắc chắn có tồn tại. Sau khi Kozlov khai quật trộm ở Hắc Thủy Thành, thì ‘X’ cũng bặt vô âm tín, nhưng khi Hắc Lạt ma quật khởi thì chắc chắn chính ông ta đã dâng tặng cho Hắc Lạt ma kệ tranh ngọc tại Đôn Hoàng. Vậy rõ ràng mục đích của ông ta là hi vọng có thể mượn thế lực của Hắc Lạt ma, để tìm được tất cả kệ tranh ngọc, tìm thấy Hạn Hải Mật Thành.”

“Sau đó ‘X’ và Mã Viễn đã cùng nhau giết chết Hắc Lạt ma, rồi lại cùng nhau đi tìm kiếm kệ tranh ngọc, tìm kiếm Hạn Hải Mật Thành. Tôi nói thay anh nhé!”, Đường Phong cười nói.

“Đúng! Là như vậy. Cậu đừng cười, cậu có biết sau đó thế nào không?”

“Sau đó thế nào ư? Ông ta bị Mã Viễn hại chết! Là tôi nói theo suy đoán của anh đấy nhé!”, Đường Phong nói.

“Đây chỉ là một khả năng. Được rồi! Cứ cho rằng ‘X’ đã chết trước cuối những năm 40 của thế kỷ 20 đi, chúng ta tạm thời không nói tới ông ta nữa, nói tới Mã Viễn đi..

“Mã Viễn? Không phải Mã Viễn cũng đã chết trong hang động thác nước vào cuối những năm 40 thế kỷ 20 sao?”

“ừm, chục năm sau đó, bề ngoài thì chẳng có chuyện gì liên quan tới kệ tranh ngọc xảy ra cả, mãi cho tới khi đội thám hiểm Trung - Liên mất tích bí ẩn!”

“Thực ra trong chục năm đó, thế sự đã âm thầm dậy sóng!”, Đường Phong nói.

“Đúng vậy, mười năm đó âm thầm dậy sóng. Neu nói rằng sự tranh giành kệ tranh ngọc của Mã Viễn trước lúc chết là hiệp đầu, vậy thì sự mất tích của đội thám hiểm Trung - Liên chính là hiệp sau, giữa những năm đó có thể hiểu là giải lao giữa hai hiệp.”

“Ồ! Giải lao giữa hai hiệp, bây giờ tôi cảm thấy anh càng nói càng thú vị rồi đấy!”, Đường Phong bắt đầu tin vào những suy đoán của Hàn Giang.

“Vậy thì trong chục nãm đó rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”, Hàn Giang tự hỏi rồi tự trả lời: “Hãy cứ bắt đàu nói từ hai kệ tranh ngọc đã được phát hiện thấy. Trước đây, chúng ta đã biết rằng, sau khi Kozlov mang kệ tranh ngọc về Saint Petersburg, thì kệ tranh ngọc đó đã được các học giả người Nga rất coi trọng, nhưng Ivanovich Ivanov đã chết trong trận ‘đại gột rửa’ của những năm 30, sau đó lại là chiến tranh Vệ quốc, nên việc liên quan đến kệ tranh ngọc chẳng còn ai quan tâm tới. Mãi cho tới đầu những năm 50, Misha và Menshikov đã phát hiện ra kệ tranh ngọc này trong cung điện Mùa đông, rồi sau đó đã có đội thám hiểưi Trung - Liên cuối những năm 50. Đây là manh mối phía nước Nga.

Tiếp tục nói về kệ tranh ngọc trên tay Mã Viễn; lần này rốt cuộc chúng ta cũng đã có được chút tin tức của gia tộc họ tò Stephen. Theo những gì Stephen nói, thì năm đó Mã Viễn đã gặp nạn trong hang động ở thác nước tại Thất Sắc Cẩm Hải, cha của Stephen, cũng chính là Mã Xướng Quốc, và một người nữa đã chạy thoát. Điều này phù hợp với những gì chúng ta thấy trong thác nước; bởi vậy tôi cho rằng những gì Stephen nói đều là thật. Sau đó, Mã Xướng Quốc với thân phận là đặc vụ của Cục bảo mật đã làm gì? Sau khi Quốc dân Đảng bị đánh bại phải rút khỏi đại lục, ông ta đã không tới Đài Loan mà chủ động yêu cầu được mai phục tại đại lục. Đây là một hành động không thể lý giải vào thời điểm đó, chỉ chắc chắn là ông ta có mục đích của mình, rõ ràng mục đích này là vì kệ tranh ngọc.”

“ừm, chỉ có thể giải thích như vậy, những người này đều bị kệ tranh ngọc hớp mất hồn rồi!”

“Stephen không nói cụ thể trong những năm mai phục ở đại lục, cha anh ta đã làm những gì, và rời đại lục năm nào, nhưng tôi đoán rằng: rất có khả năng Mã Xướng Quốc có liên quan tới việc đội thám hiểm mất tích!”, Hàn Giang mạnh dạn suy đoán.

“Ồ? Anh nghi ngờ Mã Xướng Quốc cũng cùng với đội thám hiểm đi vào sa mạc Badain Jaran?”

“Mã Xướng Quốc làm sao đi chung được với đoàn thám hiểm, nhimg rất có khả năng ông ta đã bám theo họ.”

“Theo như những gì anh nói thì cuối cùng, khi đoàn thám hiểm xảy ra chuyện, ông ta cũng là người sống sót? Lương Vân Kiệt, Makarov, Misha, giờ lại mọc thêm Mã Xướng Quốc...”, Đường Phong điểm lại từng người may mắn sống sót liên quan tới lần thám hiểm đó.

“Có thể Mã Xướng Quốc không chỉ là người may mắn sống sót, mà có khi ông ta còn là hung thủ!”

“Hung thủ?”

“Cậu quên rồi sao, lúc lão Mã báo cáo lại với chủ tịch KGB Yuri Andropov, ông đã từng nói rằng: trước hôm họ xảy ra chuyện thì hai thùng nước uống mà đoàn thám hiểm mang theo đều đã bị đâm thủng, có khả năng là do có người cố ý phá hoại. Chính đoàn thám hiểm cũng xảy ra chuyện sau khi mất nước uống, mới ra ngoài tìm nguồn nước”, suy đoán của Hàn Giang càng lúc càng bạo dạn.

“Anh nghi ngờ chính Mã Xướng Quốc đã chọc thủng hai thùng nước?”

“Còn có thể là ai nữa? Người của đội thám hiểm đều được hai nước Trung - Liên tuyển chọn kĩ lưỡng, không thể có gián điệp trà trộn vào được. Hơn nữa, cũng chẳng có ai muốn mình không có nước uống để chết khát trong sa mạc, bởi vậy không thể do người trong nội bộ đoàn thám hiểm làm được.”

“Nói có lý, kha năng lớn nhất là Mã Xướng Quốc. Nhưng động cơ ông ta làm vậy để làm gì? Lẽ nào chỉ vì để toàn bộ đội thám hiểm sụp đổ tan tác?”

“Động cơ?”, Hàn Giang đảo đảo mắt, “Động cơ ư..., tôi nghĩ rằng lúc đó rất có khả năng đội thám hiểm đã gần tìm thấy Hạn Hải Mật Thành, nên Mã Xướng Quốc đã tìm cách ngăn cản họ. Ông ta đổ hết nước uống của đội thám hiểm đi, là để họ thấy khó nhọc mà bỏ cuộc, sau đó để mình ông ta phát hiện thấy Hạn Hải Mật Thành.”

“Cái gã điên đó, chỉ dựa vào mình gã thôi sao?”

“Có lẽ ông ta vẫn còn đồng bọn.”

“Đội thám hiểm cũng nóng vội quá, chưa tìm thấy toàn bộ bốn kệ tranh ngọc mà đã tiến thẳng vào sa mạc, cuối cùng quả nhiên đã xảy ra chuyện!”, Đường Phong than thở.

“Đừng quên đó là những năm đầy biến động, hai nước nôn nóng muốn tìm thấy Hạn Hải Mật Thành, bởi vậy mới tổ chức một đội thám hiểm hùng hậu như thế. Họ tưởng rằng đông người, nhiều sức, nhưng thực ra đó không phải là việc của nhiều người.”

7

Hàn Giang lại tiếp tục nói: “Đội thám hiểu xảy ra chuyện, chính phủ hai nước Trung Quốc - Liên Xô đều áp dụng phương pháp xử lý trong hòa bình. Nhưng vì nó mà chính phủ hai nước cũng mất hết hứng thú với việc tìm kiếm Hạn Hải Mật Thành, về phía Liên Xô, Makarov bị gọi vào KGB, Misha thì được KGB bí mật bảo hộ nghiêm fígặt, kệ tranh ngọc được cất giữ, các hồ sơ tài liệu liên quan đều bị tiêu hủy. Tôi nghĩ phía Trung Quốc chúng ta chắc cũng như vậy.

Xem ra sự việc này lại bị đứt quãng một thời gian, nhưng thực ra không phải như vậy. Mã Xướng Quốc còn sống sót đã không dám lưu lại đại lục, rồi không những không quan tâm tới mệnh lệnh của phía Đài Loan, mà còn vội vàng đi xuyên qua cao nguyên Thanh Tạng, vượt qua dãy Himalaya để tới Ấn Độ. Sau đó, ông ta cũng không dám tới Đài Loan mà lên tàu vượt biên bằng đường biển tới Mỹ. Sau đó, ông ta trốn chui trốn lủi, ẩn cư tại vùng nông thôn nước Mỹ. mãi cho tới khi nghe nói về cuộc bán đấu giá một kệ tranh ngọc tại Bắc Kinh. Chuyện sau đó thế nào chúng ta cũng đều đã biết.”

‘Nếu như Stephen nói thật, thì mấy chục năm nay

Mã Xướng Quốc cũng chẳng có động tĩnh gì cả.

“ừm, tôi tin Stephen. Bây giờ nghĩ lại, lúc anh ta nói

với chúng ta tất cả những việc này, chắc là anh ta đã chuẩn

bị xong cho việc cùng Stechkin về cõi chết.”

“Đúng vậy! Con người trước khi chết lời lẽ cũng thật thà, lương thiện!”, Đường Phong thốt lên.

“Mã Xướng Quốc ôm lấy kệ tranh ngọc ở Đôn Hoàng trốn chui trốn lủi, không chút động tĩnh. Vậy thì chúng ta hãy nhìn lại phía nước Nga, kệ tranh ngọc ở Hắc Thủy Thành được KGB cất giữ trong mật thất đưới tầng hầm của cung điện Mùa đông, mãi cho tới khi bị Tymoshenko phát hiện. Nhìn bề ngoài thì phía nước Nga gần như cũng chẳng có động tĩnh gì, nhưng bây giờ nghĩ lại thực ra không phải vậy. Ngược lại, mấy chục năm nay họ vẫn âm thầm hoạt động. Trước tiên là Misha, Misha được KGB bí mật bảo vệ nên mới khiến ông bình chân như vại. Nhưng chính cái năm 1964 bị thất lạc đó mới đáng nghi nhất. Theo điều tra của Yelena, thì những đặc công bảo vệ ông ta trước và sau năm 1964, đều chắc chắn có vấn đề, nhưng tới khi Yelena tìm ra họ thì Brainin lại bị thiêu chết còn Stechkin thì vượt ngục.”

“Hiện giờ Stechkin ngang nhiên xuất hiện trước mat chúng ta thì càng chứng minh rằng: những đặc công đó đều có vấn đề!”..

“Yelena nghi ngờ có lẽ ngoài Brainin, Stechkin và Isakov ra thì vẫn còn một người nữa!”, nói xong, Hàn Giang vẽ một vòng tròn quanh chữ “Hắc Thủy Thành”, viết một chữ “X2” bên cạnh, rồi lại vẽ một vòng tròn đậm quanh chữ “X2”.

“Tôi cũng từng nghĩ tới việc đó, nhưng hiện giờ vẫn chưa xác định được sự tồn tại của X2.”

“Đúng vậy, sau này chính lão Mã và Branch phụ trách căn cứ Tiền Tiến. Lão Mã nhắc tới căn cứ Tiền Tiến vốn dĩ chẳng liên quan gì tới kệ tranh ngọc, nhưng hình xăm bí ẩn đó xuất hiện lại khiến hai việc này liên quan tới nhau.”

“Đúng thế! Mãi sau này lúc lão Mã nói ra, tôi mới thực sự cảm thấy bất ngờ, hình tô-tem của bộ lạc Đảng Hạng cổ xưa, xuất hiện trên người những thành viên của đội quân Hắc Lạt ma, xuất hiện trên người của học viên căn cứ Tiền Tiến, rồi lại xuất hiện trên người tổ chức bí ẩn đối kháng với chúng ta, vậy giữa ba nhóm đối tượng này có mối liên hệ gì không?”

“Chắc chắn là có liên quan!”, Hàn Giang ngẫm nghĩ rồi tiếp tục nói: “Đội quân của Hắc Lạt ma đầu tiên do ông ta cầm đầu, sau đó là Mã Viễn. Sau khi Mã Viễn chết thì đội ngũ này sẽ do ai lãnh đạo nhỉ?”

“Mã Xướng Quốc?”

“Hiện giờ chúng ta vần chưa biết được, có thể đội quân này sau đó đã bị dẹp tan, không tồn tại nữa..

“Chắc là như vậy. Nếu không thì Mã Xướng Quốc cũng không đến nỗi một thân một mình chạy tới Mỹ trốn chui trốn lủi.”

“Nhưng vẫn còn có một khả năng là: đội quân này được một người khác tiếp quản.”

“Là ai nhỉ? Những người thề trên nền đá chắc đều chết rồi, ngoài Mã Xướng Quốc ra thì còn ai có thể tiếp quản đội ngũ đó?”

“Không biết. Chúng ta tiếp tục nói về tổ chức bí ẩn đối kháng với chúng ta, đúng đàu tổ chức này chính là ‘Tướng quân’. Tướng quân là ai? Chúng ta không biết.

Ông ta và đội ngũ của Hắc Lạt ma, cả những học viên của căn cứ Tiền Tiến nữa, họ có liên quan nội bộ gì với nhau hay không, hiện giờ chúng ta vẫn chưa biết được.”

“Có lẽ chúng ta đa nghi quá, theo những gì Stephen nói thì đám người đó xăm mình bằng phương pháp xăm hiện đại, không giống như thời của Branch. Có thể bọn chúng vốn là hai tổ chức khác nhau, biết đâu Branch làm đúng như những gì ông ta nói, ông ta nhìn thấy hình tô-tem cổ xưa đó nên sau này dùng để dạy dỗ những học viên không nghe lời.”

“Mong rằng như vậy, nhưng kể từ khi nghe được tình hình mà lão Mã kể, tôi luôn nghi ngờ hình xăm đó không chỉ đơn giản như vậy.”

“Có lễ điều tra phía Yelena có thể giúp chúng ta tháo gỡ được chút nghi ngờ..Đường Phong lẩm bẩm.

8

Đường Phong và Hàn Giang đều chìm trong ưu tư. Mãi một lúc sau, Đường Phong mới than thở: “Bây giờ ngẫm lại thì thấy cuộc bán đấu giá vốn không phải là khởi nguồn của mọi chuyện, mà chỉ là sự tiếp diễn của hiệp sau.”

“Không sai! Cứ cho rằng cộng thêm giờ thi đấu đi, nhưng trận đấu cộng thêm giờ này, cũng đều đã cuốn chúng ta vào đó. Bây giờ, chúng ta nói tới cuộc bán đấu giá đó. Stephen nói rằng, cuộc bán đấu giá đó là một cái lưới do Tướng quân giăng ra, lúc đó tôi mới bừng tỉnh, những nghi ngờ mà trước đây chúng ta không tài nào giải thích được, giờ đều đã rõ mười mươi.”

“Đúng vậy! Để dụ Mã Xướng Quốc ẩn cư bao năm qua, Tướng quân đã không tiếc công sức và thời gian để thiết kế cuộc bán đấu giá đó. Không ngờ Mã Xướng Quốc tuy trốn chui trốn lủi khắp nơi ngần ấy năm trời, nhưng vẫn không chịu được nên đã xuất hiện. Tuy ông ta để Fanny ra mặt, nhưng Tướng quân vẫn lần ra manh mối, tìm thấy Stephen, sau đó tìm thấy Mã Xướng Quốc, vừa để Stephen làm thuê ình, vừa đoạt được kệ tranh ngọc! Một mũi tên trúng hai đích! Thật cao tay!”

Hàn Giang cười: “Sợ rằng lão Tướng quân đó không chỉ một mũi tên trúng hai đích thòi đâu!”

“Ồ!”, Đường Phong không hiểu.

“Hắn không những thông qua cuộc bán đấu giá giải quyết việc với Mã Xướng Quốc, mà còn dụ được cả Lương Vấn Kiệt.”

“Lương Vân Kiệt? Nhưng tôi cảm thấy cả tôi và Lương Vân Kiệt rốt cuộc đều không may, nên mới bị lôi vào chuyện này!”

“Cậu là bị tính tò mò của mình lôi vào, nhưng Lương Vân Kiệt thì chắc chắn không. Hiện giờ, tôi vẫn chưa dám khẳng định Tướng quân thiết kế cái bẫy đó là nhằm vào Lương Vân Kiệt, nhưng tôi có thế khẳng định: ông ta thiết kế ra chuyện đó thì ngoài việc dụ Mã Xướng Quốc ra, chắc chắn còn mong rằng có thể dụ được những người bí mật hiểu biết về kệ tranh nữa, và rõ ràng Lương Vân Kiệt là một trong số đó!”, Hàn Giang suy đoán.

Đường Phong gật gù: “Anh nói như vậy quả thực cũng có lý, xem ra chỉ có tôi ỉà thằng đen đủi!”

“Lương Dũng Tuyền thì tôi không biết ỉà thật hay là giả, nhưng tóm lại ông ta thể hiện rằne mình không hứng thú với kệ tranh ngọc, nên đã thoát được mọi chuyện.”

“Hừm, bây giờ nghĩ lại, việc ông ta đưa cho chúng ta kệ tranh ngọc chẳng khác nào quẳng cho chúng ta quả lựu đạn.”

“Ông ta vứt là đúng. Vì có khả năng Lương Dũng Tuyền đã được nghe một số chuyện về kệ tranh ngọc, do Lương Vân Kiệt kể lại, bởi vậy hơn ai hết, ông ta hiểu rằng: mình không đủ năng lực để giải quyết việc đó, nên thà đưa quả lựu đạn đó cho chúng ta còn hơn! Nhung gã này lại không cam tâm vứt bỏ kệ tranh ngọc đáng giá tiền tỷ, và

ông ta lại biết rằng, có thể chỉ có chúng ta mới giải quyết được việc này, bởi vậy mới ký một hiệp ước quân tử với chúng ta, đợi mọi việc giải quyết xong, thì vẫn phải đem kệ tranh ngọc trả lại ông ta.”

“Khà khà, may mà Lương Viện không giống cha cô áy!

“Sao? Sợ rồi à? Sợ rồi thì đừng yêu con gái nhà người ta nữa!”

“Tôi sợ gì chứ? Tôi chỉ e sau này chính Yelena mới phải chịu đựng anh đấy!”, Đường Phong công kích lại.

“Thôi! Thôi! Thôi! Hai chúng ta không tán chuyện nữa, nói tiếp nào. Kết quả ở cuộc bán đấu giá đã nằm ngoài khả năng dự liệu của Tướng quân. Chúng không ngờ, kệ tranh ngọc lại được đại gia Lương Vân Kiệt mua mất, nên đã giết chết ông ấy, cướp lại kệ tranh ngọc. Nhưng do chúng ta kịp thời vào cuộc, nên âm mưu của chúng không thành! Sau đó, Stephen làm việc cho Tướng quân rồi mất hết thuộc hạ cũ của anh ta tại Hồng Kông, nên càng phái chấp nhận bán sinh mệnh cho Tướng quân, mãi cho tới khi anh ta tới núi Hạ Lan thì mới đoạn tuyệt hoàn toàn quan hệ với Tướng quân!”, rốt cuộc Hàn Giang đã xâu chuỗỉ lại toàn bộ tình hình mà anh nắm bắt được.

9

Đường Phong suy nghĩ một hồi, rồi lại đưa ra câu hỏi cứ vướng mắc mãi trong lòng: “Nhưng vẫn còn một điều chưa giải thích được, đó chính là cái chết của Tề Ninh.

Trước đây chúng ta đã từng phân tích qua, Tề Ninh tự sát là do chịu sức ép từ cả hai phía. Một bên đã được xác định là Vương Khải, sau lưng hắn là Tướng quân, nhưng còn một bên là ai? Te Ninh chính vì chịu sức ép quá lớn từ phía bên kia, nên mới vội vã gõ búa, bán kệ tranh ngọc cho Lương Vân Kiệt. Lẽ nào áp lực bên kia chính là Lương Vân Kiệt?”

“Vấn đề này tôi cũng nghĩ tới rồi, đáng tiếc là hai đương sự Tề Ninh và Lương Vân Kiệt đều đã chết, Vương Khải cũng chết rồi. Bây giờ bọn họ đã chết hết, chẳng có ai làm chứng nên rất khó để làm cho rõ vấn đề. Có khi lại chính là Lương Vân Kiệt gây sức ép cho Tề Ninh!”, Hàn Giang cũng không hiểu nổi chuyện này.

“Không! Tôi thấy không thể. Trước đó Vương Khải đã gây áp lực cho Tề Ninh, vì dù sao thì Tướng quân cũng đã lấy kệ tranh ngọc ra làm mồi nhử rồi, thì cũng phải nghĩ tới chuyện kệ tranh ngọc bị người ta mua mất, bất luận đó là Mã Xướng Quốc hay là tôi hoặc là người khác, nhưng ông ta lại rất không hài lòng nhìn thấy Lương Vân Kiệt mua kệ tranh ngọc!”, Đường Phong nói lên suy nghĩ của mình.

Hàn Giang ngẫm nghĩ một lúc mới nói: “Là vậy đó, tôi cũng cảm giác như vậy. Có thể khẳng định, bất luận là cậu hay Mã Xướng Quốc hoặc là người nào đó mua kệ tranh ngọc, thì Tướng quân đều có thể đối phó với các người, thậm chí là thừa sức đối phó, nhưng hình như chỉ có Lương Vân Kiệt là khiến ông ta cảm thấy áp lực”.

“Nhưng về lý thì thực lực của Tướng quân rất mạnh, Lương gia vốn không phải là đối thủ của ông ta, vậy

Tướng quân hà cớ gì mà phải lo lắng vậy?”, Đường Phong nghi ngờ.

“Chỉ có một cách giải thích, Lương Vân Kiệt là người trong cuộc năm đó, Tướng quân lo lắng Lương Vân Kiệt biết được bí mật của kệ tranh ngọc.”

“Nhưng Mã Xướng Quốc càng là người hiểu chuyện, còn hiểu biết về kệ tranh ngọc hơn cả Lương Vân Kiệt!”

“Vậy thì có hai khả năng, một là Tướng quân dè chừng năng lực và danh tiếng của Lương gia, hai là Lương Vân Kiệt hiểu biết về bí mật của kệ tranh ngọc còn hơn Mã Xướng Quốc.”

“Hiểu biết hơn?”, Đường Phong chìm trong hồi ức, anh đang nhớ lại hai lần gặp gỡ ngắn ngủi với Lương Vân Kiệt. Đó là hai lần gặp gỡ khiến anh nhớ mãi, từng tình tiết, từng câu nói đều đang hiện lên trước mắt Đường Phong. Khi đã nhớ lại một lượt, anh nói: “Không! Từ hai lần tiếp xúc với Lương Vân Kiệt cho thấy, tôi không cho rằng Lương Vân Kiệt hiểu biết về kệ tranh ngọc hơn là Mã Xướng Quốc.”

“Cậu? Cậu chỉ mới gặp ông ấy có hai lần thì biết được bao nhiêu?”

“Tuy chỉ có hai lần ngắn ngủi, nhưng lần đầu tiên gặp mặt tại Quảng châu, thì rõ ràng là Lương Vân Kiệt đã cảm nhận được mình đang gặp nguy hiểm rất lớn. Vì ông ấy đã tìm tôi, nên chắc chắn tuyệt đối tin tưởng tôi, bởi vậy tôi cho rằng ông ấy chẳng có gì phải giấu giếm tôi cả.”

“Chính Lương Vân Kiệt cũng không ngờ rằng cái chết lại đến đột ngột như vậy, có lẽ ông ấy vẫn còn chuyện để nói với cậu, nhưng chưa kịp.”

Những gì Hàn Giang giải thích đã khiến Đường Phong chẳng còn gì để nói. Đường Phong trầm ngâm một hồi, cam tờ giấy trong tay Hàn Giang lên, viết lại lên giấy tên của bốn

người Misha - Mã Xướng Quốc - Makarov - Lương Vân Kiệt. “Đây là bốn người may mắn sống sót trong đội thám hiểm năm đó, tuy Mã Xướng Quốc chưa thể khẳng định một trăm phần trăm, nhưng cũng nên tính vào.”

“ừm, hiện giờ đã xác định được bốn người, bây giờ ngoài lão Mã ra thì ba người còn lại đều đã chết rồi.”

“Chúng ta xếp vị trí lần lượt cho bốn người này!”

“xếp vị trí gì cơ?”

“xếp theo thứ tự ai gần với chân tướng sự thật hơn!”

“Ai gần với chân tướng sự thật hơn, tôi nghĩ chắc là Misha!”

“Tôi cũng cho rằng là Misha, vậy thì, tiếp theo?”

“Mã Xướng Quốc!”

“ừm, từ biểu hiện của hai người họ sau khi xảy ra chuyện, quả thực là vậy, họ chính là hai người gần nhất với chân tướng sự việc. Misha được KGB bảo hộ, Mã Xướng Quốc chạy tới Mỹ ẩn dật, nhưng mấy chục năm sau, vẫn có người muốn lấy mạng họ, nên không thể không nói rằng, hai người họ gần nhất với chân tướng sự việc. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc cuộc đời họ không được bình yên”, Đường Phong giải thích.

“Bởi vậy cậu cho rằng lão Mã và Lương Vân Kiệt không biết quá nhiều?”

“Đúng vậy, nhưng như vậy lại không thể chứng minh cho suy đoán của anh ban nãy, rốt cuộc tại sao Tướng quân không muốn Lương Vân Kiệt mua kệ tranh ngọc..

“Điều này có lẽ phải hỏi Lương Vân Kiệt và Tướng quân thôi!”, Hàn Giang than thở.

“Trong bốn người may mắn sống sót, hiện giờ chỉ còn lão Mã vẫn còn mạnh khỏe, có khi ông và Yelena có thể cho chúng ta vài thu hoạch bất ngờ.”

Hàn Giang nghe Đường Phong nói vậy bỗng chột dạ. Trong bốn người may mắn sống sót, hiện giờ chỉ còn Makarov vần còn mạnh khỏe, lẽ nào nguy hiểm đang rình rập ông? Nghĩ tới đây, Hàn Giang không khỏi lo lắng cho Makarov và Yelena.
 

hoahongden12

Active Member

Yelena vẫn mạnh miệng rồi lọi gõ từ “Joyce " lên máy tính. Cô dã không còn hi vọng gì nữa rồi, bởi vì đây chỉ là tên của con thuyền chở hàng đó, mà trong hệ thống hồ sơ nội bộ của Cục an ninh Liên bang thì sẽ không thể có được ghi chép gì liên quan tới con tàu chở hàng này của Mỹ. Nhưng đúng lúc đó, trên màn hình máy tính tại xuất hiện một kết quả tìm kiếm khác...

1

Đường Phong và Hàn Giang nóng lòng chờ đợi phản hồi từ các manh mối điều tra. Năng lực làm việc của Yelena rất tốt, cô luôn khiến Hàn Giang cảm thấy ngạc nhiên, vui mừng. Lần này vẫn là Yelena mang lại niềm vui đó cho Hàn Giang. Yelena và Makarov căn cứ vào tình hình mới nắm bắt được, quay trở lại Saint Petersburg chưa được bao lâu thì đã lại có phát hiện mới.

Hàn Giang mở hòm thư điện tử, một bức thư của Yelena gửi tới lập tức đập ngay vào mắt, anh vội vàng gọi Đường Phong đến. Đường Phong đọc thấy tiêu đề cùa bức

thư là: “Phát hiện mới đáng kinh ngạc”, thì hai người không khỏi nhìn nhau, trong lòng vừa ngạc nhiên vừa vui mừng. Hàn Giang kích chuột mở thư ra, mà tay phải không khỏi run run...

Sau khi được sự phê chuẩn của cấp trên, Yelena và Makarov đã cùng tới phòng hồ sơ của tổng bộ. Họ muốn kiểm tra một chút về hồ sơ liên quan tới “căn cứ Tiền Tiến”, đặc biệt là hồ sơ về căn cứ này sau khi xảy ra bạo động. Khó khăn lắm, họ mới có được cơ hội kiểm tra hồ sơ, nhưng điều khiến họ thất vọng là: hồ sơ liên quan tới căn cứ Tiền Tiến năm đó chỉ có lèo tèo vài tờ, còn hồ sơ ghi chép cụ thể nhất chính là phần mà Shchedrin viết về tình hình bạo động tại căn cứ và sau đó vây bắt học viên.

Bộ hồ sơ của Shchedrin được liệt vào hàng cơ mật cao nhất. Yelena đọc những gì ghi chép trong này và kinh ngạc phát hiện ra, kể từ khi hồ sơ nàv được cất vào đây vẫn chưa có ai xem đến.

“Nếu không gặp cha thì e rằng, cả đời này Shchedrin cũng không nói với ai về chuyện năm đó!”, Makarov không nén được nhận xét.

“Bí mật mà ông ấy giữ mãi trong mấy chục năm nay chắc chắn đã bị bưng bít đến mức không chịu nổi nữa, nên

ông ấy mới kể với cha về chuyện bạo động ở căn cứ, nếu jpijj không thì những chuyện đó sẽ bị mang xuống mồ!”, Yelena khẽ thở dài.

Yelena và Makarov mât hai tiếng đồng hồ đẻ đọc kĩ bộ hồ sơ này. Nội dung ghi chép trong đó về cơ bản giống như những gì Shchedrin đã nói, chẳng có phát hiện gì mới. Những hồ sơ còn lại phần lớn là những báo cáo về tình hình thường nhật, chủ yếu đều do Makarov viết, không có gì đặc biệt, hiện giờ đã chẳng còn giá trị gì.

“Tại sao trong những hồ sơ này không có lấy một ban danh sách học viên trong căn cử hoàn chỉnh nhỉ?”, Yelena tỏ ra nghi ngờ trước đống hồ sơ ngả vàng này.

“Chắc là phải có!”, Makarov cũng tìm kiếm trong đống hồ sơ dày cộp. “Ồ, ờ đây có một tờ này!”, Makarov tìm thấy một tờ danh sách biệt hiệu của những học viên. “Nhưng... nhưng tờ danh sách này không đầy đủ!”, Makarov ngẫm nghĩ một hồi, rồi tự mình phủ định độ tin cậy của tờ giấy mình đang cầm trong tay.

Makarov lại tìm thấy một tờ khác, nhưng vẫn chưa đủ. Ông giải thích: “Sau này, lúc các học viên bạo động, họ đã thiêu hủy tất cả hồ sơ và tài liệu trong căn cứ. Những hồ sơ mà hiện giờ con trông thấy, đều là nhũng gì mà cha và Shchedrin giao nộp cho tổng bộ trước khi xảy ra bạo động. Lúc đó nhân viên, bao gồm cả học viên của căn cứ đều không cố định, thường xuyên thay đổi, bởi vậy hiện giờ muốn tìm thấy một danh sách hoàn chỉnh quả không dễ chút nào.”

Makarov cũng đang tìm kiếm dấu tích trong đống hồ sơ. “Tại sao trong báo cáo của Shchedrin không thấy ghi chép về White, đến cả một tấm ảnh của White cũng không có?”, Makarov tìm khắp một lượt hồ sơ, rồi cuối cùng đã bật ra câu hỏi.

“Ồ! Điều này trước đây con cũng từng hỏi Schedrin rồi, ông ta nói rằng hồi đó có ảnh của White, nhưng khi

Stechkin đến đưa người đi, đã mang theo tất cả hồ sơ liên quan tới White, cả ảnh ban đầu của hắn ta nữa. Sau đó trên tàu hỏa họ đã xảy ra chuyện, cả White yà những hồ sơ đó đều biến mat!”, Yelena giải thích.

“Như vậy thì tim ỉàm sao được!”, Makarov cảm thấy đau đầu.

Yelena bóp bóp đầu: “Thôi vậy, coi như chúng ta chẳng tìm thấy manh mối gì trong đống hồ sơ này, coi như con đã kiểm tra xong, có thể nói lại với Hàn Giang rồi.”

Makarov cười cười: “Đây chẳng giống tính cách của con chút nào. Nấu không tìm được manh mối gì về tình hình của căn cứ, thì thà chúng ta kiểm tra tài liệu về Branch vậy.”

“Branch ư? Cha từng là cộng sự với ông ấy, chẳng lẽ chưa đủ hiểu sao?”, Yelena hỏi lại Makarov.

“Mỗi người đều có bí mật của riêng mình, huống hồ lại là một đặc công kinh nghiệm phong phú. Đối với cha mà nói, thì Branch vẫn là một bí mật.”

Lời của Makarov đã thức tỉnh Yelena, cô nói: “Đúng, phải kiểm tra cẩn thận người này.”

“Nhất định phải lần theo các manh mối để xâm nhập vào thế giới nội tâm của ông ta, bởi vì, sự bế tắc trong điều tra của chúng ta hiện nay là do không thể tiến sâu vào thế giới nội tâm bí ẩn của những người này, bao gồm cả Brainin, Stechkin và cả Branch nữa. Và những việc mà chúng ta phải điều tra, yêu cầu chúng ta nhất định phải

xâm nhập vào thế giới bí mật của những người này, thì mới có thể nhìn thấu được những bí mật của họ!”, Makarov ưu tư nói.

“Thế giới bí mật?! ừm, nhưng thông qua những hồ sơ này thì chúng ta có thể xâm nhập vào thế giới bí ẩn của ho không a?”

“Chắc chắn sẽ có chút manh mối!”, Makarov nói xong, liền yêu cầu nhân viên quản lý lấy ình hồ sơ của Branch.

Hồ sơ của Branch mỏng một cách kì lạ, và chỉ từ hồ sơ đã cho thấy: sự nghiệp đặc công của ông ta có thể gọi là sóng yên bể lặng. Giống như những gì Branch từng kể cho Makarov nghe, đầu tiên ông tùng phục vụ trong bộ đội biên phòng KGB, khu vực đi lính là vùng Viễn Đông. Sau đó, ông ta lập được chiến công nên đã được điều tới công tác tại Tổng cục biên phòng, nhưng công trạng mà Branch lập được là gì, thì trong hồ sơ chi nhắc tới sơ sài. Sau đó, do một lần sơ suất trong công việc, Branch lại bị đá ra khỏi Tổng cục, đến Cục 13 bí ẩn đó, nhưng Cục 13 cũng chỉ tồn tại trong thời gian một năm ngắn ngủi thì bị giải thể. Thế rồi, ông ta lại bị điều tới Sở 10 chuyên quản lý hồ sơ tài liệu và công tác ở đó năm năm liền.

Trước khi auen Makarov hai năm, Branch mới được điều tới Tổng cục 1, được phái tới vùng Viễn Đông, phụ trách huấn luyện đặc công. Nhưng do cường độ tập huấn của Branch quá cao, nên trone một lần huấn luyện học viên, hai học viên mới đã xảy ra chuyện, chết không rõ nguyên nhân.

Branch bị kiểm điểm nặng, bị giáng chức rồi được phái tới căn cứ Tiền Tiến ở Mông cổ để hỗ trợ cho Makarov.

2

Yelena và Makarov tức tốc đọc xong hồ sơ của Branch. Yelena có chút thất vọng nói: “Giống hệt như những gì cha kể trước đây, chẳng có manh mối nào có giá trị!”

“Không! Yelena, cha không nghĩ như vậy. Tuy những gì ghi chép trong hồ sơ giống hệt như những gì mà Branch nói với chúng ta, nhưng hôm nay đọc phần hồ sơ này, cha vẫn nhìn ra được chút manh mối.”

“Ồ! Cha nhìn ra gì vậy?”

“Trước tiên, năm đó Branch đi lính biên phòng tại vùng Viễn Đông xa xôi, sau một lần lập chiến công mới may mắn được điều tới Tổng cục biên phòng. Vậy thì ông ta đã lập công gì mà lại được điều ngay khỏi vùng Viễn Đông xa xôi, để tới Tổng cục biên phòng tại Matxcơva? Trong hồ sơ không biết là do cơ mật hay là thiếu sót, mà lại không viết rõ điều này. Lúc đó Branch cũng không kể với cha, nhưng theo như cha nhìn nhận thì lần đó ông ta đã lập công tại vùng Viễn Đông xa xôi; hơn nữa, hình như chiến công này chỉ có mỗi mình ông lập được, mà chẳng liên quan tới ai khác, về lý thì trong mỗi hồ sơ đều phải ghi chép rõ về công trạng hay tội lỗi của mỗi đặc công, nhưng trong hồ sơ của Branch, chúng ta lại không phát hiện thấy những ghi chép đầy đủ về lần lập công đó. Điều này có chút kì lạ, nếu như không phải do trong hồ sơ thiếu sót, vậy thì việc không viết rõ công lao của ông ta, chắc chắn là do yêu cầu bảo mật. Vậy rốt cuộc là công lao gì mà phải bảo mật như vậy? Điều này rất hay đây.”

“Vâng, điều này đúng là rất lạ.”

“Thêm nữa, Branch làm trong Tổng cục biên phòng chưa được bao lâu thì do một lần sơ suất trong công việc lại bị đá ra ngoài, nhưng rốt cuộc đó là sơ suất gì? Cũng giống như trước đó, trong hồ sơ cũng không nói rõ.”

“Có liên quan gì tới công lao trước đó của ông ấy không nhỉ?”

“Điều này thì không biết được. Thứ ba là, sau khi Branch rời khỏi Tổng cục biên phòng, vào Cục 13 vừa mới được thành lập, thì Cục 13 này làm những gì? Cha làm bao nhiêu năm trong KGB mà cũng không biết. Trong hồ sơ cho thấy, Cục 13 này chỉ tồn tại có một năm thì bị giải thể, nhưng trong một năm này đã cho cha một phát hiện mới. Yelena, con có thể nhìn thấy điều gì trong đó không?”

“Cục 13?”, Yelena không hiểu Makarov muốn nói tới điều gì, cô nhìn chăm chú vào phàn ghi chép trên hồ sơ. Mãi lâu sau, mắt cô bỗng sáng lên, “Chính... chính là năm 1964 bị thất lạc đó, chính là năm mà Branch tới Cục 13, chính là năm 1964 bí ẩn mà chúng ta đang khổ sở tìm kiếm.”

“Đúng! Điều này lẽ nào chỉ là trùng hợp?”, Makarov chau mày.

“Nhưng con đã kiểm tra qua hồ sơ của Brainin, Stechkin, Isakov, cùng những người khác, sơ yếu lý lịch của họ chẳng liên quan gì tới Cục 13 này cả; hơn nữa, lúc họ tham gia hành động bảo vệ Misha thì đơn vị chủ quản đều là KGB ở Saint Petersburg. Ngoài ra, từ hồ sơ cho thấy, Branch cũng chưa từng làm việc tại Saint Petersburg, bởi vậy thực sự không nhận ra họ có liên quan gì tới nhau”, Yelena nói lên nghi vấn của mình.

“Đây quả thực là vấn đồ! Hiện giờ, tuy vẫn chưa nhìn ra được Branch và năm 1964 thất lạc đó có liên quan gì tới nhau, nhưng, cha... cha luôn cảm thấy đây là một manh mối có giá trị. Tạm thời chúng ta không quan tâm tới Cục 13 vội, tiếp tục xem tiếp, vì đó cũng chính là vấn đề thứ tư mà cha muốn nói. Sau khi Branch rời khỏi Cục 13 thì được phái tới Sở 10, cũng chính là nơi hiện giờ chúng ta đang đứng đây. Nơi lưu trữ hồ sơ từ trước tới nay đều bị cho là nơi nhàn hạ, chẳng có việc gì làm. Nhưng nghĩ mà xem, một người mạnh mẽ như ông ta bị điều tới chỗ như thế này sẽ thế nào đây?”

“Cả ngày làm bạn với đống hồ sơ tài liệu cũ kĩ?”

“Không! Người khác có thể, nhưng Branch không thể. Theo như nhũng gì cha biết về ông ta, thì chắc chắn Branch không chịu được sự nhàn hạ, chắc chắn ông ta sẽ tìm việc để làm, hơn nữa còn tìm những việc có giá trị, hay ít nhất cũng là những việc mà ông ta cảm thấy có giá trị. Vậy thì ở đây thứ duy nhất có giá trị chính là đống hồ sơ cũ kĩ này. Con đừng có coi thường giá trị của những hồ sơ,

tài liệu này, giá trị của chúng chính là những bí mật được cất giấu trong đó.”

“Ý của cha là Branch đã cố gắng hết sức để khai quật bí mật trong những hồ sơ này?”

“Branch là đặc công thực thụ, chỉ cần cho ông ta chút hy vọng, thì chắc chắn ông ta sẽ không từ bỏ. Ông ta nhất định sẽ lợi dụng chức vụ của mình ở đày để đoạt được rất nhiều cơ mật mà ông ta muốn biết. Đừng quên hồ sơ của Misha cũng đã bị xé mất mấy trang.”

“Nhưng khi đó đã là năm 1988, sau khi KGB thôi không bảo vệ Misha nữa, nó mới bị người ta xé đi, lúc đó thì Branch đã không còn trên cõi đời này lâu rồi mà.”

“Ý của cha không phải là những trang hồ sơ đó bị Branch xé đi, chỉ là cha muốn nhắc nhở con, đừng có xem thường năm năm mà Branch ở đây.”

“Đúng vậy, quả thực là trong năm năm ở đây, Branch có thể lợi dụng chức vụ của mình để đoạt được rất nhiều cơ mật.”

“vẫn còn điều thứ năm! Tập hồ sơ này rốt cuộc đã khiến cha hiểu rõ tại sao quân hàm năm đó của Branch tuy cao hơn cha, nhưng lại bị phái tới làm trợ lý cho cha, bởi vì phương pháp huấn luyện tàn khốc của ông ta năm đó đã gây ra án mạng.”

“Xem ra ở phương diện này Branch khá tiên tiến đấy!”

“Điều này cũng có thể giải thích cho việc năm đó Branch gây án mạng, sau khi bị cha phát hiện ra, tuy bề ngoài ông ta vẫn tò vẻ bình tĩnh, nhưng thực ra lại rất sợ cha báo cáo lên cấp trên.”

“Nếu như Branch bị cấp trên xử lý lần nữa, thì ông ta coi như toi rồi!”, Yelena ngẫm nghĩ rồi nói tiếp, “Như vậy nghĩ lại thì năm đó cha cùng Branch tới khe Sói hoang quả là nguy hiểm. Neu Branch lo sợ mà làm liều, thì ông ta có thể giết cha để diệt khẩu, sau đó báo cáo với cấp trên là do cha bất cấn nên không may ngã chết, thì quả thực cha sẽ bị oan khuất quá!”

“Sau đó nghĩ lại cha cũng thấy sợ, nhưng lúc đó anh ta cũng chẳng dám làm gì cha cả. Branch lúc đó từng bị xử lý, bị giáng chức, còn cha là phụ trách của căn cứ, lại có quân hàm trung tá. Nên nếu cha biến mất không lý do, thì cấp trên chắc chắn sẽ phái người tới điều tra rõ ràng. Bởi vậy, tuy ông ta dám ra tay với học viên, nhưng cũng chẳng dám làm gì cha.”

“Cha à, con thấy cha vẫn hơi xem nhẹ Branch đấy. Nếu như tại khe Sói hoang mà cha không đồng ý với lời đề nghị của ông ta, và cố ý báo cáo với cấp trên việc học viên bị chết, thì ông ta sẽ dễ dàng bỏ qua cho cha vậy sao?”

“Điều này...”, Makarov trở nên trầm ngâm, “Cha có thể tạm thời giả vờ đồng ý với ông ta, nhưng âm thầm báo cáo lên cấp trên!”

“Hừm, một đặc công xuất sắc ở cùng cha vài năm lẽ nào lại không biết tính cha ư?”

“Được rồi! Yelena, đây chỉ là suy đoán của con, gã Branch này tuy về cơ bản có rât nhiều vân đề, nhưng cha nghĩ ông ta cũng không đến mức xấu xa như con đoán đàu!”, Makarov nói xong, từ từ gấp tập hồ sơ của Branch lại.

3

Nghe xong năm điểm mà Makarov tổng kết, hình tượng về Branch trong đầu Yelena cũng dần rõ nét hơn. Thế nhưng cô vẫn luôn cảm thấy thiêu thiếu điều gì đó, và khuôn mặt gầy gò của Branch vẫn mờ ảo mông lung. Nghĩ tới đây, trong lòng Yelena không khỏi buồn phiền.

Makarov thấy không tìm ra manh mối có giá trị nào liền chuẩn bị ra về. Yelena sắp xếp lại tất cả tập hồ sơ ngay ngắn xong, liền giao cho nhân viên quản lý.

Makarov và Yelena ra khỏi phòng tư liệu, tới cầu thang máy. Makarov bước vào trong, nhưng Yelena vẫn đứng im tại chỗ.

“Yelena, con sao thế?”

Yelena như đột nhiên nhớ ra điều: “Đợi đã cha, chúng ta còn quên mất một việc.”

“Quên mất một việc?”, Makarov vội vàng bước ra khỏi thang máy.

Yelena bước thật nhanh, quay trở lại phòng tư liệu, cô hỏi nhân viên ở đâv: “Có thể giúp tôi tìm xem có hồ sơ của một người Mỹ tên là White Warren khône?”

Nhân viên quản lý mặt lạnh băng, đảo đảo mat, chi chỉ vào máy tính bên cạnh: “Chúng tôi ở đây có biết bao

nhiêu là hồ sơ, nên ai mà nhớ được cái người Mỹ nào đó, cô tự tra bằng máy tính đi!”

Yelena bước tới trước máy tính, ghé sát tai thì thầm với nhân viên quản lý: “Máy tính ở đây không cho phép sử dụng bất cứ thiết bị lun trữ di động nào, phải có mật mã mới vào được hệ thống.”

Yelena dùng mật mã của mình để vào hệ thống nội bộ của Cục an ninh liên bang, sau đó lại đăng nhập thêm một mật mã chuyên dụng khác mới vào được trong hệ thống dữ liệu nội bộ.

“Sao, con nghi ngờ gã người Mỹ đó có vấn đề?”, Makarov bước tới hỏi.

“Con cảm thấy Hàn Giang nghi ngờ có lý, trực giác ^ của Shchedrin lúc đó cũng có thể chuẩn xác. Neu khi những học viên đó đào tẩu tại Vladivostok, quả thực có người nước ngoài tiếp ứng, vậy thì việc bạo động ở căn cứ không đơn giản đâu. Hiện giờ những gì hiển thị trên hồ sơ chỉ cho thấy sau này tổng bộ đã kết luận rằng: vụ bạo động tại căn cứ năm đó là do Shchedrin xử lý không thỏa đáng, dẫn tới việc học viên bạo động. Nhưng con cảm thấy kết luận này hơi qua loa.”

“Lý do của con là gì?”

“Lý do hiện giờ con vẫn chưa nói được, nhưng cái gã White mà cuối cùng đã trốn thoát, và cả sự xuất hiện của Stechkin, khiến con tin rằng việc này không đơn giản.”

“White? Stechkin?”, đầu óc Makarov có chút rối rắm.

Yelena đã gõ từ “White” để tìm kiếm trong hộ thống hồ sơ nội bộ, và có hơn chục kết quả giới thiệu vắn tắt có kèm theo chữ “White” trong tiêu đề hiện lên màn hình.

Yelena và Makarov kiểm tra từng dòng từng dòng tiêu đề có chữ “White” này, nhưng điều khiến họ thất vọng là trong hơn chục kết quả tìm kiếm được, lại chăng có cái “White” mà họ muốn tìm kiếm.

“Xem ra trong hệ thống của chúng ta, ngoài báo cáo của Shchedrin có nhắc tới White ra thì cũng không còn ghi chép nào về người Mỹ đó cả!”, Makarov lắc đầu nói.

Yelena không nản chí, lại tiếp tục tìm kiếm hồ sơ của Stechkin. Hồ sơ của người đàn ông này ngược lại có rất nhiều, kể từ khi ông ta gia nhập KGB, mãi cho tới khi ông ta vào tù đều được ghi chép lại. Yelena đã nhiều lần tìm kiếm những hồ sơ về Stechkin, lần này trọng điểm tìm kiếm tập trung vào những hoạt động của Stechkin trước và sau khi xảy ra bạo động tại căn cử. Thế nhưng, ngoài những đã nắm bắt được ra, thì cô cũng không tìm thêm được manh mối có giá trị nào khác.

Makarov thấy Yelena vẫn chưa cam chịu nên đành phải khuyên giải: “Thôi nào, con cũng cố gắng hết sức rồi, có thể trao đổi với Hàn Giang rồi!”

“Không phải con vì anh ấy đâu!”, Yelena vẫn mạnh miệng rồi lại gõ từ “Joyce” lên máy tính. Cô đã không còn hi vọng gì nữa rồi, bởi vì đây chỉ là tên của con tàu chở hàng đó, mà trong hệ thống hồ sơ nội bộ của Cục an ninh Liên bang thì sẽ không thể được có ghi chép gì liên quan tới con tàu chở hàng này của Mỹ được. Thế nhưng đúng lúc đó, trên màn hình máy tính lại xuất hiện một kết quả tìm kiếm khác, một kết quả tìm kiếm duy nhất liên quan tới “Joyce”.

4

Đối diện với màn hình máy tính, cả Yelena và Makarov đều ngạc nhiên. Yelena run rẩy kích chuột vào dòng chữ đó, một đoạn giới thiệu vắn tắt hiện lên trước mắt hai người...

Báo cáo về quá trình xử lý vụ tàu “Joyce ” gián điệp vào tháng 9 năm 1986 tại Leningrad, mã số: 03860914037.

Vào tháng 8 năm 1986, một con tàu chở hàng của Mỹ có tên là “Joyce” cập càng Leningrad, sau khi bốc dỡ hàng xong, chiếc tàu này đã lấy lí do là máy móc bị hỏng hóc; nên đã lưu lại tại cảng Leningrad, rồi dần dần đã khiến chúng ta cảnh giác. Sau khi điều tra tàu “Joyce ” đã cho thấy: đây là con tàu gián điệp của Mỹ. Con tàu này thường lấy danh nghĩa là tàu chở hàng để cập cảng các nước, sau đó, lợi dụng thiết bị nghe lén được lắp trên tàu, để nghe trộm tình báo nước sở tại, đồng thời thường xuyên phái nhân viên tình báo cải trang thành thuyền viên phổ thông, lên bờ trinh sát tại những khu vực lân cận, thực thi các nhiệm vụ.

Theo như kết quả điều tra, con tàu này thuộc về một công ty của Mỹ tên là “Công ty vận tải tàu biển Caribê”

và đăng ký tại Puerto Rico nhưng tổ chức điều hành thực sự lại là Cục tình bảo Trung ương Mỹ.

Sau khi nắm bắt được tình hình liên quan, phía ta đã căn cứ vào chứng cứ để bắt giữ tàu “Jovce ”, đồng thời nghiên cứu các thiết bị trên tàu, thẩm tra các nhân viên trên tàu. Nhân viên trên tàu đã phối hợp khai báo sự thật với đội tình báo chong do thám của nước ta.

Cân nhắc tới việc chúng ta đã cải thiện quan hệ với Mỹ, xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo, sau khi tiến hành hiệp thương với phía Mỹ, phía ta đã quyết định dùng nhân viên của phía ta, đang bị nước Mỹ bắt giữ, để đổi lấy tàu ‘‘Joyce’’ và các thành viên của tàu. Ngày 4 tháng 9, hai bên đã tiến hành trao đổi theo hiệp ước, đồng thời kí kết biên bản ghi nhớ bí mật. Hai bên đồng nhất cam kết không công khai việc này với bên ngoài, đồng thời coi đây là văn kiện cơ mật cao nhất được niêm phong vĩnh viễn.

Đoạn ghi chép không dài lắm này cũng đú để khiến Yelena vui mừng: “Dự cảm ban đầu của Shchedrin đã đúng, không những cái gã White đó có vấn đề, mà ngay cả tàu ‘Joyce’ cũng có vấn đề”.

“Xem ra sự việc này càng ngày càng phức tạp, sao... sao Cục tình báo cũng lại liên quan tới việc này nhỉ?”, Makarov dù vui mừng, nhưng cũng không khỏi nghi ngờ.

“Hiện giờ có thể chứng minh: việc các học viên tại căn cứ Tiền Tiến bạo động năm đó, chắc chắn không đơn giản như vậy, hay ít nhất là sau khi họ tới cảng Vladivostock, chắc chắn đã được thế lực nước ngoài nào đó giúp đỡ. Nếu không phải do cái gã White làm việc tắc trách, Schedrin phản úng nhanh nhạy, thì e rằng tất cả học viên đều đã được tàu Joyce đó chở đi hết rồi!”, Yelena phán đoán.

“Điều này... nếu trước khi học viên bạo động mà có được sự giúp đỡ của thế lực nước ngoài, thì là vấn đề lớn đấy!”, bất luận thế nào Makarov cũng không thể tin rằng đám học viên mà mình huấn luyện ra, lại còn có thể liên quan tới thế lực nước ngoài. Nếu mà đúng như vậy, thì rõ ràng đây quả là một sự mỉa mai lớn trong cuộc đời đặc công của ông.

“Biết đâu chỉ là gặp may, đám học viên tháo chạy tới cảng Vladivostock thì phát hiện thấy tàu Mỹ đồ ở cảng, nên đã bí mật liên lạc với tàu Joyce”, Yelena an ủi Makarov.

“Không! Shchedrin đã từng nói, tàu Joyce mới cập cảng hôm đó đã xảy ra chuyện, các học viên căn bản không có thời gian để liên lạc với tàu Joyce.”

“Shchedrin cũng từng kể rằng, đám học viên đó bỏ trốn tới cảng Vladivostock và lẩn trốn ở đó hơn nửa tháng. Trong thời gian này, những học viên đã qua huấn luyện hoàn toàn có thể dùng thủ đoạn đặc biệt nào đó để liên lạc với tàu Mỹ khác đồ trong cảng. Vì sau nửa tháng thì Joyce mới cập cảng Vladivostock.”

“Hi vọng sự việc là như vậy, nếu không thì cha không dám tin vào điều đó!”, Makarov lẩm bẩm.

“Năm 1986 tàu Joyce bị bắt tại Leningrad, KGB đã tiến hành kiểm tra con tàu này và thẩm vấn nhân viên trên tàu, có lẽ trong hồ sơ có ghi chép về cái gã ‘White’ đó!”, giọng Yelena đầy hứng khởi.

“Năm 1986 thì cũng cách việc xảy ra năm nào cả chục năm rồi, vậy cái gã ‘White’ đó có ở trên tàu không?”, 7— Makarov bán tín bán nghi.

Yelena vội vàng nhờ nhân viên quản lý tìm ra cho - mình bộ hồ sơ mang mã số 03860914037. Tập hồ sơ này rất dày, Yelena lật qua vài trang, diễn biến sự việc và xử lý cuối cùng vốn không phức tạp. Ghi chép nhiều nhất trong hồ sơ là về 18 thuyền viên trên tàu, đây cũng chính là phần mà Yelena và Makarov hứng thú.

5

Đúng lúc Yelena đang nghi ngờ rằng không có cái gã “White” nào trong số 18 thuyền viên thì một phần tư liệu mang tên “White Warren” đập vào mắt cô.

Yelena mừng rỡ nhìn nhìn Makarov: “Xem ra cái gã White đó cũng ở trên tàu.”

“ừm, gã đó quả nhiên là đặc công Cục tình báo Mỹ.”

Yelena và Makarov ấp ủ hi vọng đọc hết những ghi chép thẩm vấn vừa vặn dài 10 trang giấy, nhưng két quả lại khiến họ thất vọng tràn trề. Toàn bộ hồ sơ, ngoài những tường thuật về quá trình diễn biến sự việc thì đều là một vài ghi chép về tình hình cơ bản, nên không tìm thấy một manh mối nào khác.

Một thứ duy nhất khiến Yelena cảm thấy khả năng có chút giá trị chính là bức ảnh của White. Trong hồ sơ thẩm vẩn có kèm theo mấy bức ảnh của White, có ảnh chụp chính diện, ảnh chụp nghiêng. Yelena chụp lại tất cả những bức ảnh xong xuôi, chuẩn bị mang đi.

Makarov bỗng đột nhiên nhắc nhở: “Tìm lại xem trong số những người này có ai là Martin không?”

“Martin?”, Yelena hơi ngớ người ra, sau đó cười, nói: “Cha, sao cha lại lẩm cẩm vậy, cái gã Martin mà White nói rằng vô tình quen tại Yokohama chắc chắn chỉ là thuận miệng bịa ra thôi, sao cha lại nghĩ là thật?”

“Hãy cứ kiểm tra xem!”, Makarov cũng không nói lý do.

Vậy là Yelena kiểm tra cẩn thận từng ghi chép thẩm vấn của 18 thuyền viên, quả nhiên có một tài liệu mang tiêu đề là “Ghi chép về Charles Martin”.

Yelena rút tập tài liệu này ra: “Đúng là có một người tên là Martin, nhưng điều này cũng chẳng nói lên gì cả, những người Mỹ tên là Martin thì vô số.”

Makarov đón lấy tập tài liệu, đọc kĩ một lượt, về cơ bản thì giống hệt như nội dung thẩm vấn White, đều là những gì tường thuật lại quá trình sự việc, đây vốn không phải là thứ mà Yelena và Makarov hứng thú. Trong tập tài Cô liệu thẩm vấn Martin cũng có kèm theo vài bức ảnh, Makarov chăm chú nhìn bức ảnh một hồi rồi lắc đầu, ông chưa từng trông thây người này.

Yelena và Makarov đọc qua 18 tập tài liệu thẩm vấn, đặc biệt là 18 bức ảnh đều được Yelena tiến hành sao chụp lại.

“Yelena, xem ra chúng ta uổng công vui ìnìmg rồi, tuy đã xác định được thân phận của tàu Joyce và thân phận của White, nhưng lại không có chút hô trợ thực tê nào đối với việc của chúng ta.”

“Vụ việc vẫn chưa xong, những bức ảnh này có khi lại có ích cho chúng ta đây.”

“Con muốn đưa ảnh của White tới cho Schedrin nhận diện sao?”

“Đúng, trước tiên hãy để Schedrin nhận diện đã, sau đó nói cho ông ấy nghe về phát hiện của chúng ta, để xem ông còn có thể cung cấp thêm manh mối nào mới cho chúng ta không...”

Yelena đang nói bồng im bặt. Makarov phát hiện thấy Yelena đang nhìn chăm chăm vào một tập tài liệu. “Yelena, con sao thế?”, Makarov quan tâm hỏi.

Ngây người ra một lúc, Yelena mới chậm rãi nói:

“Con... con nghĩ đây mới chính là phát hiện quan trọng nhất.”

“Gì cơ?”, Makarov không hiểu.

Yelena đưa tập tài liệu cho Makarov, Makarov chỉ nhìn liếc qua mà mắt đã trợn trừng lên. ồng phát hiện ra dòng cuối cùng trên tập hồ sơ có tên là: “Ý kiến xử lý về vụ tàu gián điệp Joyce”, xuất hiện một cái tên rất quen thuộc - Andre Gregory Eliya Popovich Brainin.

Sau một hồi im lặng, Makarov chậm rãi nói: “Khône sai, lúc đó do mới thực thi thành công vài nhiệm vụ quan trọng nên Brainin đã được đặc cách thăng chức lên hàng đại tá, và được cất nhắc lên làm người phụ trách của hệ thống phản gián của KGB khu vực Leningrad.”

“Nếu là như vậy thì vụ tàu Joyce chính là do ông ta đảm trách!”, Yelena lại nhanh chóng lật giở tài liệu ra đọc, cô thấy không ít chừ ký của Brainin phía dưới tài liệu.

6

Yelena ngồi xuống, đọc lại một lượt tập tài liệu có tên “Ý kiến xử lý về vụ tàu gián điệp Joyce”, hồ sơ này rất ngắn gọn, viết cho chủ tịch KGB lúc đó là Nikolai Kryuchkov:

Đồng chí Nikolai Kiyuchkov thân mến,

Do nước ta đang cải thiện quan hệ với Mỹ, nên lúc này nêu phía ta xử lý nghiêm vụ tàu Joyce thì chắc chắn sẽ phả hoại sự tín nhiệm đang bước đầu hình thành giữa hai nước, không có lợi cho việc thực thi chiến lược ngoại giao của nước ta, tổn hại lợi ích quốc gia.

Bởi vậy, tôi cho rằng, phương pháp thỏa đáng nhất để xử lý vụ này là: dùng biện pháp bí mật đế đạt được một thỏa hiệp nào đó với phía Mỹ, như vậy sẽ bảo vệ lợi ích của nước ta trong giới hạn lớn nhất, đồng thời vẫn có thể cảnh cáo hành động vô lễ của phía Mỹ. Không biết như vậy có được không?

Gregory Eliya Popovich Brainin

“Xem ra rốt cuộc xử lý vụ tàu Joyce chính là chù ý của Brainin, thấy ông ta nói trong tài liệu nghe có vỏ rất hợp lý, nhưng không biết có ẩn giấu mục đích gì không thể nói ra của ông ta hay không!”, Yelena nói.

“Chỉ từ những tài liệu này thì không nhận ra được, Brainin xử lý như vậy cũng là phù hợp với lẽ thường. Nhưng Brainin, Stechkin, khi tên của họ được móc nối với nhau bàng một phương thức kì dị như thế này, thì khiến người ta không thể không nghi ngờ!”, Makarov nói.

“Đúng vậy, cách nhau 10 năm, hai việc xem ra chẳng liên quan gì tới nhau, nhưng lại liên quan tới nhau một cách kì lạ. Ngoài sự xuất hiện của White, Stechkin và Brainin ra thì điều này càng khiến con chắc chắn rằng, bên trong việc này có vấn đe!”, Yelena nói.

“Ý con muốn nói tới vụ tàu Joyce, vụ bạo động ở căn cứ đều liên quan tới việc họ bảo vệ Misha?”, Makarov vẫn không thể tin đây là sự thật.

“Do năm đó họ cùng tham gia bảo vệ Misha nên mới quen nhau, rồi sau này lại đều cùng xuất hiện đúng lúc chúng ta điều tra tới một thời khắc quan trọng, hay địa điểm quan trọng nào đó. Trước đây, khi con lần lượt đi hỏi thăm họ, cả hai lúc hồi tường lại chuyện trước đây đã lâu, nhung vẫn nhớ như in và giống y hệt nhau. Nhũng điều này đều không bình thường, điều này đã khiến con nghi ngờ hai người họ nhất định đang giấu giếm một bí mật nào đó.”

“Nhưng... nhưng hai người họ và cả Isakov đều đã chết rồi. Ngoài những thời khắc quan trọng và địa điểm quan trọng đó ra, cũng không nhận thấy họ có bất cứ mối liên quan nào tới việc của căn cứ và đội thám hiểm năm nào.”

“Vấn đề có khi lại từ chính những thời khắc và địa điểm quan trọng đó. Khi Shchedrin trấn áp học viên bạo động, đã nghi ngờ cái gã White đó, nhưng Stechkin lại đột ngột xuất hiện, sau đó White bồng mất tích. Khi tàu Joyce được chúng minh là tàu gián điệp, thì gã White lại lần nữa lọt lưới, Brainin bỗng dimg xuất hiện và xử lý vụ việc này trong im lặng!”

“Nhưng quả thực lúc đó Stechkin có mệnh lệnh của tông bộ, còn Brainin cũng được coi là xử lý việc công..

“Cha, hiện giờ chúng ta có thể xâu chuỗi tất cả những người này, và những việc này lại với nhau rồi!”. Yelena ngắt lời Makarov, rồi bỗng lấy ra một tờ giấy trắng, viết lên phía trên góc trái tờ giấy: Đội thám hiểm - Misha - Brainin (chết cháy), Stechkin (virợt ngục), Isakov (chết trận), rồi lại viết tiếp lên phía trên góc phải: Branch - Căn cứ Tiền Tiến (Lý Quốc Văn) - Bạo động (Shchedrin) - White 1 (Stechkin) - White 2 (Brainin). Sau đó Yelena vẽ một gạch nối giữa Stechkin trên góc trái với White 1 trên góc phải, rồi lại gạch nối Brainin bên góc trái với White 2 bên góc phải. Yelena chỉ vào hai đường gạch nối mình vừa vẽ, nói: “Cha, tình hình phía Trung Quốc con không rõ, nhưng bên phía chúng ta hiện giờ đã cỏ thể liên kết thành một chuồi rồi, mặc đù ở đây vẫn còn một vài mấu chốt chưa được sáng tỏ.”

Makarov cũng viết lên một tờ giấy trắng khác: Hắc Lạt ma - Mã Viễn - Mã Xướng Quốc - Stephen (Fanny). Makarov nhìn gạch nối trên tờ giấy của Yelena, nói:

“Yelena, đây chính là đường gạch nôi của Stephen, nếu nhìn bên ngoài thì đường gạch nối này đơn giản hơn rất nhiều so với đường gạch nối của chúng ta, nhưng sau khi cha nhìn đường gạch nối của con, thì bỗng cảm thấy đường gạch nối phía Stephen cũng không đơn giản như vậy.”

“Ồ? Cha, cha nhìn ra gì vậy?”

“Yelena, con có chú ý thấy đường gạch nối của con và của cha có liên quan gì tới nhau không?”

“Liên quan? Mã Xướng Quốc và Stephen đều là người Mỹ...”, mắt Yelena bỗng sáng lên, “Neu nhìn qua thì hai đường gạch nối này chẳng có bất cứ liên hệ gì, nhưng nếu cứ cố mà nói tới sự liên quan, thì chính là cái gã White đó rồi! Bởi vì hắn ta cũng là người Mỹ, nhưng đây cũng chính là chút liên quan đấy!”

“ừm. Đúng là như vậy. Trước khi chết, Stephen đã từng nhắc tới một gã tên White, nhung hiện giờ chúng ta không thể khẳng định gã ‘White’ đó chính là cái gã ‘White’ năm nào. Nhưng nếu cứ cố chấp cho rằng do cái gã White này, mà gạch nối của chúng ta và gạch nối của Stephen liên quan tới nhau, thì hiện giờ xem ra vẫn có chút miễn cưỡng. Nhưng trực giác nói với cha rằng, hai đường gạch nối này có mối quan hệ ngầm, cha nghi ngờ cái gã White năm đó...”

“Cha nghi ngờ Tướng quân liên quan tới cái gã White bí ẩn đó?”, Yelena hỏi lại.

“ừm, con nghĩ xem, nếu như đường gạch nối của Stephen vẽ tiếp, thì ngay sau đó chính là Tướng quân, giả dụ Tướng quân chính là cái gã ‘White’ đó, hoặc ‘White’ tượng trưng cho Tướng quân, vậy thì mấy đường gạch nối của chúng ta đều có thể nối được với nhau rồi!”

“Cha, cha tài quá, con chỉ nghĩ tới việc kết nối đường gạch nối phía bên chúng ta thôi, vậy mà cha lại liên tưởng tới cả phía Stephen. Neu đúng như những gì cha nói, vậy thì vụ bạo động trong căn cứ, việc bảo vệ Misha và ba đường gạch nối của Stephen, đều có thể kết nối với nhau rồi!”, hiếm khi thấy Yelena vui mừng giống một đứa trẻ như vậy.

“Nhưng chúng ta cũng đừng vui mừng sớm, Stephen và Fanny đều chết rồi, như vậy thì gạch nối phía Stephen hoàn toàn đứt rồi. về phía chúng ta, tuy hiện giờ có thể gộp hai đường thẳng là căn cứ và Misha thành một, nhưng Branch, Isakov và Brainin đều đã chết, chỉ còn lại duy nhất Stechkin hiện giờ vẫn chưa rõ sống chết ra sao. Có thể nói, đường gạch nối phía chúng ta tiến triển đến đây thì về cơ bản cũng đứt rồi. Yelena, con phải biết rằng, bàn tay hắc ám phía sau không dễ dàng để lộ chân tướng”, Makarov trong lúc vui mừng cũng vẫn giữ được đầu óc tỉnh táo.

Ngược lại Yelena không cho rằng như vậy: “Không, phía chúng ta vẫn chưa kết thúc, chúng ta vẫn còn Shchedrin.”

“Ý con muốn để ông ta nhận diện những bức ảnh này?”

“Đúng thế! Có thể ông ấy sẽ cung cấp cho chúng ta một chút manh mối mới.

“Vậy thì mong rằng thượng đế sẽ phù hộ cho chúng ta!”

“Sao vậy cha? Hình như cha không hi vọng gì lắm về Shchedrin?”

Makarov lắc đầu, im lặng. Yelena thấy sắc trời bên " ngoài đã tối, phòng tư liệu cũng sắp đóng cửa rồi nên đành phải trao trả lại hồ sơ cho nhân viên quản lý, mang theo nỗi nghi ngờ lớn hơn và cả những phát hiện mới, phấn khởi rời khỏi phòng tư liệu của tổng bộ.

7

Ngày hôm sau, khi Yelena và Makarov quay trở về Saint Petersburg thì đã là buổi chiều. Hai người không màng tới nghỉ ngơi, vội vã tới chồ ở của Shchedrin tại vùng ngoại ô Saint Petersburg.

Nhà của Shchedrin nằm trong khu thượng lưu của Saint Petersburg, Yelena lái xe tới đó là thấy ngay một khu biệt thự hào nhoáng. Yelena đã từng tới căn biệt thự của Shchedrin, bởi vậy cô đi thẳng, ung dung đồ xe trước cổng căn biệt thự. Hai người bước xuống xe, Makarov không khỏi thốt lên: “Gã này đúng thật là gặp hoạn nạn mà phát tài, bây aiờ phát đạt quá, ở trong căn nhà đẹp thế này!”

“Không ổn!”, Yelena bồng ngắt lời Makarov, và rút súng ra.

Makarov cũng lập tức nhận thấy gì đó. Ông không biết sắp xảy ra chuyện gì, nhưng với kinh nghiệm bao

năm làm đặc công của mình, ông đã ngửi ngay thấy mùi nguy hiểm.

Yelena nắm chặt báng súng, nghiêng người lách tới cạnh cổng biệt thự, còn Makarov thì ở phía bên kia, dỏng tai nghe ngóng, trong phòng không chút động tĩnh. Hai người chần chừ một lúc thì đột nhiên trong phòng có tiếng động vọng ra. Yelena không biết đây là âm thanh gì, nhưng lại cảm nhận được âm thanh này có vấn đè, vậy là không chút do dự, cô lao tới mở tung cánh cổng ngôi biệt thự.

Makarov cũng xông vào theo. Hai người lao thẳng tới phòng khách, trong phòng khách sang trọng, Yelena trông thấy Shchedrin đang bị trói trên ghế. Lúc này cả Shchedrin cùng chiếc ghế đang lộn nhào trên đất, Yelena đã hiểu ra âm thanh ban nãy là tiếng động gì.

Yelena và Makarov vội vàng đỡ Shchedrin dậy, giật miếng giẻ trong miệng ông ra. Trong phòng ngủ trên tầng hai, một bóng đen lướt qua, khi Yelena lao tới ban công trên tầng hai, thì bóng đen đó đã nhảy xuống dưới.

Yelena cũng nhảy xuống ban công, đuổi theo bóng đen, nhưng loáng một cái bóng đen đó đã biến mất. Yelena đang chần chừ thì phía sau lưng bỗng có một chiếc Volvo lao tới. Yelena vội vàng né sang một bên, tới khi cô đứng vững lại được, giương súng ra bắn chiếc Volvo thì nó đã mất hút.

Yelena đang định lên xe đuổi theo thì phía sau vang lên giọng Makarov: “Yelena, đừng đuổi nữa!”

Yelena kìm nén sự tức giận, quay trở lại phòng khách. "J "

“Bác có quen người đó không?”, Yelena hỏi Shchedrin.

“Không! Không quen. Thật sự tôi cũng không hiếu nổi ai lại muốn lấy mạng tôi, tôi chẳng đắc tội với ai cả!”, mặt Shchedrin đầy vẻ vô tội.

“Vậy tại sao bác lại quả quyết rằng người đó muốn giết bác? Nếu muốn giết bác thì hắn ta đã ban cho bác một phát rồi, đâu cần phải trói bác lại!”, Yelena hỏi lại Shchedrin.

“Hắn muốn dựng hiện trường để tôi tự chết, bời vậy nên đã trói tôi lại trước. Nếu hai người mà đến muộn chút nữa, thì hắn đã tiêm cho tôi thứ gì đó rồi!”, Shchedrin nói.

“Vậy để tôi nói cho anh biết nhé, tại sao người đó lại muốn lấy mạng anh, bởi vì anh đã từng là người của KGB!”, Makarov nói.

“Tôi đã rời khỏi KGB bao lâu như vậy rồi, những gì cần dứt thì cũng đã dứt rồi.

“Bác vẫn còn biết cơ mật của KGB, bởi vậy chắc chắn bác sẽ không được yên ổn đâu!”, Yelena nói.

“Cơ mật? Tôi vẫn còn biết gì chứ?”

“Việc ở căn cứ Tiền Tiến!”, Makarov nói.

“Hả?! Chẳng phải tôi đã răói hết những gì mình biết với các anh rồi sao?”

“Có người không muốn bác nói hết ra những gì bác biết!”, Yelena nói.

“Nhưng tôi đã nói hết những gì tôi biết rồi! Vậy giết tôi thì được ích gì?”

“Có thể anh còn biết bí mật gì đó khiến bọn chúng cảm thấy lo sợ..Makarov hạ giọng nói.

“Không! Tôi đã nói hết những gì mình biết cho các anh rồi, chẳng giấu giếm gì cả.”

“Chúng cháu tin bác, nhưng mong bác hãy nhớ kĩ lại xem”. Yelena đỡ Shchedrin tới ghế sô pha.

Shchedrin cẩn thận suy ngầm, lắc đầu: “Thật sự tôi không biết còn có gì để nói nữa.”

“Bác có quen Brainin không? Andre Gregory Eliya Popovich Brainin?”

“Brainin?!”, Shchedrin ngẫm nghĩ một hồi, rồi rốt cuộc vẫn lắc đầu.

“Vậy còn Isakov thì sao? Vasily Alekseevich Isakov?”

“Không! Tôi chắc chắn không quen người này!”, Shchedrin trả lời rất dứt khoát.

Yelena và Makarov nhìn nhau, Makarov lại hỏi Shchedrin: “Vậy thì anh nghĩ kĩ lại xem, tổng cộng anh đã từng gặp Stechkin mấy lần?”

“Stechkin? Tôi thật sự chỉ biết anh ta ở lần đó thôi, lần gặp gỡ tại Vladivostok ấy. Sau đó, tôi về tổng bộ thì cũng gặp lại anh ta vài lần, nhưng chỉ chào hỏi xã giao. Bởi vì tôi thấy anh ta băng bó tay, thì biết rằng tình hình của Cô" anh ta cũng không ổn nên cũng không nói chuyện nhiều. Sau đó thì anh ta rời khỏi tổng bộ và tôi cũng không gặp lại anh ta nữa.”

“Được rồi! Xem ra quả thực anh cùng không biết gì cả, nhưng chúna; tôi tin anh, còn bọn chúng lại đâu có tin!”,

Makarov nói xong liền lôi mấy bức ảnh Yelena vừa chụp lại từ hồ sơ ra. Ông không nói trước với Shchedrin tình hình của những người này, mà chỉ để Shchedrin nhận diện bức ảnh đó.

Shchedrin xem ảnh của tất cả mọi người. Cuối cùng, điều khiến Yelena và Makarov cảm thấy bất ngờ là sau khi xem xong ảnh, mặt Shchedrin vẫn không có chút biểu cảm, ông lắc đầu nói với họ: “Đây là những ai vậy? Tôi chăng biết ai cả, nhìn không giống mới chụp.”

Câu trả lời của Shchedrin khiến Yelena và Makarov há hốc mồm kinh ngạc, Yelena đành phải lấy bức ảnh của “White” ra, đặt trước mặt Shchedrin: “Bác nhớ kĩ lại xem, bác có quen người này không?”

“Người này?”, Shchedrin chau mày, cẩn thận ngắm nghía bức ảnh, cuối cùng vẫn lắc lắc đầu, “Không, không quen.”

“Bác nghĩ kĩ lại xem, nhớ lại người này từ thời bác còn trẻ, thật sự bác không biết sao?”, Yelena gợi ý cho Shchedrin.

“Chắc chắn tôi không quen người này!”, Shchedrin trả lời rất chắc chắn.

Yelena sắp phát điên đến nơi, cô đành phải nói với Shchedrin: “Đây chính là người mà trước đây bác đã từng thẩm vấn, tên là White đấy!”

“Sao? Không... không thể như vậy!”, Shchedrin không tin, “White không giống thế này, chắc chắn không phải. Người này mặt mũi trắng trẻo, còn cái gã White mà tôi từng thẩm vấn để râu quai nón, da cũng ngăm ngăm, giống các thuyền viên, toàn thân đen bóng. Quan trọng hơn cả là ngũ quan của White không giống thế này, tôi rất khó miêu tả bằng lời về tướng mạo của anh ta, nhưng tôi chắc chắc rang: White không phải là người trong bức ảnh này.”

“Anh nhớ kĩ lại xem, bức ảnh này được chụp sau đó chục năm..Makarov nói.

“Ke cả là mười năm, nhưng một người không thể thay đổi lớn đến vậy.

“Vậy vóc dáng người trong ảnh này thì sao?”, Yelena bỗng hỏi.

“Vóc dáng?”, Shchedrin do dự một hồi mới nói: “Vóc dáng thì có vẻ tương đương.”

Makarov lấy bức ảnh của Martin đưa cho Shchedrin nhận diện, nhưng Shchedrin vẫn không biết là ai.

Sự việc dường như lại đi vào bế tắc, nhưng những gì Shchedrin nói lại khiến Yelena suy nghĩ. Sau một hồi im lặng, Yelena mới kể lại cho Shchedrin nghe về tình hình của tàu Joyce mà cô nắm được.

Shchedrin nghe xong, mặt trắng bệch, mãi lâu sau ông ta mới lẩm bẩm: “Hóa ra là như vậy. Tôi... lúc đó tôi lại để chúng ngang nhiên chuồn mất ngay trước mắt mình! Nếu như vậy thì hồi đó tôi bắt White quả là không sai!”

Yelena gật gù: “Chỉ có điều cái gã White này có chút kì lạ.”

“White Warren?!”, Shchedrin ngẫm nghĩ một lúc bỗng kêu lên, “Có khi nào hồ sơ mà các anh tìm thấy bị người ta sửa chừa lại không?”

Câu nói của Shchedrin khiến Yelena và Makarov giật thót tim. Nhưng ngay lập tức Yelena phủ định khả năng này: “Lúc tìm kiếm hồ sơ về tàu Joyce, cháu đã cố ý xem có ai mượn tập hồ sơ được ghi chép này để đọc hay không.

Giống hệt như tập hồ sơ vụ bạo động trong căn cứ, trước chúng ta không có ai lấy nó ra đọc cả. Hơn nữa, nếu có người không muốn chúng ta đọc được tập hồ sơ này, thì chỉ cần mang nó đi là xong, hà tất phải tạo ra một tập hô sơ giả đổ đặt vào trong đó làm gì?”

“Đúng vậy, tập hồ sơ này là do chúng tôi vô tình phát hiện ra. Chắc là không có ai cố ý sửa chữa lại nó đâu!”, Makarov cũng nói.

“Vậy thì kì lạ quá, tôi có thể bảo đảm với anh rằng người trong ảnh không phải là White mà tôi từng gặp”, Shchedrin thề thốt.

“Vậy bác có còn nhớ diện mạo của những thuyền viên khác trên tàu không?”, Yelena vẫn không nản chí.

“Lúc đó tôi cũng đã gặp gỡ thuyền trưởng và thuyền phó của họ, nhưng chỉ gặp qua loa một lần, giờ bao năm qua đi rồi, nếu có nhìn lại cũng khó mà nhận ra. Nhưng... nhưng chỉ có cái gã White đó là để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất. Không phải bởi vì tôi đã từng thẩm vấn anh ta, mà là bởi vì hồi đó tôi đã đặt hết mọi hi vọng vào anh ta, nhưng cuối cùng…”, Shchedrin nói tới đây bồng hỏi lại Yclcna và Makarov: “Tôi không hiểu nổi tại sao việc này đã trôi qua quá lâu rồi, mà hai người vẫn điều tra lại để làm gì?”

“Bởi vì gần đây đã xảy ra một loạt chuyện đáng sợ, từ Mỹ tới Trung Quốc, rồi lại tới Nga. Khiến một ông lão về hưu như tôi cũng không thể yên ổn an hưởng tuổi già!”, Makarov nói.

“Việc đáng sợ?”

“Đúng, cái sã Stechkin đã vượt ngục bỏ trốn rồi...”, Yelena kể lại cho Shchedrin nghe về tình hình của Stechkin và Brainin mà cô nắm được.

Shchedrin nghe xong, ngớ người ra một lúc mới nói: “Hóa ra sự việc này lại phức tạp đến vậy!”

“Bởi vậy, chúng tôi mới cần tới sự giúp đỡ của bác. Bác hãy nhớ kĩ lại chuyện sau đó, ví dụ như Stechkin...”, Yelena mong rằng Shchedrin có thể hồi tưởng để nhớ lại manh mối có giá trị nào đó. Nhưng Stechkin đã ngẫm nghĩ thãi, rồi cuối cùng vẫn lắc đầu, lúc này Makarov đột nhiên hỏi: “Vậy chúng ta có thể tìm trung úy Nicholas ở đâu?”

“Nicholas?”, Shchedrin ngạc nhiên rồi chậm rãi nói: “Cậu ta chết từ lâu rồi!”

8

Makarov nghe thấy Nicholas chết rồi, thì vô cùng kinh ngạc: “Nicholas cũng chết rồi ư? Sao lại chết?”

“Sau khi mọi chuyện kết thúc, cấp trên phái một tổ điều tra tới để truy cứu trách nhiệm của nhân viên. Tôi

chắc chắn là không thoát được, nhưng không ngờ cả Nicholas và Stechkin cũng giống tôi, bị giam vào tù, đợi kết quả thẩm tra cuối cùng”, Schedrin chớp chớp mắt, giống như đang hồi tưởng lại một chuyện vô cùng đau w khổ, “Chúng tôi bị giam khoảng hơn một tháng, trong đó có khoảng thời gian thẩm tra vô cùng nghiêm khắc, gần như không để chúng tôi nghỉ ngơi. Những người thẩm vấn có mấy tốp, liên tục hỏi chúng tôi hàng loạt những câu hỏi chán ngắt, Nicholas đã xảy ra chuyện vào thời điểm đó.

Đối diện với sự thẩm vấn cường độ cao, tôi và Stechkin tạm coi là chống đỡ được, nhưng Nicholas thì không, anh ấy đã dùng lưỡi dao lam cắt yết hầu tự sát trong phòng biệt giam.”

“Trong phòng biệt giam thì lấy đâu ra lưỡi dao lam?”, Yelena không tin.

“Không biết. Sau này nghe những sỹ quan điều tra chúng tôi kể lại, thì Nicholas đã giấu trộm nó.”

“Tại sao Nicholas phải tự sát? về lý mà nói thì trách nhiệm của ông ấy không lớn bằng của bác!”, Yelena lại hỏi.

“Tố chất tâm lý không tốt, tưởng rằng trời sắp sập đến nơi nên phải tự sát! Bởi vậy, sau này bị xử lý vì vụ việc đó chỉ có tôi và Stechkin, còn tất cả những người khác đều tính là thiệt mạng trong lúc làm nhiệm vụ.”

“Lúc đó, những sỹ quan thẩm tra ông đã hỏi những vấn đề gì?”

“Thì hỏi quá trình xảy ra sự việc, tôi nói bằng hết.

Chủ yếu họ muốn phán đoán xem trong cả quá trình đó, tôi I 635 có phạm sai lầm gì hay không! Nói chung, tôi đã đổ hết trách nhiệm lên người Branch, nếu trách thì chỉ có thể trách anh ta đã huấn luyện ra một đám học viên hung bạo, nếu không thì làm sao có thể tổn thất lớn như vậy được!”

“Nếu vậy thì chắc cũng chỉ hỏi Nicholas những câu hỏi đó, lẽ nào anh ta không chịu được ư?”

“Tôi nghĩ Nicholas ở trong căn cứ lâu nhất, nên có thể anh ấy còn bị hỏi về Branch, thậm chí là cả về việc của anh, Makarov”, Shchedrin nói.

“Trong thời gian bị thẩm tra, anh và Stechkin có trực tiếp gặp nhau lần nào không?”, Makarov bỗng nhanh nhạy hỏi ngay.

“Không. Chúng tôi bị giam giữ tách biệt, mồi người một buồng giam, thời gian thẩm vấn cũng khác nhau.”

“Những sỹ quan đó trong lúc thẩm vấn anh, có nhắc tới Stechkin không?”, Makarov lại hỏi.

“Rất ít, gần như không nhắc tới, bời vì tình hình của anh ta khác tôi”, Shchedrin ngừng lại một lúc, nói tiếp, “Nhưng sau đó có tình huống khiến tôi rất nghi ngờ. về lý thì Stechkin sau này phạm chút lỗi, vấn đề cũng rất đơn giản nên hỏi han nhanh chóng, nhưng sau hơn một tháng bị thẩm tra, đến khi tôi được thả ra thì Stechkin vẫn còn trong tù.”

“Ồ? Điều này quả thực rất đáng để nghi ngờ. Lẽ nào Stechkin không chịu hợp tác?”, Yelena hoài nghi.

“Tình hình cụ thể tôi không biết, chỉ biết là thời gian bị thẩm tra của anh ta dài hơn của tôi!”, đến giờ mà Shchedrin vẫn không hiểu ra làm sao.

“Điều này cũng không khó giải thích. Theo những gì tôi hiểu về Stechkin hiện giờ, thì ông ta càng đáng đế nghi ngờ hơn, bởi vậy trong lúc thẩm tra, chắc chắn ông ta rất không họp tác”, Makarov nói.

“Đúng rồi!”, Shchedrin bỗng kêu lên, “Mấy người mà hai người nhắc đến ban nãy tên là gì?”

“Brainin?”

“Không, người khác cơ!”

“Isakov? Vasily Alekseevich Isakov?”

“Đúng! Tôi nhớ ra rồi, tôi đã từng nghe nói về người này, nếu hai người không nhắc tới việc thẩm tra thì tôi cũng quên mất đấy. Lúc đó có một gã cao to phụ trách trông nom nhà giam ở tổng bộ, người đó hình như là Isakov!”

“Anh chắc chắn chứ?”, Makarov và Yelena đều ngạc nhiên. Yelena vội vàng bổ sung thêm: “Ông Isakov mà chúng tôi nhắc tới cao khoảng hai mét!”

“Đúng! Người đó cao tới hai mét, cao to vạm vỡ, mặt mũi hung tợn, vô cùng bặm trợn!”, Shchedrin nhớ lại diện mạo của Isakov.

“Vậy thì đúng rồi đấy!”, Makarov lẩm bẩm.

“Đúng vậy, Isakov cũng xuất hiện rồi, Stechkin, Isakov, Brainin đều đã xuất hiện một lượt trong chuồi sự kiện này. Như vậy thì lưỡi dao mà Nicholas tự sát rất có khả năng là...”

“Họ sợ Nicholas nói ra điều gì đó, nên đã ép anh ta phải tự sát!”, Makarov nói.

“Họ là ai? Nicholas... còn biết gì hơn tôi?, Shchedrin không hiểu ý Makarov.

“Nicholas biết gì nhiều hơn anh thì chỉ có một khả năng, anh ta nắm được nhiều việc tại căn cứ Tiền Tiến hơn!”, Makarov nói.

“Việc ở căn cứ Tiền Tiến? Căn cứ Tiền Tiền còn có chuyện gì được? Hơn nữa, không phải anh cũng là người phụ trách ở đó sao?”, Shchedrin càng lúc càng thấy khó hiểu.

“Lẽ nào... lẽ nào căn cứ Tiền Tiến vẫn còn bí mật gì mà tôi không biết?”, Makarov lại chìm trong suy tư. Nhưng mãi lâu sau, ông cũng không lục lại được gì trong kí ức.

9

Ba người lại nói chuyện thêm một lúc, Makarov và Yelena thấy có hỏi thêm cũng không thu hoạch được tin tức nào có giá trị, nên đành đứng lên cáo từ. Shchedrin cảm thấy lo sợ: “Hai người về rồi có lẽ tôi cũng ra nước ngoài tránh một thời gian. Nếu hai người vẫn còn chuyện gì muốn hỏi tôi thì gọi điện thoại nhé!”

Yelena lấy số điện thoại của Shchedrin rồi cùng Makarov ra khỏi biệt thự của ông. Makarov vẫn còn suy nghĩ về chuyện ở căn cứ Tiền Tiến: “Căn cứ, căn cứ vẫn còn bí mật gì nhỉ?”

“Cha, đừng nghĩ nhiều nữa. Lần này chúng ta cũng thu hoạch được chút manh mối rồi, Isakov đã xuất hiện, càng hoàn thiện hơn hai đường gạch nối của chúng ta.”

“ừm, đường gạch nối đó nối với nhau rồi, nhưng hầu như những người trong cuộc đều đã chết, gạch nối nào tới cái gã White đó đều không tiến triển thêm được.”

“Đúng vậy! Nhưng Shchedrin lại không biết cái gã White trong ảnh.”

“Cha sớm đã dự liệu được cái gã White đó không dề dàng để lộ chân tướng cho chúng ta thấy đâu!”, Makarov ngẫm nghĩ rồi bỗng dưng lẩm bẩm, “Lẽ nào White không phải là một người mà chỉ là một biệt hiệu?”

“Cũng không loại trừ khả năng này.”

“Xem ra phía Shchedrin cũng không có thêm được tiến triển gì, bởi vậy, hôm qua lúc trong phòng tư liệu, cha đã nhắc nhở con đừng có lạc quan quá. Sự tình là như vậy đó, khi con tưởng rằng đang tiến gần tới thắng lợi thì khó khăn lớn hơn lại giáng xuống.”

“Cho dù Shchedrin có không hữu dụng đi chăng nữa thì chúng ta vẫn còn Stechkin. Con không tin là không tóm được hắn!”, Yelena vẫn không chịu khuất phục.

“Vậy thì càng không có hi vọng, có lẽ Stechkin biết rất nhiều nội tình, nhưng với tư cách của một đặc công già có tố chất, năng lực của hắn thì chúng ta cũng từng được lĩnh hội. có thể nói rằng, nếu một mình chúng ta đấu thì chắc chắn sẽ không phải là đối thủ của hắn, Hàn Giang cũng không ổn! Cứ cho rằng chúng ta tóm được hắn ta đi chăng nữa, thì hắn ta cũng không hé răng đâu!”, Makarov nói.

“Nói như cha thì manh mối phía Stephen đứt rồi sao, phía chúng ta bên này cũng không tiến triển được gì, vậy thì chấm hết sao?”

Makarov trầm ngâm rất lâu rồi đột nhiên hỏi: “Yelena, báo cáo khám nghiệm tử thi của Brainin có chưa?”

“Đúng rồi! Việc này con đế Ilyushin lo, phải đi hỏi anh ta mới được!”, nói xong, Yelena và Makarov lái xe thẳng tới tòa nhà của Cục an ninh Liên bang.

Ilyushin tiếp Yelena và Makarov tại phòng làm việc của mình. Yelena vào thắng vấn đề, cô hỏi: “Đã có kết quả khám nghiệm tử thi của Brainin chưa?”

“Có rồi!”, Ilyushin lấy một tập hồ sơ trên bàn làm việc đưa cho Yelena, sau đó nói: “Nhưng rất đáng tiếc, do thi thể bị thiêu cháy quá lâu, nên rất khó để nhận diện thân phận thật của thi thể, chỉ có thể nhận ra đó là một thi thể nam giớiế”

“Thật vậy ư?’Yelena đầy vẻ thất vọng.

“Cô vẫn nghi ngờ Brainin?”, Ilyushin hỏi.

“Không! Hiện giờ tôi cũng không biết nên nghi ngờ ai...”, Yelena im lặng một lúc lại hỏi tiếp Ilyushin: “Trước đây anh từng kể với tôi rằng, sau khi về hưu Brainin đều chỉ ở trong căn biệt thự ngoài ngoại ô, rất ít khi vào thành phố, càng không có chuyện rời khỏi Saint Petersburg, đúng vậy không?”

“Đúng vậy!”, Ilyushin không hiểu ý Yelena.

‘Anh có chắc chắn không?”

“Chắc chắn? Bọn tôi lúc đó cũng không phái người đi giám sát Brainin nên rất khó xác định. Tôi cũng chỉ nghe

rất nhiều đồng nghiệp trước đây kể lại, chứ chưa từng tới gặp ông ấy!”, Ilyushin nhún vai.

“Vậy thì có thể kiểm tra hồ sơ lưu về việc xuất nhập * " cảnh của Brainin không?”

“Cô nghi ngờ thời gian đó Brainin không ở Saint Petersburg mà ra nước ngoài sao? Kiểm tra thì có thể kiểm tra, nhưng Yelena, cô nghĩ mà xem, một đặc công dày dạn kinh nghiệm như Brainin, nếu ông ta muốn ra nước ngoài nhưng lại không muốn bị phát hiện, thì hoàn toàn có thể cải trang thân phận để xuất cảnh!”, Ilyushin nhắc nhở Yelena.

“Đúng vậy! Yelena, sao con lại hồ đồ vậy?”, Makarov nói.

Yelena cũng thật sự cảm thấy mình bị việc này làm cho rối tung cả lên, cô ra sức day day thái dương, chán nản nhìn Makarov. Makarov lắc đầu, nói: “Tiếp theo thì phải đợi nhóm Đường Phong và Hàn Giang thôi!”

“Đúng! Hiện giờ kệ tranh ngọc đều nằm trong tay họ, chỗ họ bên đó cũng không yên bình được đâu!”, nghĩ tới đây Yelena không khỏi lo lắng.

Đọc xong thư của Yelena, Đường Phong và Hàn Giang vô cùng ngạc nhiên. Đường Phong suy ngầm lại một

lượt, rồi nói: “Thật không ngờ căn cứ Tiền Tiến và hội Stechkin, Brainin lại liên quan tới nhau.”

“Đúng vậy! Một mình gã White đã dẫn dắt ỉộ ra Stechkin, Brainin, Isakov - ba đặc công năm đó đã bí mật bảo vệ Misha. Cái gã White này quả không đơn giản!”, Hàn Giang than thở.

“Lẽ nào White chính là Tướng quân?”, Hàn Giang đột nhiên hỏi.

Hàn Giang trầm ngâm một hồi mới đáp lại: “Nếu như cái gã White năm đó chính là cái gã White mà Stephen gặp, thì không thể là Tướng quân.”

“ừm, nhưng vẫn còn có một khả năng! Có khi ‘Tướng quân’ cũng chỉ ỉà một biệt hiệu mà thôi.”

“Sao cơ? ‘Tướng quân’ cũng chỉ là biệt hiệu? Không, chắc chắn không thể như vậy!”, Hàn Giang không chịu tin phán đoán của Đường Phong: “Tôi thà tin gã White đó chính là Brainin còn hơn.”

“Brainin? Đúng vậy! Người bị chết cháy đó có phải là Brainin hay không, thì đến giờ vẫn chưa biết được.”

“ừm, tuy phía Yelena đã có phát hiện lớn, nhưng gần như đã rơi vào cục diện bế tắc, giờ thì chỉ còn biết trông chờ vào giáo sư La mà thôi. Dù sao thì kệ tranh ngọc vẫn là quan trọng nhất!”, Hàn Giang lẩm bẩm.
 

hoahongden12

Active Member

Boris Mikhaii Ivanovich Ustinov? Cái tên tiếng Nga này ngay lập tức khiến Đường Phong trở nên căng thẳng. Đây không phải Là tên mà KGB đặt lại cho Mishci, khi ông trở về Lừ sa mạc Badain Jadan hay sao?

1

Đúng lúc Đường Phong và Hàn Giang kinh ngạc trước phát hiện của Yelena, thì phía giáo sư La cũng có tin tốt lành. Giáo sư La đã ghép thành công hai kệ tranh ngọc lại, hiện giờ bốn kệ tranh ngọc “Bạch”, “Cao”,

“Đại”, “Hạ” đang nằm trước mặt mọi người.

Giáo sư La hắng hắng giọng, chậm rãi nói: “Hiện giờ đã tìm thấy cả bốn kệ tranh ngọc, đáng mừng đáng mừng.

Giờ thì tôi đã có thể thực sự hiểu được bí mật của kệ tranh ngọc. Tuy hai tấm ở núi Hạ Lan và Đôn Hoàng đã vỡ, nhưng tôi đã gắn chúng lại bằng một loại keo đặc biệt. Còn nó có dùng được hay không, thi tôi vẫn chưa dám bảo đảm, nhưng ít nhất là hiện giờ chúng ta đã có thể đọc được hai kệ tranh ngọc này...”

“Giáo sư La, bác hãy nói luôn ra, trên hai kệ tranh ngọc này viết gì đi!”, Triệu Vĩnh nóng lòng hỏi.

Vị giáo sư già bắt đầu giải nghĩa: “Trên hai kệ tranh ngọc này viết gì, giờ đã không còn quan trọng nữa rồi. Trên kệ tranh ngọc ở Đôn Hoàng viết: ‘Thiết kị vạn thừa đại mạc lai, hoàng sa mạn mạn Hắc Thủy Thành, ô nha lai thê bạch tháp thượng’; đây rõ ràng là chỉ Hắc Thủy Thành. Những chữ ‘Thiết kị vạn thừa đại mạc lai’, là nói tới đại quân của Thành Cát Tư Hãn đã đột ngột tấn công đế quốc Tây Hạ, từ đại sa mạc phía bắc. Câu thứ hai: ‘hoàng sa mạn mạn Hắc Thủy Thành’ đã nói rõ vị trí của kệ tranh ngọc là ở Hắc Thủy Thành. Câu thứ ba: ‘Ô nha lai thê bạch tháp thượng’ càng nói rõ hơn rằng kệ tranh ngọc nằm trong đại Phật tháp bên ngoài Hắc Thủy Thành. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với những ghi chép của Kozlov về việc tìm thấy kệ tranh ngọc trong đại Phật tháp của Hắc Thủy Thành.

“Nghe qua rồi!”, mọi người đồng loạt gật đầu.

Kệ tranh ngọc trên núi Hạ Lan viết rằng: ‘Chỉ sinh chỉ nguyện nhập Phật quốc, thạch quật diện bích ban ngã Phật, lai sinh tái vi Đảng Hạng nhân’. ‘Phật quốc’ ở đây rõ ràng là chỉ Đôn Hoàng. Điều này cho thấy rõ: kệ tranh ngọc đó được cất giấu trong Đôn Hoàng, câu thứ hai nhắc tới ‘thạch quật’ lại khiến tôi nghĩ tới một chủ đề rất thú vị, các vị đều đã từng nghe tới Đôn Hoàng Tàng Kinh Động rồi chứ?”

“Năm 1900, Vương Đạo Sỹ phát hiện thấy Tàng Kinh Động vô cùng nổi tiếng, sau đó Stein người Anh, Pelliot người Pháp và cả người Nga, người Nhật, người Mỹ đều lũ lượt kéo tới..

Không đợi giáo sư La nói xong, Đường Phong đã hiểu ra ý của giáo sư: “Giáo sư La, ý của bác là kệ tranh ngọc ở Đôn Hoàng rất có khả năng trước đó là của Tàng Kinh Động, sau đó bị Vương Đạo Sỹ phát hiện ra?”

“Đúng vậy, kệ tranh ngọc trên tuyết sơn A Ni Mã Khanh và núi Hạ Lan, là do các cậu phát hiện ra. Kệ tranh ngọc ở Hắc Thủy Thành là do Kozlov phát hiện ra; chỉ có kệ tranh ở Đôn Hoàng này vẫn chưa biết là được phát hiện từ lúc nào và do ai phát hiện ra?”, giáo sư La nói.

“Hàn Giang suy đoán rằng: kệ tranh ngọc ở Đôn Hoàng này được phát hiện trước khi Kozlov phát hiện thấy kệ tranh ngọc ở Hắc Thủy Thành; và nói rằng là do một cao nhân ‘X’ phát hiện ra, rồi đã giúp đỡ Kozlov tìm thấy kệ tranh ngọc ở Hắc Thủy Thành; từ đó về sau người này đã gia nhập vào đội ngũ của Hắc Lạt ma”, Đường Phong nói.

“Đường Phong, thế nào, những gì giáo sư La nói ban nãy đã chứng thực cho những suy đoán của tôi. Rất có khả năng kệ tranh ngọc này có nguồn gốc từ Tàng Kinh Động ở Đôn Hoàng, sau đó được cao nhân X đó phát hiện ra. Tàng Kinh Động được phát hiện vào năm 1900, sớm hơn năm 1909 mà Kozlov phát hiện thấy Hắc Thủy Thành”, Hàn Giang có phần đắc ý.

“Nói như vậy thì cao nhân ‘X’ mà anh nói chính ỉà Vương Đạo Sỹ mù chữ?”, Đường Phong cười nói.

Hàn Giang ngay lập tức bị Đường Phong làm cho cứng họng. Giáo sư La nói: “Đường Phong, suy đoán của Hàn Giang không phải là không có lý, hiện giờ tôi lại nghiêng về phía suy đoán của Hàn Giang. Cậu nghĩ mà xem, tại Đôn Hoàng thì có nơi nào có thể cất giấu kệ tranh ngọc?”

“Nhưng theo như cháu biết thì, Tàng Kinh Động Đôn Hoàng bị bịt kín tò trước khi thể lực Tây Hạ xâm nhập Đôn Hoàng”, Đường Phong đưa ra thắc mắc của mình.

“Không sai, quan điểm chung của giới học thuật hiện giờ cho rằng, tăng nhân Đôn Hoàng đã phong kín kinh Phật trong Tàng Kinh Động, trước khi thế lực Tây Hạ tiến vào Đôn Hoàng. Nhưng đây không phải là quan điểm duy nhất, vì cũng có quan điểm cho rằng: trước khi thế lực Mông Cổ tiến vào Đôn Hoàng, thì các tăng nhân đã bịt kín Tàng Kinh Động; đó cũng chính là thời sau của Tây Hạ, phù họp với những gi mà Đại Lạt ma kể lại cho các cậu!”, giáo sư La phân tích.

“Nhưng điều này vẫn chưa đủ để chứng minh!”, Đường Phong nghi ngờ.

Đôn Hoàng đã từng được mở ra vào cuối thời Tây Hạ...”, Đường Phong, đang định nói gì đó thì giáo sư La xua xua tay, nói: “Đường Phong, tôi biết điều này cũng khó mà chứng minh được, nhưng không quan trọng. Tôi đã nói rồi, “vẫn còn một khả năng nữa, tức là Tàng Kinh Động đó chỉ là một chủ đề thú vị. Chúng ta có thể mạnh dạn suy đoán rằng: có lẽ chẳng phải là cao nhân nào phát hiện ra kệ tranh ngọc Đôn Hoàng, mà rất có thể chính là Vương Đạo Sỹ mù chữ, chỉ có điều sau này quả thực đã xuất hiện một người biết chữ.”

“Người biết chữ? Stein, Pelliot và những người đó, nếu như ỉà những nhà thám hiểm nổi tiếng mà chúng ta đã biết, thì kệ tranh ngọc đó đã được người đời biết tới từ lâu rồi!”, Đường Phong lắc đầu nói.

“Đúng! Rõ ràng là những người này không phải là Stein, Pelliot hay những người đó; nhưng người này học thức uyên bác và đã nhìn ra giá trị của kệ tranh ngọc, đồng thời đã hóa giải được chữ Tây Hạ trước, hoặc cùng lúc với Ivanovich lvanov!”, suy luận của giáo sư La đã hoàn thiện thêm một bước nữa cho suy đoán trước đó của Hàn Giang.

“Nhưng người này là ai nhỉ? Một nhân vật tài giỏi như vậy, chắc là phải giống Stein, Pelliot, Ivanovich Ivanov, Kozlov ghi dấu ấn trong lịch sử chứ nhỉ! Hơn nữa, ông ta đã đoạt được kệ tranh ngọc vào lúc nào? Theo cách suy luận này, thì người đó chắc chắn phải đoạt được kệ tranh ngọc từ tay Vương Đạo Sỹ trước cả Stein. Nhưng nếu người này phát hiện ra Tàng Kinh Động sớm hơn cả Stein, thì tại sao-ỉại không hề động đến những kinh thư trong Tàng Kinh Động?”, Đường Phong chìm trong suy tư.

Giáo sư La khẽ thở dài: “Tất cả đều như sương khói thoảng qua, hiện giờ chúng ta khó mà khôi phục lại được diện mạo của cao nhân bí ẩn đó. Tóm lại, rất có khả năng giống như những gì Hàn Giang suy đoán trước đây, cao nhân ‘X’ đó đã giải mã được những chữ Tây Hạ trên kệ tranh ngọc, sau đó chỉ điểm cho Kozlov tới Hắc Thủy Thành. Nhưng sau khi phát hiện ra Hắc Thủy Thành, thì Kozlov đã vơ hết công lao về mình, nên cao nhân ‘X’ này không hề có tên trong sử sách, nhưng quả thực là ông ta có tồn tại.”

"Nếu như vậy, thì khởi nguồn của hàng loạt sự việc liên quan tới kệ tranh ngọc, đều được đổ hết lên phát hiện vê Tàng Kinh Động Đôn Hoàng, thật… thật là không thể tin được!”. Từ Nhân Vũ cũng thốt lên.

“Đúng vậy! Trước đây chúng ta luôn cho rằng: Hắc Thủy Thành là do Kozlov vô tình phát hiện ra, nên mới dân tới hàng loạt sự việc sau này, bây giờ thì xem ra mọi việc đã sớm bắt đầu ngay tò khi phát hiện ra Tàng Kinh Động Đôn Hoàng!”, giáo sư La nói tới đây liền dừng lại rồi mới nói tiếp: “Nhưng bây giờ thì ổn rồi, cuối cùng thì bốn kệ tranh ngọc đã được tập hợp lại, giờ thì chúng ta có thể ghép chúng lại với nhau rồi đấy!”, giáo sư La nói tới đây, tât cả mọi người đều thấy thật phấn khởi.

2

Giáo sư La sắp xếp bổn kệ tranh ngọc theo thứ tự “Bạch”, “Cao”, “Đại”, “Hạ” ngay ngắn trên bàn. Đứng trươc bon kệ tranh ngọc quý báu này, ông không khỏi xuýt xoa: ‘Hiện giờ chúng ta đã nhìn thấy tất cả văn tự trên bề mạt các kệ tranh ngọc. Thực ra, những kệ tranh ngọc này găn liên với nhau, đó chính là toàn bộ quá trình lịch sử của dân tộc Đảng Hạng. Tấm đầu tiên: ‘Hắc Đầu Thạch Thất’,

là giai đoạn lịch sử đầu tiên của người Đảng Hạng; tấm thứ hai: ‘Hạ Lan Thần Sơn’, nói về sự quật khởi của người Đảng Hạng, lịch sử kiến lập nên vương triều Tây Hạ; tấm thứ ba: nói về ‘Hắc Thủy cổ Thành’, đã phản ánh giai đoạn lịch sử người Mông cổ xâm chiếm Tây Hạ; tấm cuối cùng: tường thuật lại giai đoạn lịch sử thê lương, ám chỉ về thời kì diệt vong của vương triều Tây Hạ”.

“Đúng vậy! Bây giờ ghép lại nhìn quả thực là như vậy. Toàn bộ lịch sử của dân tộc Đảng Hạng và vương triều Tây Hạ, đều được cô đọng trong bốn kệ tranh ngọc này!”, Đường Phong gật gù tâm đắc với những suy luận của giáo sư La.

Tiếp sau đó, giáo sư La lần lượt lật bốn kệ tranh ngọc lên, ghép chúng lại theo đúng trật tự. Đường Phong thấy tay giáo sư La run rẩy, khi ghép tới tấm cuối cùng thì tay của ông run lên bần bật. Đường Phong vội vàng tới đỡ ông, giúp ông ghép kệ tranh ngọc íhứ tư lại.

Điều thần kì bỗng xuất hiện, khi kệ tranh ngọc cuối cùng được ghép lại, thì các khe hở giữa chúng đột nhiên lấp lánh ánh vàng, rồi bốn kệ tranh ngọc, chỉ trong một chớp mắt, đã gắn kết lại với nhau. Và ngay sau đó, bốn kệ tranh ngọc bỗng biến hóa khiến tất cả những người đang có mặt đều bất ngờ, tới nỗi đờ đẫn vì kinh ngạc. Mọi người cứ đứng sững một lúc như vậy quanh nó. Bốn kệ tranh ngọc tỏa ánh vàng lấp lánh, rồi chẳng mấy chốc đã hiện lên một hàng chữ dày đặc. “Là chữ Tây Hạ!”, Đường Phong nhận ra ngay đây là chữ Tây Hạ.

Nhưng đúng lúc Đường Phong định đọc những chữ này, thì chúng lại biến mất, và thay vào đó là một hình vẽ lấp lánh chói lóa... Không! Chính xác mà nói, thì đó là một tấm bản đồ. Dòng chảy vàng óng của sông ngòi, rặng núi xanh biếc, đại sa mạc màu vàng, tất cả đều rõ mồm một. Nhưng mọi người chưa kịp nhìn kĩ, thì trên kệ tranh ngọc lại biến đổi, vẫn là những dòng chừ Tây Hạ dày đặc đó. Lần này, Đường Phong đã lập tức phản ứng kịp thời, anh lao vào phòng mình, cầm lấy máy ảnh kỹ thuật số, phấn khởi reo lên: “Tránh ra, tránh ra, để tôi chụp nó lại”.

Đường Phong liên tục ấn nút chụp, kệ tranh ngọc không ngừng biến hóa. Tấm bản đồ và những dòng chữ đó thay nhau hiện lên, rồi sau biết bao nhiêu lần, thì rốt cuộc nó đã dừng thay đối và trở lại như bình thường. Đường Phong bật lại những bức ảnh vừa chụp, nhìn rõ mồn một, lúc này anh mới thở phào nhẹ nhõm. Nhìn lại, bốn kệ tranh ngọc đã trở lại như cũ, bề mặt tuy vẫn có thể trông thấy thấp thoáng rat nhiều đường nét, nhưng không thể nhìn rõ như trên tấm bản đồ ban nãy. “Đúng là thần kì, thật không ngờ kệ tranh ngọc này còn có thể biến hóa như vậy!”, Đường Phong thán phục.

“Đúng vậy! Tôi cũng không ngờ!”, nét mặt giáo sư La cũng vô cùng kinh ngạc.

“Tại sao lại như vậy nhỉ?”, Đường Phong hỏi.

Sau một hồi trầm ngâm, giáo sư La mới giải thích: “Trước đây tôi đã từng nghe người ta nói rằng, có những loại đá có tính năng ghi chép, nên tôi nghĩ: chất ngọc của kệ tranh ngọc này có tính năng như vậy.”

“Bản đồ thì trước đây chúng ta biết rồi, nhưng những dòng chữ đó là gì vậy?”, Hàn Giang hỏi.

Đường Phong hết những bức ảnh chụp trong máy ảnh vào máy tính xách tay. Giáo sư La nhìn lên màn hình hồi lâu, rồi bỗng lắc đầu, nói: “Tuy phần lớn chữ Tây Hạ trên này tôi đều biết, nhưng tôi đọc mãi từ nãy tới giờ ; cũng không sao hiểu được ý nghĩa của chúng, rất nhiều đoạn không thể nào ghép với nhau được, thật... thật là kì lạ.

Tôi nghiên cứu văn tự Tây Hạ bao năm nay rồi, cũng nhìn thấy không ít văn hiến Tây Hạ, vậy mà, đây là lần đầu gặp phải đoạn văn không thể hiểu được như thế này.”

Đường Phong cũng nhìn ra vấn đề, đoạn văn này quả thực không đọc nổi, nếu dịch từng từ một sang tiếng Hán, rồi ghép lại thành câu thì cũng chẳng có ý nghĩa gì: “Quả thực không đọc được, cháu cũng lần đầu tiên gặp phải trường hợp thể này.”

Mọi người đều im lặng, phòng hội nghị im phăng phắc, mãi cho tới khi Hàn Giang tuyên bố giải tán mọi người mới lục đục rút lui.

3

Bốn kệ tranh ngọc được cất trong két sắt kiên cố, cho dù là Đường Phong cũng khó mà nhìn thấy được. May mà Đường Phong có mấy tấm ảnh. Suốt hai ngày liền, anh giam mình trong phòng, nghiên cứu mấy tấm ảnh đó. Trên bản đồ xuất hiện rất nhiều địa danh sống động, đều là kí hiệu đánh dấu bằng văn tự Tây Hạ, có chữ Đường Phong hiểu, có chữ anh cũng không hiểu. Nhưng cho dù có hiểu đi chăng nữa, anh cũng không tài nào biết được vị trí của những địa danh đó hiện giờ ở đâu. Đường Phong chìm đắm trong khối từ điển, tài liệu mênh mông. Anh tự mình kiểm tra, đọc các tài liệu để hi vọng có thể tìm thấy những địa danh này, rồi lại tìm đến thỉnh giáo giáo sư La. Hôm nay, hai người nghiên cứu cả buổi sáng, mà cũng chỉ mới giải mã được hai địa danh.

Sau bữa trưa, giáo sư La đi nghỉ, còn một mình Đường Phong ngồi lại trong phòng, đờ đẫn ngồi nhìn màn hình máy tính. Nhìn chán rồi, anh liền ngả lưng ra giường, nhưng không tài nào ngủ được, bởi trong đầu toàn là chữ nghĩa Tây Hạ đủ hình đủ dạng. Trong lúc mơ màng, anh lại trông thấy bức ảnh trên màn hình máy tính - cả một trang kín mít chữ Tây Hạ, mà anh và giáo sư La không tài nào giải nghĩa ra nổi.

Trên đó là gì vậy? Tại sao giáo sư La cũng không giải mã được? Bản thân mình cũng biết không ít chừ Tây Hạ, vậy tại sao đến một câu chữ Tây Hạ trên đó mình cũng không hiểu nổi? Nghĩ tới đây, Đường Phong cảm thấy đầu óc nặng trĩu, toàn bộ trí não dường như sắp bị những những chữ cái kì quặc đó lấp đầy. “Đây thật giổng những lời nguyền!”, Đường Phong cảm giác những chừ Tây Hạ này giống như những lời nguyền đeo bám anh, dù anh muốn thoát ra nhưng không tài nào thoát nổi!

“Lời nguyền?!”, mắt Đường Phong bồng sáng lên, lời nguyền? Trước mắt anh lập tức hiện lên cảnh tượng lúc Tiểu Lô gặp anh và Hàn Giang, đề mục của bài luận văn đó là “Nghiên cứu lời nguyền Tây Hạ (lấy ‘Quỷ đoạn bách tự yếu quyết’ làm ví dụ)”, còn những dòng văn tự Tây Hạ khó hiểu trước mắt mình đây, có khi nào là một bản lời nguyền? Đường Phong không dám chắc chắn, anh định đi thỉnh giáo giáo sư La, nhưng nhìn đồng hồ thì hiện giờ chắc giáo sư La vẫn đang nghỉ ngơi. Anh đi đi lại lại trong phòng, đầu óc tư duy vận hành cao độ...

Đường Phong ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi quyết định mở cửa phòng, đi thắng tới phòng làm việc của Hàn Giang. Anh gõ cửa, không ai trả lời. Đường Phong đang định bỏ đi nhưng rồi lại quay lại cầm nắm đấm cửa; và không ngờ anh vừa đấy một cái, cửa đã mở ra. Anh lách người vào trong, thấy Hàn Giang không ở trong phòng. Đường Phong rất ngạc nhiên bởi anh biết rằng, đây không phải là phong cách của Hàn Giang. Tuy bề ngoài Hàn Giang tỏ ra rất cẩu thả, nhưng thực chất anh ấy rất cẩn thận, chu đáo, làm việc gì cũng tỉ mỉ, cẩn trọng. Nên cho dù là có ở trong tổng bộ đi chăng nữa, thì khi rời phòng làm việc, anh cũng sẽ tiện tay khóa cửa phòng, kể cả có ra ngoài một lúc thôi cũng vậy. Thê nhưng sao hôm nay lại không khóa cửa?

Đường Phong lòng đầy nghi ngờ, vào ngồi trước máy tính của Hàn Giang. Anh bật máy tính lên, gõ mật mã mà Hàn Giang nói với anh, để vào trong hệ thống. Đây chính là mục đích mà anh tới phòng làm việc của Hàn Giang, muốn lên mạng để tra tìm cái gọi là “lời nguyền Tây Hạ”.

Đường Phong gõ dòng chữ: “Nghiên cứu lời nguyền Tây Hạ (lấy ‘Quỷ đoạn bách tự yếu quyết’ làm ví dụ)”, vào ô tìm kiếm. Nhưng cũng giống như lần trước, vẫn không có kết quả nào khả dụng. Anh ngẫm nghĩ, rồi lại đăng nhập

vào hệ thống trích dẫn luận văn SCI, đây là hệ thống tìm kiếm trích dẫn luận văn hàng đầu Trung Quốc. Anh lần lượt dùng tiếng Hán và tiếng Anh để gõ ra dòng chữ: “Nghiên cứu lời nguyền Tây Hạ (lấy ‘Quỷ đoạn bách tự yếu quyết’ làm ví dụ), nhưng vẫn không có kết quả. Thế nhưng khi anh chỉ gõ mấy chữ: “Lời nguyền Tây Hạ”, thì đã tìm ra hai bài luận văn liên quan.

Một bài là: “Thử luận lời nguyền Tây Hạ” của Boris Mikhail Ivanovich Ustinov.

Boris Mikhail Ivanovich Ustinov? Cái tên tiếng Nga này ngay lập tức khiến Đường Phong trở nên căng thẳng, đây không phải là tên mà KGB đã đặt lại cho Misha, khi ông trở về từ sa mạc Badain Jaran sao? Tay Đường Phong có chút ran rẩy, anh kích chuột mở bài luận văn ra. Sau cái tên Boris Mikhail Ivanovich Ustinov, là đơn vị công tác của tác giả: Đại học Saint Petersburg. Điều này cho thấy bài luận văn này được Misha viết sau khi thoát khỏi sự bảo hộ của KGB, tói nhận công việc dạy học tại Đại học Saint Petersburg.

Đường Phong kiểm tra qua mục lục trích dẫn của bài luận văn này, trong đó không hề nhắc tới: “Quỷ đoạn bách tự yếu quyết”, anh lại xem tiếp kết quả tìm kiếm còn lại: “Phát hiện mới về lời nguyền Tây Hạ”. Tác giả của bài luận văn này còn khiến Đường Phong ngạc nhiên hơn"- Tymoshenko! Đường Phong giật mình mở bài luận văn ra xem, trong mục lục trích đẫn, Tymoshenko nhắc tới tên của mấy bài luận văn lời nguyền Tây Hạ, trong đó tất nhiên là có: “Quỷ đoạn bách tự yếu quyết”. Đường Phong ngạc nhiên tới nồi ngồi ngẩn một hồi trước máy tính.

Tymoshenko đúng là thiên tài, nghiên cứu của anh ta rõ ràng vượt qua cả giáo sư La. Nhưng điều khiến Đường Phong kinh ngạc hơn là: nghiên cứu của Tymoshenko lại vượt thời đại nhường vậy. Anh ta là người của Tướng quân,,, v thảo nào Stephen nói rằng người mà Tướng quân trọng dụng chính là Tymoshenko. Nghĩ tới đây, lòng Đường Phong thắt lại.

Đường Phong tắt máy tính, nhưng lại cảm thấy có chỗ nào đó không ổn. Anh ngồi tnrớc máy tính, trầm ngâm một hồi, và bồng nghĩ ngay tới Tiểu Lô. Bài luận văn mà Tiểu Lô đọc đó, Tướng quân, Tymoshenko, lời nguyền Tây Hạ... Tiểu Lô? ừm, chắc chắn Tiểu Lô có vấn đe! Đường Phong lao ra khỏi phòng làm việc của Hàn Giang, tới phòng ngủ của Hàn Giang, nhưng anh ấy cũng không có trong phòng. Anh gọi vào máy Hàn Giang, có tiếng chuông, nhưng không ai bắt máy. Anh cuống cuồng đi tìm Hàn Giang thì gặp ngay Triệu Vĩnh trong hành lang. Triệu Vĩnh thấy Đường Phong cuống quýt, liền hỏi anh đang làm gì vậy.

“Anh có trông thấy Hàn Giang không?”, Đường Phong hỏi Triệu Vĩnh.

Triệu Vĩnh lắc đầu: “Buổi sáng có thấy, nhưng ăn trưa xong thì không thấy anh ấy đâu nữa.”

“Kệ anh la vậy! Tiểu Lô, cái gã Tiểu Lô trợ lý của...

Trần Tử Kiến, anh ta có vấn đề!”, Đường Phong thở hổn

hển nói.

“Có vấn đề? Tiểu Lô?”, Triệu Vĩnh ngạc nhiên, “Sao anh biết Tiểu Lô có vấn đề?”

“Hiện giờ tôi không có thời gian giải thích với anh đâu, anh mau đưa tôi tới phòng thí nghiệm của Trần Tử Kiến!”, Đường Phong yêu cầu.

Triệu Vĩnh chần chừ một lúc rồi gật đầu đồng ý, lải xe đưa Đường Phong hướng tới phòng thí nghiệin của Trần Tử Kiến.

4

Khi Đường Phong và Triệu Vĩnh tới phòng thí nghiệm của Trần Tử Kiến thì đã là bốn giờ chiều. Người qua kẻ lại trong tòa nhà, nhưng phòng thí nghiệm của Trần Tử Kiến trên tầng hai lại vô cùng yên tĩnh.

Hai người vội vàng tới cửa phòng thí nghiệm, Đường Phong đẩy cửa, cửa có cài chốt; anh gõ cửa, nhưng bên trong không có ai trả lời. Đường Phong lại gõ tiếp, hai phút sau, trong phòng bỗng có tiếng động. Đường Phong nhìn sang Triệu Vĩnh, rõ ràng là Triệu Vĩnh đã hết kiên nhẫn, anh lùi lại vài bước rồi húc mạnh vào cửa. Cánh cửa bật ra, một cảnh tượng máu me phơi bày trước mắt họ.

Tiểu Lô đang nằm trên đất, trên người bị một vật sắc nhọn đâm sâu, máu chảy đầm đìa. Có một người tay cầm dao, đứng không vững bên cạnh thi thể của Tiểu Lô, người đó chính là Hàn Giang.

“Thế... thế này là thế nào?”, Đường Phong kinh ngạc nhìn cảnh tượng này.

Hàn Giang loạng choạng bước lên phía trước vài bước, Đường Phong và Triệu Vĩnh - không ai bảo ai, cũng cùng nhau lùi lại phía sau. Hàn Giang quang con dao trên tay xuống đất, chậm rãi nói: “Tôi... tôi cũng chẳng hiểu như thế nào nữa, buổi trưa, tôi...tôi nhận được điện thoại của Tiểu Lô. Tiểu... Tiểu Lô nói anh ta gặp nguy hiếm, bảo tôi khẩn... khẩn trương tới đây, anh ta có chuyện muốn nói với tôi.. Nhưng khi tôi tới nơi và vừa bước vào cửa thì... thì mất hết tri giác. Chắc…chắc chắn bị ai đó đánh lén, thật... thật chết tiệt. Ở núi Hạ Lan thì bị Stechkin đánh lén, về đây lại bị đánh lén tiếp..

“Vậy... vậy tại sao anh không gọi tôi cùng đi?”, Đường Phong hỏi.

“Đúng vậy! Theo như quy định thì nếu ra ngoài làm nhiệm vụ, ít nhất cũng phải có hai người đồng hành với nhau mà!”, Triệu Vĩnh cũng nói.

“Tôi... tôi nào biết được lại xảy ra chuyện này, tôi thấy... thấy các cậu đang nghỉ trưa nên đã tới đây một mình..

“Vậy Tiểu Lô đã nói gì với anh?”, Đường Phong hỏi.

“Chẳng... chẳng nói sì cả, anh ta chỉ nói rằng anh ta đang gặp nguy hiểm. Tôi có hỏi lại, nhưng anh ta không chịu nói qua diện thoại. Tới... tới khi tôi tới, vẫn chưa gặp được cậu ta thì... thì..Hàn Giang nói đứt quãng.

“Nói như vậy thì có hai khả năng, một là đúng như những gì Tiểu Lô nói, hai là Tiểu Lô đã cố ý dụ anh tới đây!”, Đường Phong suy đoán.

“Rất... rất có khả năng anh ta cố ý dụ tôi tới đây”, Hàn Giang lẩm bẩm.

“Nếu đã dụ anh tới đây rồi lại đánh lén anh, vậy tại sao không giết anh đi?”, Triệu Vĩnh hỏi lại.

“Cái này thì...”, Hàn Giang im lặng.

“Ngược lại, tôi lại cảm thấy Tiểu Lô nói anh ta gặp nguy hiểm là thật!”, Đường Phong nói.

“Tại sao?”

“Bởi vi tôi đã phát hiện ra bí mật của Tiểu Lô.”

“Bí mật?”

“Đúng! Bí mật. Có lẽ Tiểu Lô chính là người của Tướng quân!”, Đường Phong nói ra phát hiện mới của anh.

“Sao cơ? Tiểu Lô là người của Tướng quân?”, cả Hàn Giang và Triệu Vĩnh đều kinh ngạc.

“Bởi vì lời nguyền Tây Hạ đó!”, Đường Phong nói vắn tắt lại những phát hiện của mình.

Triệu Vĩnh ngồi xổm xuống cạnh thi thể của Tiểu Lô, miệng lẩm bẩm: “Trần Tử Kiến bị u hồn dọa cho đến chết, còn Tiểu Lô không thể bị u hồn đâm chết chứ!”

Mười lăm phút sau, đội trưởng Kim đem theo người của đội cảnh sát hình sự tới xử lý hiện trường. Đường Phong, Hàn Giang và Triệu Vĩnh đợi tới khi quân của đội trưởng Kim thu dọn xong hiện trường mới ra về.

5

Mấy ngày sau đó, Đường Phong được thông báo không được ra ngoài, bắt buộc phải ở trong tổng bộ, cũng không được tiếp xúc với ai. Đường Phong cảm thấy một mình ở trong phòng chán ngắt, anh không hiểu đây là biộn pháp gì, nhằm vào mỗi mình anh, hay là với tất cả mọi người cũng vậy.

May mà vẫn không hạn chố sự tự do của anh trong tổng bộ. Lúc ăn cơm, Đường Phong vẫn gặp Từ Nhân Vũ và giáo sư La, nhưng không trông thấy Hàn Giang. Cả ba người cũng không nói chuyện vơi nhau, Đường Phong chỉ có thể giao lưu với Từ Nhân Vũ bằng ánh mắt. Từ ánh mắt của Từ Nhân Vũ, Đường Phong hiểu rằng: biện pháp này không chỉ dành riêng ình anh mà là cho tất cả mọi người. Tại sao không thấy Hàn Giang? Lòng Đường Phong thấp thỏm không yên.

Rốt cuộc, Đường Phong, Từ Nhân Vũ và giáo sư La cũng được triệu tập tới phòng hội nghị. Triệu Vĩnh nghiêm nghị đứng trước bàn họp, tuyên bố với mọi người: “Do nguyên đội trưởng của lão K - Hàn Giang, có chút vấn đề không giải thích được rõ ràng, bởi vậy kể từ hôm nay tôi sẽ tạm thời quản lý lão K.”

Những lời Triệu Vĩnh nói đã chứng thực cho sự lo lắng của Đường Phong — Hàn Giang xảy ra chuyện rồi, thảo nào mãi không thấy anh ấy đâu.

“Hàn Giang sao vậy?”, giáo sư La hỏi.

“Hiện giờ Hàn Giang đang được cách ly để thẩm tra!”, Triệu Vĩnh nghiêm giọng trả lời.

“Cách ly để thẩm tra?”, mọi người đều ngạc nhiên.

“Bởi vậy, trong thời gian này, tôi hy vọng mọi người sẽ không rời khỏi đây, phối hợp cùng chúng tôi điều tra”, Triệu Vĩnh vừa đứt lời thì Từ Nhân Vũ định nói gì đó. Không kịp đợi anh ta mở miệng, Triệu Vĩnh đã lại nói tiếp: “Mong mọi người hãy thông cảm, thời gian điều tra sẽ không kéo dài lâu đâu, mọi người cứ yên tâm.”

Nói xong, Triệu Vĩnh liền vội vàng rời khỏi phòng hội nghị. Ba người nhìn nhau, ai cũng muốn nói chút gi đó, nhưng lại chẳng biết nói gì nên đành lặng lẽ rút lui.

Buổi chiều hôm đó, Triệu Vĩnh tới tìm Đường Phong: “Đừng lo lắng, không phải là thẩm vấn đâu, chỉ là đại diện cho tổ chức hỏi anh chút tình hình thôi!”, Triệu Vĩnh tươi cười với Đường Phong, nhưng Đường Phong cảm thấy anh ta cười thật gượng gạo.

“Anh hỏi đi!”, Đường Phong cố gắng để mình giữ bình tĩnh.

“Được! Tôi hỏi anh trước, sau khi từ núi Hạ Lan trở về, anh có phát hiện trong lão K có ai không bình thường không? Hoặc là có hành động khác thường?”, Triệu Vĩnh hỏi.

“Anh nghĩ kĩ lại xem!’

“Hành động khác thường?”, Đường Phong ngẫm nghĩ, đáp: “Không có!”

“Không có thật, nếu anh cứ cố hỏi thì chỉ có hôm Tiểu Lô xảy ra chuyện, tôi đã phát hiện ra vấn đề của anh ta, nên định tìm Hàn Giang, nhưng anh ấy không ở đây, điều này có chút không bình thường. Ngoài ra thì không thấy ai có biểu hiện khác thường cả!”

Triệu Vĩnh trầm ngâm một lúc, thu lại nụ cười, mặt nghiêm nghị, nói: “Đường Phong, chúng ta nói chuyện thẳng thắn với nhau nhé. Tôi nói cho anh biết, báo cáo khám nghiệm tử thi của Tiểu Lô đã có rồi, anh ta bị hung khí sắc nhọn đâm chết. Hung khí chính là con dao trong tay Hàn Giang, dấu vân tay trên dao cũng chính là của Hàn Giang. Quan trọng hơn nữa, con dao này lại chính là con dao chuyên dụng phát cho Hàn Giang, mua ở nơi khác cũng không có, còn bình thường không ra ngoài thực thi nhiệm vụ, Hàn Giang cũng không mang theo dao làm gì, bởi vậy...”

“Bởi vậy các anh chắc chắn rằng chính Hàn Giang đã giết chết Tiểu Lô?’5, Đường Phong hỏi lại.

“Đường Phong, anh nghĩ mà xem, nếu như có ai đó giết Tiểu Lô trước, thì làm sao mà lấy dao của Hàn Giang được? Cái chết của Tiểu Lô chắc chắn xảy ra sau khi Hàn Giang tới.”

“Như vậy cũng không thể xác định hung thủ chính là Hàn Giang. Có lẽ hung thủ tấn công Hàn Giang ngất đi trước, sau đó mới dùng dao của anh ây giêt Tiểu Lô thì sao?”

“Nói như anh thì chẳng lẽ Tiểu Lô giúp hung thủ à?", Triệu Vĩnh hỏi lại.

“Anh ta vốn dĩ có vấn đề, rất có khả năng anh ta đã dụ Hàn Giang tới phòng thí nghiệm, sau đó tấn công anh ấy bất tỉnh, rồi hung thủ thực sự đã dùng dao của Hàn Giang đâm chết Tiểu Lô!”, Đường Phong suy đoán.

“Đây chỉ là suy đoán của anh, nhưng trước khi chưa tóm được hung thủ thực sự như anh nói, thì Hàn Giang vẫn là người đáng bị tình nghi nhất”, Triệu Vĩnh ngập neừng rồi nói tiếp: “Còn nữa, chúng tôi đã kiểm tra danh bạ liên lạc điện thoại ngày hôm đó, 1 giờ 20 phút chiều, Tiểu Lô có gọi cho Hàn Giang một cuộc điện thoại, nhưng trước đó hai mươi phút, chính Hàn Giang lại gọi cho Tiểu Lô. Điều này chứng minh hai việc: thứ nhất, nguyên nhân Hàn Giang tới chỗ Tiểu Lô không đơn giản như những gì anh ấy nói; thứ hai, hai cuộc điện thoại này cũng có thể cho thấy giữa Hàn Giang và Tiểu Lô có mối liên quan gì đó.”

“Liên quan?” Đường Phong chẳng có gì để cãi, nhưng anh vẫn không cam tâm mà tiếp tục chất vấn: “Vậy tại sao Hàn Giang lại giết chết Tiểu Lô? Hoàn toàn không cần thiết phải làm vậy mà!”

Trước lời chất vấn của Đường Phong, Triệu Vĩnh im lặng. Mãi lâu sau, Triệu Vĩnh mới mở miệng: “Đường Phong, chắc có lẽ anh vẫn chưa biết, vào đúng hôm mà

Tiểu Lô bị hại, thì bốn kệ tranh ngọc của chúng ta để trong két sắt đã không cánh mà bay.”

‘Gì cơ? Kệ tranh ngọc mất rồi sao?”, Đường Phong vô cùng kinh ngạc.

“Đúng vậy!”

“Bởi vậy... bởi vậy các anh đã kết hợp hai việc này lại, cho rằng Hàn Giang chính là nội gián trong lão K?”, Đường Phong hiểu ngav ý Triệu Vĩnh.

Triệu Vĩnh nặng nề gật đầu: “Bốn kệ tranh ngọc được khóa trong két sắt kiên cố, lại ở trong tòa nhà, ai có thể lấy chúng đây? Tôi không tin người của Tướng quân lại thần thông quảng đại đến vậy, đột nhập vào chồ chúng ta, mở két sắt, lấy cắp kệ tranh ngọc, anh có tin không?”

Đường Phong ngồi sụp xuống giường, thẫn thờ lắc lắc đầu: “Chắc chắn có nội gián, nhưng... nhưng cũng không thể vì thế mà cho rằng chính là Hàn Giang.”

“Chìa khóa két sắt do Hàn Giang giữ, hơn ai hết, anh ấy là người có khả năng tiếp xúc với kệ tranh ngọc nhất.

Rồi liên quan tới việc Tiểu Lô bị hại, trước đó anh từng nghi ngờ Tiểu Lô có quan hệ với Tướng quân, đang định đi tìm Tiểu Lô thì anh ta đã chết rồi, đây rõ ràng là để triệt cỏ phải triệt tận gốc!”, Triệu Vĩnh suy đoán.

“Không! Không! Không thể như vậy. Tôi không thể tin, một người đã từng vào sinh ra tử cùng chúng tôi như Hàn Giang lại là nội gián được? Vậy tất cả những gì anh ấy đã làm trước đây là vì cái gì chứ?”, Đường Phong hói một tràng.

“Đường Phong, không thể không thừa nhận rằng: đối thủ của chúng ta quá gian xảo, chúng ta đều đã bị chúng lừa. Một mặt, chúng tranh giành kệ tranh ngọc với chúng ta, nhưng đến khi không tranh được với chúng ta, thì đã sử dụng nội gián mai phục trong nội bộ của chúng ta, một lúc cướp đi bốn kệ tranh ngọc, khiến chúng ta không kịp trở tay. Nghĩ tới khả năng bại lộ của Tiểu Lô, nên sau khi đánh cắp bốn kệ tranh ngọc, chúng đã giết chết anh ta. Người này, ngoài Hàn Giang ra, thì vẫn không thể nghĩ ra được là ai!”, Triệu Vĩnh nói.

Đường Phong vẫn không tin suy luận của Triệu Vĩnh. Vậy là Triệu Vĩnh lại hỏi tiếp: “Được rồi! Vậy thì tôi sẽ hỏi anh cụ thể một chút, chuyện trước đây không hỏi nữa. Nói về chuyến đi tới núi Hạ Lan vậy nhé, ai chính là người yêu cầu ở lại quán trọ một ngày?”

“Hàn Giang?!”, Đường Phong lẩm bẩm.

“Vậy ai chính là người rút mất tấm ván gỗ bắc qua đầm thủy ngân, sau khi anh và lão Mã vào trong hậu điện?”

“Là Hàn Giang?!”, Đường Phong lại lẩm bẩm.

“Những điều này đều là những gì anh viết trong báo cáo, giấy trắng mực đen đấy!”

“Nhưng... nhưng đều có nguyên nhân cả mà! Tại quán trọ là do tình hình thay đổi. Tại đầm thủy ngân là do Hàn Giang sợ lúc anh ấy không ở đấy, sẽ có người đột nhập vào hậu điện, thế nên...”

“Mọi hành động đều có thể tìm ra những lí do khác nhau!”, hình như Triệu Vĩnh không hứng thú với những giải thích của Đường Phong.

“Vậy các anh sẽ làm gì với Hàn Giang? Chúng ta có tiếp tục tìm kiếm Hạn Hải Mật Thành nữa không?”

“Hiện giờ Hàn Giang vẫn đang trong giai đoạn bị thẩm tra, trước khi có kết luận cuối cùng, Hàn Giang vẫn bị khốổng chế tự do cá nhân. Còn về việc có tới Hạn Hải Mật Thành nữa hay không, thì phải xem kế hoạch tiếp theo thế nào.”

Đường Phong thât vọng tới đinh điêm, thân thờ ngôi sát mép giường, không biết nên nói gì. Triệu Vĩnh thấy không còn gì để hỏi liền bỏ đi, nhưng lại bị Đường Phong kéo lại: “Đợi đã, tôi vẫn còn một câu hỏi.”

“Này rốt cuộc là tôi hỏi anh hay anh hỏi tôi thế?”

“Trên người Tiểu Lô có hình xăm đó không?”, Đường Phong hỏi.

“Hình xăm?”, Triệu Vĩnh ngớ người ra rồi nói ngay:

“Tôi đã được đặc cách tham gia khám nghiệm tử thi của Tiểu Lô, không phát hiện trên người anh ta có hình xăm đó, điều này quả thực rất kì lạ!”

“Bên trong chắc chắn có vấn đề. Những ai trong đám của Tướng quân đều có hình xăm trên người. Trên người Tiểu Lô không có, chứng tỏ anh ta không phải là người của Tướng quân?”

“Nhưng chính anh nói Tiểu Lô có vấn đề mà!”, Triệu Vĩnh phản bác lại.

“Tôi chỉ nói rằng khả năng Tiểu Lô có liên quan tới Tướng quân, tôi đâu có chắc chắn anh ta chính là người của Tướng quân. Hình xăm là minh chứng tốt nhất, nhưng trên người anh ta không có.”

“Như vậy thì là thế nào đây?”

“Điều đó cho thấy suy luận trước đây của anh khống đúng. Anh có thấy trên người Hàn Giang có hình xăm không?”, Đường Phong từng bước áp sát, phản bác lại Triệu Vĩnh.

“Không... không có!”, Triệu Vĩnh lắc đầu, “Nhưng có thể trà trộn vào nội bộ của chúng ta, thì trên người không thế có hình xăm được, nếu có cũng phải xóa nó đi.”

“Dù sao tôi vẫn không đồng ý với suy luận của anh!”, Đường Phong hét lên.

“Đây cũng không phải là suy luận của ricng tôi, mà cả thủ trưởng cũng nghĩ vậy. Được rồi, Đường Phong, tôi không nói với anh nữa, anh tự lo ình nhé!”, nói xong, Triệu Vĩnh liền vội vàng rời khỏi phòng Đường Phong.

7

Hai ngày sau, Triệu Vĩnh triệu tập mọi người tới phòng hội nghị, tuyên bố: “Bắt đầu từ hôm nay, lão K tạm thời giải tán. Mọi người có thể rời khỏi đây, nhưng lúc rời đi bắt buộc phải chịu sự kiểm tra, không được mang theo bất cứ vật gì liên quan tới cơ mật.”

Mọi người nhìn nhau, vô cùng kinh ngạc. “Chúng ta vất vả cả một thời gian dài! Bây giờ thì chẳng còn gì cả!”, Từ Nhân Vũ oán thán.

lòng trống rỗng.

Giáo sư La khẽ thở dài, nhưng ông im lặng, không nói gì cả.

“Tại sao lại như vậy?”, Đường Phong bỗng cảm thấy lòng trống rỗng.

Triệu Vĩnh mặt nặng trĩu, nhưng anh không trả lời

Triệu Vĩnh mặt nặng trĩu, nhưng anh không trả lời câu hỏi của mọi người, cuối cùng mọi người đành phải giải tán.

Ngày hôm sau, giáo sư La và Từ Nhân Vũ lần lượt thu dọn hành lý, rời khỏi tổng bộ. Đường Phong vẫn không cam tâm, vẫn muốn chờ đợi thêm. Nhưng đợi thêm hai ngày nữa cũng không có tin tức của Hàn Giang, anh đành phải thu dọn hành lý, chuẩn bị rời khỏi đây.

Lúc thu dọn hành lý, Đường Phong nảy ra ý định lưu mấy bức ảnh anh chụp kệ tranh ngọc vào trong một cái USB nhỏ. Đây là một chiếc USB cực nhỏ, hình dáng giống như một chiếc móc phéc mơ tuya nhỏ xíu. Đường Phong tháo chiếc móc phéc mơ tuya trên áo mình xuống, thay chiếc USB đó vào, tưởng rằng như vậy có thể lọt qua được sự kiểm tra của Triệu Vĩnh.

Ai ngờ, lúc kiểm tra hành lý vẫn bị Triệu Vĩnh lục soát ra. “Đây là cái gì?”, Triệu Vĩnh tháo chiếc USB trên áo Đường Phong xuống, cười nhạt: “Chiếc móc phéc mơ tuya này của anh hơi to đấy!”

“Kiểm tra qua xem bên trong có gì!”, Triệu Vĩnh đưa USB ột người lính vạm vỡ đứng bên cạnh.

Anh trả lời rất nhanh: “Bên trong chỉ có vài bức ảnh.”

Triệu Vĩnh chỉ liếc một cái rồi nghiêm mặt, nói: “Vật phẩm vi phạm, tịch thu!”

Đường Phong không nói thêm gì cả, đeo hành lý ra ngoài. Đến cổng, anh nhìn những rặng núi trùng trùng điệp điệp xung quanh, thâm chửi rủa: “Nơi quái quỷ chó ăn đá gà ăn sỏi này, muốn gọi chiếc xe cũng chẳng có.”

Đường Phong đang rầu rĩ thì Triệu Vĩnh lái một chiếc “Dũng sỹ”1 tới dừng ngay trước mặt anh. “Lên xe đi!”, Triệu Vĩnh gọi anh.

Đường Phong đành phải lên xe Triệu Vĩnh. Triệu Vĩnh vừa lái xe, vừa nhìn Đường Phong, cười nói: “Sao? Giận rồi à?”

“Tôi nào dám giận anh.”

“Anh phải biết rằng, ban nãy anh mang theo vật phẩm liên quan tới cơ mật, chúng tôi có thể căn cứ vào luật ăn cắp cơ mật quốc gia bắt anh đấy!”

“Theo như anh nói thì tôi phải cảm ơn anh à? Bây giờ anh bắt tôi cũng không muộn đâu!”, tính ngang ngạnh của Đường Phong lại trồi dậy.

“Được rồi, tôi không tóm anh đâu. Đi đâu nào? Tôi đưa anh đi!”

“Bến xe phía nam!”, Đường Phong cáu kỉnh gào lên.

Triệu Vĩnh nhấn ga, lái xe về hướng bến xe phía nam.

Nhưng khi xe của Triệu Vĩnh vừa mới tới đường quốc lộ, vẫn chưa vào thành phó, thì điện thoại của anh đổ chuông. Triệu Vĩnh nghe điện thoại, sắc mặt nghiêm trọng. Đường Phong chỉ thấy Triệu Vĩnh “ừm” vài câu rồi lại “vâng” và tắt điện thoại.

“Đường Phong, tôi có nhiệm vụ gấp, không đưa anh tới bến xe được rồi! Tôi đưa anh tới ga tàu hỏa, rồi anh tự đến đó nhé!”, Triệu Vĩnh nói.

“Nhiệm vụ quái gì nữa, không phải lão K giải tán rồi sao? Anh vẫn còn nhiệm vụ cơ à?”, Đường Phong hậm hực nói.

Triệu Vĩnh không trả lời, dừng xe trước ga tàu hỏa, thả Đường Phong xuống rồi lao thẳng đi. “Mẹ kiếp! Cứ phải ép phần tử trí thức nói bậy!”, Đường Phong khoác ba lô, không quên chửi với theo xe Triệu Vĩnh một câu.

8

Đường Phong thấy còn lâu tàu mới khởi hành nên tìm một quán cơm ăn uống no nê, rồi lại đi gặp một người bạn, sau đó mới ung dung đi vào phía đường ray phía nam.

Đường Phong cùng dòng người bước vào trong toa tàu, nhưng đúng lúc này, bên ngoài cửa tàu điện ngầm, trên cầu thang máy hướng lên thềm ga bồng nhốn nháo cả lên. Anh vẫn chưa nhìn rõ xem chuyện gì xảy ra thì một bóng đen đã lách vào trong toa, rồi ngay sau đó, cửa toa tàu đã đóng lại. Nhìn qua cửa kính, anh phát hiện trên thềm ga có mấy gã to cao vạm vỡ, chính là Triệu Vĩnh và vài người khác trong nhóm, ăn mặc như thường dân. Đường Phong giật thót tim, vội vàng quay lại nhìn vào trong toa tàu, rồi anh trông thấy một khuôn mặt quen thuộc. Bóng đen chui vào đây trong khoảnh khắc cửa toa tàu khép lại, chính là Hàn Giang.

Đây là lần đầu tiên anh gặp lại Hàn Giang sau khi anh ấy bị cách ly để điều tra. “Hàn…”, Đường Phong đang định gọi tên anh, thì Hàn Giang khẽ lắc đầu.

Hai người đi tới góc khuất trên toa tàu, Đường Phong thì thào hỏi: “Chuyện này rốt cuộc là thế nào? Sao anh lại thoát được ra ngoài? Anh làm vậy tội càng nặng thêm đấy! Anh có biết kệ tranh ngọc mất rồi không?”

Trước hàng loạt câu hỏi của Đường Phong, Hàn Giang không trả lời. Đợi Đường Phong hỏi xong, Hàn Giang nói: “Hiện giờ tôi không có thời gian để giải thích với cậu, người của Triệu Vĩnh sẽ xuất hiện ở ngay bến sau. Tôi chỉ có vài phút, cậu đừng nói gì cả, hãy chỉ nghe tôi nói. Cậu có tin tôi vô tội không?”

“Tin!”, Đường Phong gật đầu.

“Tốt! Nhớ kĩ, bất luận lão K có giải tán hay không thì chúng ta cũng không thể thua cuộc, chúng ta nhất định phải tìm thấy Hạn Hải Mật Thành!”, Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

“Nhưng chúng ta chẳng còn gì cả, thì làm được gì chứ?”

“Chỉ cần chúng ta vẫn còn sống là sẽ có cơ hội thay đổi tất cả, cầm lấy!?” nói xong, Hàn Giang đặt một vật vào tay Đường Phong.

Đường Phong định thần lại nhìn, chính là chiếc USB v hình móc khóa của mình. “Anh... anh làm thể nào mà lấy được vậy?”, Đường Phong vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ.

“Đừng hỏi nhiều, hãy nhớ lời tôi nói. Bây giờ cậu hãy quay trở lại trường học, nếu cần đi dạy học thì hãy dạy học trở lại, nếu cần tiếp tục nghiên cứu thì nghiên cứu. Tóm lai, cần sống thế nào thì hãy sống thế, tôi sẽ đi tìm cậu!”

HẾT TẬP 3.
 

hoahongden12

Active Member

Lão K giải tán. Hàn Giang vướng vào nghi án giết hại Tiểu Lô. Việc tìm ra bí ẩn của bốn kệ tranh ngọc Tây Hạ tưởng như lâm vào bế tắc, nhưng Hàn Giang không bỏ cuộc, anh bí mật tìm Đường Phong.

Dựa vào bức thư do Misha để lại và tấm bản đồ cổ phía sau kệ tranh ngọc Tây Hạ, nhóm Đường Phong - Hàn Giang lại lặng lẽ tiến sâu vào sa mạc Gobi, quyết tìm ra Hạn Hải Mật Thành.

Trong sa mạc mênh mông tưởng như vô tận ấy, họ đã gặp biết bao trắc trở, hiểm nguy và đã được chứng kiến rất nhiều điều kỳ lạ như tòa thành mê cung đầy xương người, Hắc Thạch sừng sững giữa sa mạc, người đàn bà đeo mặt nạ bí ẩn, chiếc xe Jeep không người lái chạy trên sa mạc, lời cảnh báo của hoàng hậu Một Tạng trong giấc mơ… tất cả đều nằm ngoài sự lý giải của con người. Thế rồi vì lạc đường trên sa mạc, họ lại vô tình tới khu căn cứ Tiền Tiến và khám phá ra sự tồn tại của “Lô cốt số 21”, một công trình quy mô cực lớn được xây dựng dưới lòng đại sa mạc trong những năm 1960 và vai trò quan trọng của Branch ở nơi đây.

Trong lúc cận kề cái chết, nhóm Hàn Giang lại được một thế lực bí ẩn giải cứu, và điều bất ngờ lớn nhất là họ phát hiện ra rằng họ đã từng ở rất gần Hạn Hải Mật Thành...

Chương 1: Bức thư vẫn chưa được gửi đi

Đây là bức thư Misha viết cho Lương Vân Kiệt, năm đó nó bị KGB tịch thu nên không gửi được tới Trung Quốc. Nhưng giờ đây nó lại xuất hiện trong đống di vật của Lưong Vân Kiệt. Vậy trong đó rốt cuộc viết về chuyện gì?

1

Đường Phong quay trở lại trường học đã được hơn nửa tháng, trong nửa tháng đó, Đường Phong không ngừng dò la tin tức của Hàn Giang, nhưng Hàn Giang cứ như đã bốc hơi vậy, không có một manh mối nào của anh. Trong lòng Đường Phons hoảng loạn, anh đoán rằng Hàn Giang lành ít dữ nhiều, khả năng lớn là đã bị hội Triệu Vĩnh bắt lại rồi.

Đường Phong không cam tâm chấp nhận một kết thúc như vậy, nhưng hiện giờ manh mối trong tay anh chi có mấy bức ảnh của kệ tranh ngọc, từna dòng chữ Tây Hạ bí ẩn hiện lên trên đó khiến Đường Phong phải vắt kiệt cả trí óc. Những văn tự thật kỷ lạ, hơn nửa tháng nay, như ngày nào Đường Phong cũng giam mình ớ thư viện tra cứu các loại tài liệu. Tuy Đường Phong đã giải mà dược phần lớn chữ Tây Hạ trên bức ảnh, nhưng bất luận thế nào anh cũng không tài nào ghép được những chữ quái quỷ này thành câu, càng không thể biết được ý nghĩa thật sự của những văn tự Tây Hạ này.

Ngoài cửa sổ mưa như trút nước, khoảnh trời tối đen, đã là 10 giờ đêm, Đường Phong quay lại nhìn thì trong thư viện chỉ còn lại vài độc giả. “Lẽ nào đây chính là lời nguyền Tây Hạ mà Tymoshenko nhắc tới trong bài luận văn?”, Đường Phong lẩm bẩm, anh vươn vai, nặng nề đổ người ra thành ghế. Đột nhiên, một khuôn mặt quen thuộc xuất hiện ngay phía sau anh.

Đường Phong giật bắn mình, đứng phắt dậy, sững sờ nhìn người đó, người đó đang thản nhiên ngồi ở hàng ghế đối diện anh, cười nói: ‘;Sao vậy, trông thấy ma hả?” - Giọng nói đó vẫn khàn khàn như vậy, là giọng nói của Hàn Giang.

“Ma? Tôi tưởng rằng anh thành ma thật rồi ấy chứ! Anh không bị Triệu Vĩnh tóm lại sao?” - Đường Phong ngạc nhiên.

Hàn Giang vội vàng lấy tay ra hiệu suỵt suỵt, hạ giọng khẽ nói: “Neu quả thực cậu không muốn tôi bị bọn họ áp giải về thì nói bé giùm tôi chút đi!”

Lúc này Đường Phong mới để ý thấv bộ dạng của Hàn Giang, nước mưa chảy ròng ròng trên áo khoác, trên chân còn lấm lem bùn đất. "Anh chui vào đây bằng cách nào vậy?” - Đường Phong cũng hạ giọng hỏi.

Hàn Giang liếc nhìn phía cánh cửa sổ trong góc thư viện, chúm chúm miệng: “Có gì cản được tôi không hả?” "Chúc mừng anh, lại lần nữa vượt ngục thành công" “Cậu tưởng rằng chỉ dựa vào hội Triệu Vĩnh mà tóm được tôi sao?” - Hàn Giang vẫn rất tự tin.

“Vậy hơn nửa tháng nay anh đã làm gì vậy?” ‘Giống hệt cậu!”

“Giống hệt tôi? Cũng giam mình trong thư viện?” Hàn Giang vuốt vuốt lại tóc tai bù xù, đáp: “Những thứ này không thể tra được trong thư viện đâu!’’

“Nghe anh nói vậy là chắc chắn anh đã tìm thấy gì đó rồi phải không! Anh đã giải mã được những văn tự đó rồi sao?’" - Đường Phong vồn vã hỏi.

“Đó là nhiệm vụ của cậu!”

"Vậy thì anh đã điều tra ra ai ám hại anh rồi ư? Ai là nội gián?”

Hàn Giang lắc đầu: "Vấn đề này chúng ta có thể thảo luận vào lúc khác.”

"Hừm, vậy thì cả quãng thời gian đó anh tìm thấy gì vậy?”

Hàn Giang nhún vai: "Rất tiếc, trong thời gian đó tôi chỉ lo trốn chui trốn lủi!”- Đường Phong thât vọng nhìn Hàn Giang, nhưng Hàn Giang bỗng chuyến giọng “Nhưng...”

Anh dừng có mà nói chuyện bí hiếm như vậy được không hả?"

Hàn Giang quan sát xung quanh, thấy mọi nơi khỏng có người mới thì thào, nói: "‘Nhưng tôi vẫn có chút phát hiện nho nhỏ. Vì họ cho rằng tôi đã giết hại Tiểu Lô. vậy thì tôi cũng bắt đầu điều tra từ anh ta. Tôi đã âm thầm điều tra thân thế của Tiểu Lô, hóa ra trước khi làm việc trong phòng thí nghiệm cúa Trần Tứ Kiến, anh ta đã học ở Học viện y Kim Đại.”

“Sao cơ? Anh nói tới chỗ này sao?”

‘Không sai, xem ra thì cậu với anh ta còn là bạn học cùng trường đó!”

“Đợi đã, đợi đã!” - Đường Phong cảm giác như bị ai đó đấm mạnh vào đầu một cái, anh bỗng chốc suy nghĩ rối bời, “Đầu óc tôi có chút hỗn loạn, anh bảo rằng Tiểu Lô tốt nghiệp trường Kim Đại sao?”

“Đúng! Tốt nghiệp Học viện y xong, đáng nhẽ ra Tiểu Lô có cơ hội ra nước ngoài du học, hoặc vào bệnh viện lớn trở thành bác sỹ ngoại khoa giỏi, nhưng anh ta lại khiến mọi người bất ngờ khi trở thành trợ lý của Trần Tử Kiến.”

“Lẽ nào anh ta thay đổi đam mê ư...’’ - Đường Phong ngẫm nghĩ, “Nếu như Tiểu Lô có vấn đề, vậy thì Trần Tử Kiến cũng có vấn đề à?”

"Không! Không thể như vậy, tôi biết Trần Tử Kiến bao năm nay, anh ấy không thể có vấn đề được’" - Hàn Giang khẳng định.

“Hiện giờ thì có gì là không thể chứ!” - Đường Phong phản bác lại.

“Nhưng Trần Tử Kiến đã chết rồi!”

“Dĩ nhiên, Trần Tử Kiến có lẽ chẳng có vấn đề gì cả, anh ta chết là do đã phát hiện ra âm mưu của Tiểu Lô.”

“Âm mưu của Tiểu Lô ư?”

“ừm, Tiểu Lô chắc chắn là người của Tướng quân, anh ta đang triển khai một âm mưu nào đó. Nhưng sau này đã bị Trần Tử Kiến phát hiện, nên anh ta đã giết chết Trần Tử Kiến. Sau đó, khi tôi vừa mới nghĩ ra Tiểu Lô có vấn đề, thì anh ta lại bị người của Tướng quân giết người diệt khẩu, đồng thời còn ám hại cả anh, một mũi tên trúng hai đích, không thế nói là không cao tay.”

“Nhưng cho dù là Tiểu Lô hay Trần Tử Kiến, thì trước đó họ làm sao biết được là tôi muốn tìm họ để phục chế xương sọ của người đàn bà Đảng Hạng đó..- Hàn Giang chìm trong suy tư.

2

Đường Phong và Hàn Giang bước ra khỏi thư viện, trời hình như đã ngớt bớt mưa, trên đường đi cả hai đều im lặng, lặng lẽ bước đi. Hàng cây ngô đồng rậm rạp che kín ánh đèn đương, hai bóng người dài thượt lắc lư trên con đườne vắng vẻ.

Đột nhiên, Đường Phong quay ngoắt người lại, trong màn mưa giăng kín, ngoài ánh đèn đường ra, thì chẳng nhìn thấy gì cả. Hàn Giang cũng quay người lại, nghi ngờ nhìn về phía sau rồi lại nhìn Đường Phong hỏi: “Cậu nhìn cái gì vậy?”

Đường Phong cứ nhìn chàm chằm mãi về phía sau, phải một lúc anh mới cất giọng: “Thời gian này lôi luôn cảm thấy có đôi mắt cứ nhìn tôi chằm chặp... Không phải là anh chứ?”

“Tôi?! Không phải tôi đang dứng trước mặt cậu sao?” - Hàn Giang nói đầy vẻ vô tội.

“Có khi nào tôi bị người của Tướng quân theo dõi...”, Đường Phong lẩm bẩm.

“Đừng nghĩ lung tung nữa, ở đây lấy đâu ra người?” - Hàn Giang cảnh giác quan sát xung quanh. Dựa vào nhạy bén nghề nghiệp bao năm của mình, anh đoán ràng không có ai theo dõi họ cả, lúc này anh mới vỗ vào vai Đường Phong nói: “Tôi thấy mấy hôm nay cậu căng thẳng quá đấy nên mới nảy sinh ảo giác.”

“Có lẽ là vậy!”, Đường Phong không nói thêm gì nữa, hai người lại im lặng, đi mãi cho tới khi tới nhà của Đường Phong. Nơi ở của Đưòng Phong chất đầy sách, gần như không có chỗ cho Hàn Giang đứng. Đường Phong vội vàng thu dọn, cuối cùng cũng có được một chỗ cho Hàn Giang. Hàn Giang nhìn căn buồng chất đầy sách của Đường Phong bỗng buột miệng: “Ban nãy trên suốt đườns đi tôi nahẫm nshĩ mãi cũng chỉ có thế có một cách giải thích, Tiểu Lô ở bên cạnh Trần Tử Kiến, chẳc chắn là có mục đích gì đó”.

“Vậy thì phải xem Trần Tử Kiến làm gì đã. Ngoài nghiên cứu bộ xương mà chúng ta mang tới ra, thì trước đó Trần Tử Kiến nghiên cứu về lĩnh vực gì?”

“Cái này tôi cũng đã điều tra qua rồi, Trần Tử Kiến từ trước đến nay chuyên nghiên cứu về gen di truyền của người cổ đại.”

“Người cổ đại... gen di truyền? Đây quả là một lĩnh vực nghiên cứu rât đặc biệt, không phải ông ấy muốn người cổ sống lại đấy chứ?!” - Đường Phong buột miệng.

“Làm người cố đại sống lại?” - Câu nói của Đường Phong khiến Hàn Giang ngạc nhiên, “Có khi nào giống như trong phim không nhỉ, lấy ADN từ trên xương sọ của người cổ đại, sau đó khôi phục gen của họ?”

Đường Phong nhìn bộ dạng của Hàn Giang, thẫn thờ gật đầu: “Về nguyên lý mà nói thì là như vậy, nhưng về mặt kỹ thuật thì không đơn giản, chủ yếu là rất khó để lấy được ADN dùng được trên xương của cổ nhân, ngoài ra về mặt pháp lý và luân lý cũng không cho phép.”

“Lẽ nào Trần Tử Kiến và Tiểu Lô đang thực hiện ý đồ khôi phục lại ADN của người cổ đại?” - Hàn Giang lẩm bẩm.

“Nếu là như vậy thì quả là một thí nghiệm điên rồ!”

“Nhưng thí nghiệm đó thì có liên quan gì tới kệ tranh ngọc?”

“Liên quan, chắc chắn bên trong có gì đó liên quan! Đó có thể là một kế hóạch điên rồ của Tướng quân!”

“Không! Tôi có linh cảm việc này khône đơn giản như vậy, thí nghiệm của Trần Tử Kiến và Tiểu Lô có lẽ không điên rồ như chúng ta tưởna, nhưng âm mưu bên trong chắc chắn sẽ điên rồ hơn những gì chúng ta biết”, Hàn Giang suy đoán.

Đường Phong trầm neảm một hồi, nói tiếp: “Không, bất luận hội Tiểu Lô đang thực hiện nghiên cứu gì thì âm mưu bên trong chắc chắn không đơn giản như những gì hiện giờ chúng ta biết. Tôi đã từng hỏi qua Triệu Vĩnh về tình hình khám nghiệm tử thi của Tiểu Lô. Anh ấy nói rằng trên người Tiểu Lô không có hình xăm đó, lúc đó tôi đã đưa ra nghi vấn của mình, nhưng anh ấy không buồn bận tâm. Nếu như Tiểu Lô không phải là người của Tướng quân, vậy thì âm mưu bên trong còn phức tạp hơn.”

‘"ừm, giống như trước đây chúng ta từng phân tích, vẫn còn một thế lực mà chúng ta nhìn thấy là cũng dính dáng tới việc này.”

“Khả năng Tiểu Lô đã làm việc cho bọn chúng.”

“Được rồi, tạm thời không suy đoán nữa, nói về phát hiện của anh đi!”

“Tôi?!” - Đường Phong nhún nhún vai, “Tôi giam mình hơn nửa tháng trong thư viện nhưng chẳng thu hoạch đươc gì cả!” - Đường Phong thất vọng nói.

“Chẳng thu hoạch được gì cả? Thật sự hêt cách với những văn tự Tây Hạ đó rồi sao?”

“Hết cách rồi, đến giáo sư La cũng không giải mã được ý nghĩa của những văn tự Tây Hạ đó, huống hồ là tôi! Nhưng dựa vào những manh mối trước đây, tôi đoán ràng những chữ Tây Hạ mờ ảo phía sau kệ tranh ngọc rất có khả năng là một đoạn lời nguyền Tây Hạ cổ xưa”.

“Lời nguyền, những lời nguyền đó có tác dụng gì?”

“Hiện giờ vẫn chưa biết được. Tôi đã từng hỏi Triệu Vĩnh về máy tính của Tiểu Lô, hy vọng có thể tìm thấy bài luận văn trong đó. Nhưng Triệu Vĩnh nói rằng họ đã kiểm tra rất kỹ trong máy tính của Tiếu Lô nhưng bên trong lại không có bài luận văn mà tôi đã từng trông thấy.”

“Theo như cậu nói thì Tiểu Lô và Tymoshenko lúc còn sốna hình như đều nghiên cúm về lời nguyền Tây Hạ?”

“Nhưng chắc là họ không hề hay biết về những dòne chữ Tâv Hạ phía sau kệ tranh ngọc!”

“Điều này không quan trọng nữa rồi vì kệ tranh ngọc đã bị mất. e ràng Tướng quân đã biết được bí mật của kệ tranh ngọc, thời gian của chúng ta không còn nhiều đâu!” - Hàn Giang ngập ngừng rồi lại nói: “Lần này tôi tới chỗ cậu là muốn tìm cậu cùng đi kiếm tìm Hạn Hải Mật Thành trong truyền thuyết đó.”

“Chỉ dựa vào hai chúng ta?” - Đường Phong do dự. “Đúng! Hai chúng ta, chúng ta có bản đồ, vậy tại sao khôns thử xem? Hơn nữa, để gột rửa nỗi oan của tôi thì cũng cần phải tìm thấy Hạn Hải Mật Thành. Ngoài ra, vẫn còn một việc, đó là phải điều tra về quá khứ của Tiểu Lô thử xem có thế tìm thấy chút manh mối gi không!” - Hàn Giang đứng dậy, nhìn màn mưa đêm ngoài cửa sổ tối đen.

“Vậy... vậy thì chỉ có cách là đi tìm kiếm hồ sơ trước đây của Tiểu Lô ở trường thôi. Ngày mai tôi đưa anh tới phòng hồ sơ của trường xem sao, may mà tôi lại thân quen với thầy Châu ở đó.”

Hàn Giang im lặng, chỉ khẽ gật đầu.

3

Sáng hôm sau, trời đã tạnh mưa, Đường Phong dẫn Hàn Giang tới phòng hồ sơ trong trường. Thầy Châu tiếp đón họ, Đường Phong nhanh chóng tìm thấy tên của Tiểu Lô trong biển hồ sơ đồ sộ - Lô Xuân, nam, ngành lâm sàng học viện Y... Đường Phong quay nhìn Hàn Giang, rồi thì thầm: “Giống hệt như anh đã điều tra”

Hàn Giang không nói gì cả, mắt dán vào bản đăng kí của học sinh trước mặt, nhìn từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. "Nhìn gì vậy?” - Đường Phong hỏi.

“Cậu nhìn chô này đi!” - Hàn Giang chỉ vào dòng chú thích ở cột dưới cùng, chậm rãi đọc: “Sinh viên này mất tích trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2002 đến tháng 10 năm 2002, thông qua quyết định của Hội đồng nhà trường, không xử lý vi phạm bỏ học.”

“ồ! Còn cả chuyện này nữa!” - Đường Phong quay lại hỏi thầy Châu: “Trong trường chúng ta còn có cả sinh viên mất tích sao?”

Thầy Châu thân hình phốp pháp, ngẫm nghĩ một lúc rồi lớn tiếng nói: “Tôi nhớ ra sinh viên này rồi, chuyện lúc đó đúng là như vậy, học viện Y có một nam sinh mất tích hơn nửa năm, gia đình, nhà trường và cả cảnh sát tìm kiểm hơn nửa năm, sống không thấy người, chết không thấy xác. Nhưng đúng vào lúc mọi người đều cho rằng cậu nhóc đó lành ít dữ nhiều, thì cậu ta lại tự động quay về trường.”

“Sao bao năm vậy rồi mà bác vẫn nhớ kĩ vậy?”

“Chuyện này hồi đó gây chấn động cả trường, cũng là chuyện hết sức ly kỳ!”

“Sao cháu không nhớ nhỉ...” - Đường Phong cố gắng nghĩ lại, trong đầu hình như cũng có chút ấn tượng nào đó.

“Người khác không nhớ cũng là chuyện thường, nhưng tôi thì lại rất nhớ. bởi vì hồi đó cảnh sát đã mấy lần tới chỗ tôi để kiểm tra hồ sơ của cậu ta..

Hàn Giang ngắt lời thầy Châu, anh hỏi: “Vậy sau đó thế nào?”

“Sau đó? Sau khi cậu ta trở về bất luận mọi người hỏi thế nào thì cậu ta cũng không nói đã đi đâu trong hơn nửa năm đó, cũng không nói tại sao lại rời khỏi trường lâu như vậy.”

“Vậy bác có biết không?” - Hàn Giang hỏi.

“Hài! Chẳng cần nghĩ cũng biết, còn có nguyên nhân nào nữa, tuổi trẻ nông nổi, chắc chắn là thất tình, hoặc vì cô gái nào đó mà bỏ đi đâu mất hơn nửa năm!”

“Đây là do bác đoán hay là thật vậy?” - Hàn Giang dường như tìm lại cảm giác điều tra vụ án trước đây.

“Đương nhiên là thật rồi!” - thầy Châu nói vẻ rất chăc chăn.

“Không phải bác nói rằng sau khi trở về Lô Xuân không chịu nói gì cả sao?”

“Thế mới nói cảnh sát nhiều chiêu, là tôi nghe cảnh sát phụ trách vụ án này nói vậy khi họ hỏi cậu Lô Xuân đó. Ban đầu cậu ta cũng không nói, nhưng rốt cuộc cũng không thoát được sự thẩm vấn của cảnh sát, nên cậu ta vẫn rả rích khai. Hóa ra năm thứ hai đại học, Lô Xuân quen một cô bạn gái học khác trường, sau đó không hiểu có chuyện gì mà cô ta lại lặng lẽ bỏ đi. Lô Xuân giống như trúng tà vậy, nghe nói cậu ta còn về tận quê của cô này, chuyện sau đó tôi cũng không rõ lắm.”

Hàn Giang lại cẩn thận hỏi về tình hình của Lô Xuân, tới khi không hỏi thêm được gì nữa anh mới đứng dậy cáo từ.

4

Ra khỏi phòng hồ sơ, Đường Phong liền hỏi Hàn Giang: “Anh có thấy việc Tiểu Lô mất tích liên quan gì tới việc hiện giờ của chúng ta không?”

‘‘Không đươc bỏ qua bất cứ manh mối nào, sư mất tích của Tiêu Lô rât khả nghi.”

“Vì một cô gái. Cô gái này là ai nhỉ?

“Đừng nghĩ nữa, dựa vào manh mối hiện giờ chúng ta có được, thì không thể hiếu được những bí mật ẩn giấu phía sau Lô Xuân đâu. Anh ta mai phục bên cạnh Trần Tử Kiến, chắc chắn cũng phải có mục đích. Vậy mục đích của anh ta là gì? Anh ta làm việc cho ai?”

"Trong nước, Trần Tư Kiến rất có tiếng tăm trong ngành nghiên cứu nhân chủng học, tôi thấy Tiếu Lô tìm tới ông chỉ có the là vì liên quan tới những bộ xương của người cổ đại. Như vậy cũng dễ giải thích cho việc tại sao xương sọ của hoàng hậu Một Tạng lại bị mất.” - Đường Phong nhận định.

“Chỉ có điều trước khi sự việc xảy ra, họ không hề biết tôi lại đưa xương sọ của hoàng hậu Một Tạng cho Trần Tử Kiến... Thôi, không nghĩ nữa, chúng ta hãy nhanh chóng chuẩn bị tới sa mạc Badain Jaran.”

Mất đi sự chuẩn bị của một tổ chức hùne mạnh, nên mọi việc đều do hai người tự làm, Đường Phong và Hàn Giang chia nhau chuấn bị những trang bị cần thiết để tiến vào sa mạc Badain Jaran, đến khi trời tối, cả hai mới quay về chồ ở của Đường Phong.

Khi bước ra khỏi thang máy, Đường Phong móc chìa khóa, Hàn Giane kéo đồ đạc nặng trịch theo sau. Đúng lúc này, Đường Phong bỗng cảm thấy có một luồng gió lạnh ập tới sau lưng. Đường Phong có cám giác không ổn, anh định né sang một bên nhưng đã không kịp, nên cảm thấy vai mình bị vỗ bốp một cái, rồi anh đã định thần lại, cái vỗ không mạnh lắm. là ai vậy? Hàn Giang?

Đúng lúc Dường Phong quay người lại, anh liền nghe thấy tiếng cười quen thuộc, là Lương Viện!

"Cuối cùng cũng tìm được anh rồi!” - Lương Viện tươi cười.

"Sao em lại tới đây?”

"Hình như anh không chào đón em thì phải?”

"Không phải, chủ yếu là do ở chỗ anh không an toàn."

""Không an toàn? Có gì nguy hiểm ư?”

"Em xem! Sau lưng em đang có một tội phạm bị truy nã - Đường Phong dọa Lương Viện một chút.

Quả nhiên Lương Viện bị Đường Phong dọa cho giật bắn mình, cô vừa quay đầu lại thì thấy một "tòa tháp" đen sì đang đứng sững sững trước mắt, mặt đanh lại nhìn cô. Lúc này cô mới nhận ra đó là Hàn Giang. Nhưng Lương Viện trấn tĩnh ngay lại, "‘Đừng dọa em! Chuyện của bọn anh em biết từ lâu rồi”.

“ồ! Cô nghe thấy gì vậy?” - Hàn Giang cảm thấy hứng thú.

"Đầu tiên là biết việc bọn anh giấu em tới núi Hạ Lan, sau đó tới chuyện đội trường Hàn của các anh xảy ra chuyện, tiếp theo thì bọn anh giải tán, tất cả kệ tranh ngọc cũng bị mất sạch.”

"Nguồn tin cua em cũng chính xác đấy!”

"Em hỏi từ chỗ Triệu Vĩnh mà!” - Lương Viện cười nói.

“Anh ta nói hết với em dễ dàng vậy sao?”

“Tất nhiên không có chuyện đó. Nhưng em có cách khiến anh ta phải ngoan ngoãn nói ra!” - Mặt Lương

Viện đầy vẻ đắc ý.

“Ồ! Cô tra tấn anh ra ư?” - Hàn Giang cười.

“Khỏi cần tra tấn, các anh vân còn nợ nhà em một kệ tranh ngọc đấy!”

“Ừ cũng đúng, nắm được điểm yếu của người ta, ban đâu tôi còn hứa với cô và cha cô, không ngờ lại như ngày hôm nay...”

“Thôi, anh không phải tự trách nữa, em vừa nghe Triệu Vĩnh nói là anh lấy cắp kệ tranh ngọc liền lập tức nhảy lên. Em không bao giờ tin là anh đã lấy cắp kệ tranh ngọc, nhưng... nhưng tất cả những gì chúng ta làm đều đổ xuống sông xuống biển hết cả rồi!” - Lương Viện vừa nói vừa an ủi Hàn Giang.

Hàn Giang nghe Lương Viện nói xong, thì rất cảm động, vỗ vỗ vai cô: "Van may là sự việc không đến nỗi quá tệ, chúng ta vẫn còn những bức ảnh mà Đường Phong chụp được. Tôi và Đường Phong đang chuân bị tới sa mạc Badain Jaran tìm kiếm thành cổ mất tích đó.”

“Chỉ dựa vào hai người? Và thêm mấy bức ảnh?” - Lương Viện lắc đầu hỏi lại.

“Nhưng hiện giờ bọn tôi chỉ có vậy, không còn sự lựa chọn nào khác!” - Hàn Giang nói.

“Hi hi! Bởi vậy mà em đến giúp các anh đây!”.

Lương Viện cố ý cười bí hiểm với Hàn Giang.

“Giúp bọn anh? Em giúp được gì bọn anh?” - mặt Đưởng Phong tỏ vẻ khó hiểu.

"Đừng dài dòng nữa, mau mở cửa đi, ở đây tai vách mạch rừng, thiên cơ không thể tiêt lộ!" - Lương Viện càng lúc càng tỏ ra bí hiểm.

5

Ba người vào trong nhà, Đường Phong cười nhạt, hỏi Lương Viện: “Thôi đi, đại tiểu thư, có gì nói mau ra, bọn anh còn bận đây này.”

"Anh thái độ gì vậy, em từ ngàn dặm xa xôi tới đây tìm anh, anh cũng phải để em nghỉ ngơi một lúc đã chứ, mau rót cho em cốc trà đi!” - Lương Viện khẽ trách mắng Đường Phong.

Đường Phong không nhúc nhích, anh nhìn sang Hàn Giang, nhưng ngược lại Hàn Giang lại hứng thú với câu chuyện của Lương Viện, nên càu nhàu Đường Phong. Đường Phong đành phái miễn cường bưng trà lên cho Lương Viện rồi cố rặn ra nụ cười: “Đại tiểu thư, có cần bóp chân cho cô không?’’

Lương Viện lườm Đường Phong: "Cái này ấy à, thôi khỏi. Chúng ta nói chuyện chính đi. Đúng là em tới giúp bọn anh đó. Hơn nửa tháng trước, trong lúc thu dọn di vật của ông nội trong kho, em đã phát hiện thấy một cuốn nhật ký.”

“Nhật ký!” - cả Đường Phong và Hàn Giang đều tròn xoe mắt, họ trông thấy Lương Viện lấy từ trong

túi ra một cuốn sổ bìa da màu đỏ sậm, thoạt nhìn đã thấy vẻ cũ kĩ của nó.

Đường Phong đưa tay ra định cầm lấy cuốn sổ nhưng Lương Viện giật ngay lại. Cô nói: “Muốn đọc cuốn số này thì phải hứa với em một việc trước đã!”

“Em còn ra điều kiện nữa ư? Việc gì?" - Đường Phong chau mày.

Em muốn cùng các anh đi tìm kiếm tòa thành cổ Tây Hạ đó!”

“Không được! vốn dĩ bọn anh đã đủ phiền phức rồi, em đừng gây thêm phiền phức cho bọn anh nữa!” - Đường Phong quả quyết từ chối yêu cầu của Lương Viện. Nhưng khi anh nhìn Lương Viện, lại thấy mềm lòng, liền nói: "‘ở đó rất nguy hiểm, còn nguy hiểm hơn mọi thứ chúng ta gặp trước đây. Hơn nữa, em xem tình hình của chúng ta hiện giờ, lão K giải tán rồi, thế lực của chúng ta hiện giờ rất mỏng, anh sợ em đi sẽ gặp nguy hiểm.”

“Cứ cho là anh có lòng đi, nhưng chính vì thế lực hiện giờ của chúng ta mỏng nên mới càng cần tới em. Anh yên tâm, em không liên lụy đến các anh đâu!” - Lương Viện thề thốt.

“Điều này..- Đường Phong nhìn cuốn sổ trên tay Lương Viện, chần chừ một lúc, sau đó gật gật đầu, “Thôi được, anh đồng ý!”

Đường Phong vừa nói, vừa nhân lúc Lương Viện lơ đãng giật ngay lấy cuốn sô trong tay cô, vội vàng lật nó ra. Lương Viện nhanh nhảu xác nhận lại “Vậy chúng ta hứa với nhau rồi đấy nhé. nói lời giữ lấy lời.”

Ai ngờ, Đường Phong vừa lật cuốn sổ, vừa nói: "Lời anh nói đâu có trọng lượng đâu. Chuyện của lão K chúng ta đều do Hàn Giang quyết.”

Nghe Đường Phong nói vậy. Lương Viện tức điên người: “Sao... sao anh lại không giừ lời như vậy?”

“Vì anh chỉ muốn tốt cho em!” - Đường Phong không buồn ngang đầu. Anh vội vàng đọc cuốn nhật ký cùa Lương Vân Kiệt.

Lương Viện bực tới nỗi không thốt nên lời, nhưng cô lại lục tìm thứ gì đó trong ba lô rồi trấn tĩnh ngay lại, vì biết chắc rằng tiếp theo sẽ đến lượt Đường Phong không yên thân. Đường Phong vội vàng đọc hết cuốn nhật ký của Lương Vân Kiệt và phát hiện thấy đây là cuốn nhật ký viết từ năm 1974 đến năm 1978, nhưng anh không phát hiện thấy bất cứ tin tức có giá trị nào đối với mình. Anh ngẩng đầu nhìn thẳng vào Lương Viện, mặt cô hiện lên vẻ đắc ý. “Lẽ nào mình bị cô nhóc này lừa ư?” - Đường Phong vừa nghĩ vừa tiếp tục đọc nội dung trong cuốn sổ, nhưng vần không phát hiện thấy manh mối có giá trị, anh đưa cuốn nhật ký cho Hàn Giang, rồi cuối cùng không nhịn được nữa, anh hỏi Lương Viện: "Sao chăng có gì giá trị trong cuốn nhật ký của ông nội em cả?”

Lương Viện cười: "Em đâu có nói trong cuôn nhật ký có gì, tại anh vừa trông thấy em cầm nó là cướp ngay đấy chứ!”

"Vậy em phát hiện thấy gì?”

“Em phát hiện thấy một bức thư trong cuốn nhật ký này của ông nội.”

“Một bức thư?’" - Đường Phong và Hàn Giang đều ngạc nhiên.

Lương Viện đủng đỉnh lấy bức thư ra, đưa qua đưa lại: “Lần này còn lâu em mới bị anh lừa, em mặc kệ hai anh, ai làm chủ cũng phải đồng ý với em trước đã, cho em cùng đi tìm kiếm Hạn Hải Mật Thành.”

Đường Phong và Hàn Giang thật sự bó tay với Lương Viện. Hàn Giang bị lung lay trước: “Hay là đưa Lương Viện đi cùng, lần này chúng ta không bằng trước đây, nhân lực ít, thêm một người sẽ thêm lực lượng!”

Đườne Phong ngán ngẩm lắc đầu, đành phải đồng ý. Lúc này Lương Viện mới buông tay, Đường Phong đón lấy bức thư. Phong bì thư đã ngả vàng, trông hình thức giống phong bì kiểu Tây, ngoài phong bì có viết vài dòng chữ nước ngoài, đồng thời có kèm cả chữ Hán phồn thể. Đường Phong nhanh chóng nhận ra những chữ này là tiếng Nga. Không kịp nghĩ ngợi lâu, Đường Phong tức tốc mở phong bì, rút bức thư ra, trong thư toàn những chữ tiếng Nga viết theo thể thư pháp đẹp đẽ, tổng cộng có ba trang giấy, ở giữa có kèm theo vài bức tranh đơn giản được vẽ bằng bút mực, khi Đường Phong đọc lướt qua bức thư, anh vô cùng kinh ngạc.

6

Hàn Giang nhìn bộ dạng kinh ngạc của Đường Phong, liền quay sang hói Lương Viện: "Trong thư nói gì vậy?"

Lương Viện so so vai: "Em không biết tiếng Nga, nội dung cụ thế em cũng không biết, thông qua phong bì và chữ ký trong thư, em nhận ra đây là bức thư ngài Misha viết cho ông nội, bởi vậy biết rằng chắc chắn nó sẽ giúp ích cho các anh.”

“Đúng là thư Misha viết cho ông Lương Vân Kiệt?” - Hàn Giang lại quay ra hỏi Đường Phong.

Đường Phong gật đầu: “Đúng vậy. hơn nữa bức thư này rất quan trọng, tôi mới đọc qua một lượt. Đây là bức thư Misha viết cho ông Lương Vân Kiệt vào những năm 60 của thế kỷ XX. Trong thư kể qua về những gì Misha trải qua sau khi đội thám hiểm xảy ra chuyện."’

“Ồ! Đây chính là điều mà chúng ta hứng thú nhất” - giọng Hàn Giang không giấu được vui mừng.

Đường Phong lại đọc lại bức thư trên tay thêm lần nữa, sau đó tường tận giới thiệu: “Bức thư này có thể chia thành ba phần. Phần thứ nhất là Misha kể lại qua về tình hình của ông mấy năm qua với ông Lương, đồng thời giải thích tại sao viết bức thư này. ông cảm thấy nên nói hết những việc mà mình biết, nếu không trong lòng sẽ bất an, nghĩ đi nghĩ lại, ông chỉ có thể kể với ông Lương.”

“Xem ra Misha vẫn còn có những bí mật, những hí mật mà đến cả KGB cũng không biết!” - Hàn Giang lẩm bẩm.

Đườne Phong đang định tiếp tục dịch bức thư nhưng Hàn Giang bỗng đột ngột ngắt lời anh: “Đợi đã, Đường Phong, ban nãy cậu nói bức thư này được gửi vào năm nào vậy?”

“Năm sáu... sáu mấy gì đấy!” - Đường Phong không hiểu tại sao Hàn Giang lại hỏi câu này.

“Cụ thể là năm nào?” - Hàn Giang truy hỏi.

Đường Phong lật trang cuối GÙng lên, đoạn kết Mishaviết là ngày 12 tháng 12 năm 1964. Đườne Phong lại cầm phong bì lên xem, trên đó là một dòng chừ tiếng Nga được viết nắn nót “Leningrad 13.12.1964”.

“Năm 1964?” - Hàn Giang và Đường Phong đều kinh ngạc, hóa ra lại là năm 1964 đó! Hàn Giang giật ngav bức thư trong tay Hàn Giang, lật qua lật lại, xem kĩ từng chồ một. Đột nhiên, Hàn Giang kêu lên: "Đường Phong, cậu có để ý thấy trên bức thư này chí có dấu tem của nơi gửi Leningrad, mà không có dấu tem của Bắc Kinh, nơi gửi đến không?’’

"Á..- Đường Phong ngớ người ra.

“Việc đó nói lên điều gì?” - Lương Viện cũng có vẻ không hiểu.

“Điều đó cho thấy vào neày 13 tháng 12 năm 1964.

Misha đã tới bưu điện Leningrad để gửi bức thư này, nhưng bức thư này lại không gửi tới Bắc Kinh!” - Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

“Sao... sao lại thế được? Vậy thì ông nội tôi nhận bức thư này kiểu gì?” - Lương Viện không thế tin vào điều dó.

""Đúng vậy! Neu như thư không gửi tới Bắc Kinh, vậy thì ông Lương làm sao nhận được bức thư này?” - Đường Phong lắc đầu hỏi lại.

"Đường Phong, lẽ nào cậu quên rồi sao? Năm 1964, Misha đang nằm trong vòng kiểm soát gắt Rao của KGB. Lúc đó ông ấy có thể được tự do gửi thư từ như vậy không?” - Hàn Giang nói tới đây, liền chỉ lên nắp phong bì ở mặt sau: "Nhìn xem đây là cái gì?”

Đường Phong đón lấy bức thư, lúc này anh mới đê ý thấy trên nắp đóng phong bì xuất hiện một con dấu hình chữ nhật, màu đỏ. Tuy đã bao năm tháng trôi đi, con dấu này đã bị mờ đôi chút, nhưng vẫn có thể nhận ra ngay dòng chữ tiếng Nga trên đó: không được phép.

7

Đường Phong thần thờ nhìn con dấu màu đỏ này, "Không được phép... nghĩa là gì?” - Đường Phong hỏi Hàn Giang.

“Thế mà cũng không hiểu, nó cho thấy tuy Misha đã tới bưu điện gửi bức thư này đi, nhưng nó đã nhanh chóng bị KGB lấy lại. Sau đó đóng cái dấu "không được phép’ này lên!" - Hàn Giang giải thích.

“Vậy sau đó thì sao?” - Đường Phong truy hỏi.

“Sau đó nào?” - Hàn Giang hỏi lại.

“Sau đó bức thư này thế nào?”

“Sau đó chắc chấn bức thư này bị KGB tịch thu, còn tại sao nó lại rơi vào tay Lương Vân Kiệt thì chi có trời mới biết được!" - Hàn Giang ngửa hai tay ra tó vẻ bất lực.

“Em tưởng sẽ giúp bọn anh giải mã được bí mật, nào ngờ lại đem tới cho bọn anh thêm một bí mật nữa!” - Lương Viện thất vọng nói.

“Không! Lương Viện, bức thư cô mang đến này đối với bọn tôi rất quan trọng. Tạm thời không nói tới nội dung của bức thư, chỉ nói về cái ‘không cho phép này đã mang tới cho bọn tôi chút manh mối rồi!” Hàn Giang hình như đã lần ra chút manh mối nào đó: “Từ phong bì thư cho thấy, không có dấu bưu điện Bắc Kinh tức là ông nội cô chắc chắn không nhận bức thư này qua đường bưu điện thông thường. Vậy thì, bất luận là sau đó ông Lương nhận được bức thư này vào lúc nào. chúng ta đều có thể suy luận ra hai khả năng: Một là, ông Lương và phía Liên Xô có mối liên hệ nào đó mà chúng ta không biết; hai là, có vấn đề xảy ra trong nội bộ KGB. Theo như tôi phân tích, khả năng thứ nhất không lớn lắm, ông Lương không thể có mối quan hệ nào với Liên Xô, đặc biệt là vào những năm đó, vậy thì, khả năng thứ hai là lớn hơn, nhưng …”

“Nhưng chúng ta lại gặp phải năm 1964 chết tiệt đó!" - Dường Phong nói tiếp câu của Hàn Giang.

“Đúng vậy, nếu không phải là năm 1964 thì chúng ta hoàn toàn có thể thông qua Yelena tra cứu hồ sơ về Misha trong KGB đế tìm ra đường đi cuối cùng của bức thư này. Như vậy cũng có thể làm sáng tỏ tại sao cuối cùng nó lại nằm trong tay cùa ông Lương” - giọng Hàn Giang có chút buồn bã.

“Biết đâu... biết đâu ông em hoàn toàn vô tình có được bức thư này!” - Lương Viện suy đoán.

“Vô tình? Không, đây là việc không thể xảy rạ!” - Đường Phong lắc đầu nói.

“Năm 1964, KGB bên đó xảy ra chuyện gì thì chúng ta không biết, nhưng chúng ta có thể suy đoán tung tích của bức thư này từ những gì Lương Vân Kiệt gặp phải trong nước. Những gì ông Lương gặp phải sau khi từ đội thám hiểm trở về. trước đây chúng ta đều đã biết. Thử nghĩ một chút, giả dụ ông Lương có được bức thư này vào năm 1964, thì sau đó lẽ nào ông đã mang theo cả nó vượt biên tới Hồng Kông?”

“Ý anh là sau này ông Lương mới có được bức thư?” - Đường Phong hiều ngay ý Hàn Giang.

“Ừm, tôi nghĩ vậy, còn về chuyện sau này làm sao ông Lương có được bức thư thì chỉ có cách phải làm sáng tỏ về năm 1964 đó. Tôi nghĩ, bên trona chắc chắn có vấn đề, vấn đề đều nằm trong năm 1964. Thậm chí tôi 28 I suy đoán rằng, rất có khả năng Misha cũng viết thư cho Lương Vân Kiệt, cũng có khả năng viêt cho cả Makarov. Tóm lại những bức thư đó sau này đều bị KGB tịch thu, có bức thư này không hiều vì lý do gì mà lại rơi vào tay ông Lương!” - Hàn Giang nói.

“Vì nội dung bức thư này rất quan trọng, hay là thúng ta đọc nó đi, ban nãy tôi mới nói được một phần trong bức thư này, quan trọng là phần thứ hai. Misha kế lại cho ông Lưưng chút tình hình của đội thám hiếm năm đó, đặc biệt là mấy ngày trước khi đội thám hiểm xay ra chuyện. Điều này rất quan trọng đối với chúng ta, tuy Misha kế rất ngắn gọn, hơn nữa ông cũng nói răng rất nhiều chuyện cũ ông không thể nhớ lại được, nhưng chúng ta đã có tấm bản đồ phía sau kệ tranh ngọc, cộng thêm bức thư của Misha nên hiện giờ chúng ta đang đến rất gần với tòa thành cổ Tây Hạ bí ẩn đó rồi!” - Đường Phong càng nói càng phấn khích.

“Đợi đã, ban nãy cậu nói ‘không nhớ hết được" nghĩa là sao?” - Hàn Giang hòi.

“Ồ! Cái này thì phải nói tới phần thứ ba của bức thư, ở cuối bức thư Misha có nhắc tới một loạt nghi vân, ông ấy viết thế này..- vừa nói, Đường Phong vừa dịch từng chữ, từng câu một trong đoạn cuối cùng của bức thư của Misha.
 

hoahongden12

Active Member

Tôi còn nhớ như in là mình đã đẩy cánh cổng đó, nhưng không thể nhớ được mình đã tới trước cánh cổng đó bằng cách nào. Sau đó, chuyện gì xay ra bên trong tôi cũng không nhớ nữa. Cứ như thế trí óc tôi không đủ chỗ để chứa chuyện đó vậy...

1



Lương, tôi chỉ cỏ thể hồi tương tới đây, sau trận bão cát, tôi cũng không biết mình đang ớ đâu, trước mặt tôi xuất hiện một cánh cổng cao lớn chưa từng thấy. Sau khi tôi vô tình đây cánh cửa đó ra, cảnh tượng trước mắt giống như trong một thế giới khác, sau đó xảv ra chuyện gì tôi đều không nhớ. Hiện giờ những gì tôi có thể nhớ được, đều là những chuyên ở sa mạc. Tôi cũng không biết mình đã đi được bao xa, vừa đói vừa mệt, rồi ông được một mục dân cứu giúp, ông ta cho tôi ăn. Tôi bắt đầu trở nên đa nghi, tối hôm đó, tôi ra đi không một lời từ biệt, rời khỏi căn lều của người mục dân Mông cổ đó, bắt đầu cuộc sống lưu lạc đằng đẵng. Tôi cũng không hiên mình bị làm sao, tôi không dám nói chuyện với ai, không dám tiếp xúc với ai, cũng không dám đi tìm cảnh sát, cả chặng đường tôi tồn tại nhờ việc ăn xin, cuối cùng tôi cũng về được Mátxcơva.



“Xem ra suy đoán của chúng ta trước đây hoàn toàn chính xác, Misha chính là người gần nhất với những bí mật!” - Hàn Giang chưa kịp đại Đường Phong đọc xong dã nói chen vào.

“Đúng vậy! Đoạn thư này vừa vặn bổ sung cho khoảng trống kể từ khi đội thám hiếm xảy ra chuyện cho tới khi Misha được người ta tìm thấy. Điều đó cho thấy quả thực Misha đã tìm thấy một tòa thành cổ trong sa mạc, tuy ông không nói tòa thành cổ đó tên là gì, nhưng tôi nghĩ đó chắc chắn là Hạn Hải Mật Thành mà chúng ta ngày đêm nghĩ tới!” – Đường Phong suy đoán.

Hàn Giang gật gù: “Không sai. Misha nhắc tới "mở cánh cổng đó ra’, tôi nghĩ đó chính là cổng của Hạn Hải Mật Thành, nhưng..- Hàn Giang ngập ngừng, “Nhưng tình hình phía sau cánh cổng ông chỉ dùng một câu duy nhất ‘cảnh tượng trước mắt như là một thế giới khác để miêu tả sơ qua, rồi nói rằng ông không nhớ gì chuyện sau đó nữa”.

"Không, tôi lại không nghĩ rằng đó là miêu tả qua loa, một câu ‘cảnh tượng trước mắt giống như là một thế giới khác" đã nói lên tất cả. Cảnh tượng ở Hạn Hải Mật Thành chắc chắn khiến ông ấy khó miêu tả được bàng lời!” - Đường Phong nói.

Lương Viện đột nhiên nói chen vào: “Còn em thì đang nghi ngờ rốt cuộc Misha thật sự không còn nhớ chuyện sau đó. hay thực chất ông ấy không tìm thấy Hạn Hải Mật Thành, nếu như quả thật ông ấy đã tìm thấy Hạn Hái Mật Thành thì tại sao lại không nhớ gì cả?”

Câu nói của Lương Viện như gáo nước lạnh giội xuống đầu Hàn Giang và Đường Phong. “Đúng vậy! Chúng ta tốn bao nhiêu công sức mà vẫn chưa tìm thấy tòa thành cổ Tây Hạ đó. Năm đó sau cơn bão cát, sao Misha lại dễ dàng tìm thấy Hạn Hải Mật Thành như vậy?” - Hàn Giang chau mày.

"Trong thư Misha không kể tường tận về việc ông ây làm thế nào để tới trước cánh cổng đó, có thể là ông ấy không còn nhớ rõ thật!" - Đường Phong vẫn giữ nguyên quan điểm về suy luận của mình.

"Tóm lại đoạn ghi chép này kỳ bí quá, dù gì cũng kê lại chuyện năm đó với ông nội em rồi, vậy tại sao không kể tường tận? Là do Misha không nhớ thật, hay là do vốn dĩ ông ấy không tim thấy Hạn Hai Mật Thành, và đó chỉ là những ảo giác của ông ấy?” - Lương Viện nói.

“Ảo giác?’" - Hàn Giang ngẫm nahĩ, ‘"Nói tới trí nhớ thì bức thư này viết năm 1964, về lý mà nói thì hồi tưởng lại chuyện cách đó vài năm chẳng có vấn đề gì cả. Neu như nói rằng trí nhớ của Misha có vấn đề, vậy thì chỉ có thể giải thích rằng đó là do não của ông bị tấn công bởi một sức mạnh nào đó.”

"Được rồi, đừng đoán nữa, thư tôi còn chưa đọc hết, do hoang tưởng hay là do trí nhớ thì chắc Misha sẽ tự nói trong đoạn sau thôi!” - Đường Phong lại tiếp tục dịch bức thư của Misha...

2

… …

Lương, bây giờ nhớ lại, mọi chuyện lúc đỏ thật sự quá thần kỳ, tôi nhớ rõ là mình đã mở cánh cổng đó ra, nhưng hiện giờ lại không tài nào nhớ được thế giới trong đó. Sau khi đội thám hiểm xảy ra chuyện, làm thế nào mà tôi tới được trước cánh cổng đó, tôi cũng không nhớ nữa. Đầu óc tôi trống rỗng, chỉ có những mảng kí ức vụn vỡ không ngừng hiện lên trong mơ, chỉ... chỉ có điều tôi không thê ghép những mảnh vỡ đó lại, nhưng tôi đảm bảo rằng đó không phải là ảo giác, chắc chắn là vậy!

Tôi thường nghĩ rằng - Chúa ơi, lúc đó tôi đã đến trước cánh cổng đó bằng cách nào, và đã rời khỏi đó băng cách nào? Tôi đã suy đoán ra địa điểm nơi đoàn thám hiếm xảy ra chuyện, chắc chắn không xa nơi mà tôi đã phát hiện ra cánh cổng thần kỳ... có thể một hôm nào đó, sau khi ngủ dậy, tôi sẽ cỏ thê nhớ lại mọi chuyện, lúc đó sẽ lai viết thư cho anh.

Mong nhận được thư trả lời của anh. ngoài ra mong anh đừng tiết lộ nội dung trong bức thư này cho ai.



Đường Phong đọc xong bức thư. Căn phòng chìm trong im lặng, mãi lâu sau, Lương Viện mới hỏi: “Hết rồi ư?"

“Hết rồi!" - Đường Phong ưu tư gật đầu.

"Như vậy là hết sao?" - Lương Viện thắc mắc. "Lương Viện, trong những di vật của ông nội em, ngoài bức thư này ra em có phát hiện thấy thứ gì nữa không?” - Hàn Giang hỏi Lương Viện.

Lương Viện ngẫm nghĩ rồi lắc đầu nói: “‘Hết rồi, chỉ có bức thư này là em còn thấy có giá trị."

"Xem ra đến hết đời Misha vẫn không nhớ ra được những chuyện đó” - Hàn Giang lấm bẩm.

"Có thể ông ấy nghĩ ra rồi, còn viết cá thư cho ông Lương, nhưng lại bị KGB tịch thu!" - Đường Phong suy đoán.

"Không thế như vậy, nếu như sau đó Misha nhớ lại hết mọi chuyện, vậy tại sao Tymoshenko lại không biết?" - Hàn Giang hỏi lại.

"Ùm, Tymoshenko?” - Đường Phong ngầm nghĩ, "Như vậy xem ra sau đó Misha chắng nhớ lại được gì, nhưng đoạn thư đó khăng định địa điểm mất tích của đội thám hiếm rất gần với cánh cổng khổng lồ thần bí, điều này có khi lại có ích cho chúng ta.”

Nhưng Hàn Giang lại phủ định: “Tôi cảm thấy phần lớn là do cảm giác sai lầm của Misha, thử nghĩ mà xem, nếu như Misha phát hiện cánh cổng đó rất gần với địa điểm đội thám hiểm xảy ra chuvện. Vậy thì tại sao sau cơn bão cát, chỉ có mồi mình Misha tới được trước cánh cổng đó?”

“Đây chính là một vấn đề mới, trước đây, tình hình cuối cùng của đội thám hiểm đều do Makarov kế lại với chúng ta. Theo như những gì Makarov kể, vào đêm đội thám hiểm xảy ra chuyện, lúc ông và ông Lương quay irở lại nơi cắm trại, thì những người của đội thám hiểm đều không thấy đâu nữa. Như vậy có nghĩa là lúc đó Misha cũng đã cùng với đội thám hiểm rời khỏi doanh trại. Chỉ có điều chúng ta và lão Mã không biết rằng, lúc dó đội thám hiểm rời khỏi doanh trại là do đi tránh bão cát một cách có tổ chức hay do hoảng hốt mà tháo chạy tử phía?” - Đường Phong nói.

"Vấn đề này tôi cùng từng nghĩ tới. Tôi nghĩ với tô chất của đoàn thám hiếm thì không tới nỗi là do yêu tô lâm lý, hoảng hốt tháo chạy. Rất có khả năng họ rút lui một cách có tổ chức, bởi vậy khi lão Mã và Lương Vân Kiệt quay trở lại căn cứ mới không trông thấy ai cá." - Hàn Giang suy đoán.

“Nhưng họ đi đâu nhỉ? Tại sao cuôi cùng chỉ có Misha là tới trước cánh cổng khổng lồ đó?” - Lương Viện hỏi.

"Tôi nghĩ răne sau khi đội thám hiêm di tản khỏi doanh trại, chắc chắn là họ đã gặp phải sự tấn công đáng sợ nào đó, chính lần tấn công này đã giáng một đòn chí mạng xuống đội thám hiểm." - Hàn Giang tiếp tục suy đoán.

"Một đòn chí mạng? vẫn còn thứ gì đó tấn công đáng sợ hơn cả bão cát sao?” - Đường Phong không dám tin "Chắc chắn là như vậy, đòn chí mạng đó cuối cùng đã khiến đội thám hiểm suy sụp tinh thần, tôi đoán rằng ngoài Misha ra, những người khác trong đội thám hiểm đã gặp nạn trong đòn chí mạng đó. Bời vậy lúc đó mới không tìm thấy bất cứ thi thế của thành viên nào, nếu như họ bỏ chạv tán loạn, thì chắc chắc trong lúc tìm kiếm cứu nạn sẽ phải phát hiện thấy một vài di thể!" - Hàn Giang nói.

"Cũng có nghĩa là trong giây phút bị tấn công đó, đội thám hiếm đã không kịp phản ứng, vậy họ bị thứ gì tấn công nhỉ?” - Đường Phong nói.

"Ai mà biết được, tóm lại. Misha đã thoát được vụ đó. Nhưng rất có khả năng là đòn chí mạng đó đã khiến Misha bị mất trí tạm thời, đến nỗi ông không thể nhớ lại sự việc xáy ra sau đó.?’ - Hàn Giang lại tiếp tục suy đoán.

"Nhưng ông vẫn nhớ cánh cống khổng lồ đó, đồng thời còn kể rằng sau khi đẩy cánh cổng đó ra đã nhìn thấy cảnh tượng như ở trong thế giới khác!” - Lương Viện nói. "Điều này chỉ có thể nói lên rằng: cánh cổng khổng lồ và cảnh tượng; trong giây phút cánh cổng mở ra đã để lại ấn tượng sâu sắc với Misha, bởi vậy nó đã lóe lên trong đoạn kí ức ngắn ngủi đó của ông!” - Đường Phong tán thành.

“Ừm, chắc chắn là như vậy. Bởi vậy chúng, ta mới đọc được một bức thư với cách diên đạt lộn xộn như thế này!” - Hàn Giang nói tới đây, ngừng lại một lúc, đột nhiên, anh lại nói tiếp: "Tôi bỗng lóe lên một suy nghĩ, có khi nào trước khi chết ông Lương mới nhận được bức thư này không nhỉ?”

3

Nghe Hàn Giang nói vậy, mặt Đường Phong và Lương Viện đều thất sắc, nhưng Dường Phong hiểu ngay ra ý của Hàn Giang: “Nếu như vậy, tôi cũng nghĩ ra rồi, tại sao trước khi chết ông Lương lại vội vã tới tìm tôi, tại sao bắt buộc phải đoạt được kệ tranh ngọc. Rất có khả năng là do ông ấy nhận được bức thư này, bức thư này đã nhen nhóm trong ông hi vọng tìm kiếm thành cổ Tây Hạ, hóa giải nguyên nhân mất tích ly kỳ của đội thám hiểm"’.

“Nhưng em chưa từng nghe thấy ông nội nhắc tới hức thư này lúc còn sống?” - Lương Viện nói.

“Đó là bởi vì ông nội em không muốn em tham gia vào việc đáng sợ này!” - Đường Phong đáp.

“Bức thư được gửi đi năm 1964, mà mãi tới đầu thế kỷ XXI mới nhận được, điều... điều này có chút khó tin dấy!” - Lương Viện vẫn không chịu tin.

‘"Như vậy đã thêm một bước khăng định cho suy đoán trước đây của tôi, năm 1964, bức thư này không hề được gửi đi từ Leningrad. Dĩ nhiên ở đây sẽ lại xuất hiện hai khả năng: một là bức thư này bị KGB tịch thu, nếu như vậy thì bức thư đã được coi như hồ sơ bảo lưu tại Cục an ninh Liên bang ngày nay. Một khả năng khác là bức thư đã bị một nhóm người nào đó giữ lại, mọi người nghĩ mà xem, bọn họ có thể là ai?” - Hàn Giang nói tới đây liền nhìn nhìn Lương Viện, rồi lại nhìn sang Đường Phong.

Đườna Phong lập tức nghĩ ngay ra đáp án: “Phần lớn là người của Tướng quân, tôi nghi ngờ những đặc công đảm nhiệm việc bảo vệ cho Misha năm 1964 đều có vấn đề. Nếu họ không phải là người của Tướng quân thì Tướng quân sẽ là một trong những người họ.”

Hàn Giang gật gù, miệng lẩm bẩm: "Brainin, Isakov, Stechkin... Đúng! Khả năng họ đều là người của Tướng quân, mọi người có còn nhớ bộ hồ sơ liên quan tới Misha mà Yelena tìm được không? Trong đó thiếu đúng mấy trang của năm 1964. Nếu suy đoán của tôi là thật, thì rất có khả năng mấy trang đó bị chính Brainin xé mất. Cũng chỉ có ông ta sau năm 1988 mới có khả năng tiếp xúc được với những hồ sơ tuyệt mật trong Cục an ninh được cảnh giới nghiêm ngặt.”

"“Đúng vậy! Chúng ta nên nghĩ ra điều này sớm hơn. Hiện giờ chúng ta đã có thể khẳng định, Stechkin là người của Tướng quân. Brainin và Isakov cùng bị lộ tung tích rồi, vậy nếu chỉ cần giả dụ tất cả đặc công bảo vệ Misha năm 1964 đều có vấn đề, thì rất nhiều chuyện đã có thể giải thích. Nếu Brainin có vấn đề thì năm 1964, kể cả bức thư đó có rơi vào tay KGB đi chăng nữa, thì cuối cùng cũng bị Brainin đoạt được!” - Giọng Đường Phong có chút phấn khích.

"Nhưng lại có một vấn đề nảy sinh ở đây, bât luận năm đó bức thư này rơi vào tay Tướng quân hay là bị Hrainin đoạt được từ KGB, vậy tại sao họ phải gửi cho ông Lương? Phải biết là Tướng quân không muốn Lương Vân Kiệt tham dự vào chuyện này, bởi vậy tại cuộc đấu giá kệ tranh ngọc, Tướng quân mới cố tình gây khó dễ với Lương Vân Kiệt như vậy, ông ta căm hận Lương Vân Kiệt chẳng hết nữa là!” - Lông mày của Hàn Giang chau lại, nhíu vào nhau.

Đường Phong trầm ngâm một lúc, “Điều này rất dề giải thích, anh quên mất suv đoán của chúng ta sau khi từ núi Hạ Lan trở về sao? Chúng ta đoán rằng, trong cuộc bán đấu giá đó vẫn còn một thế lực bí ân, thế lực bí ẩn đó không muốn Tướng quân đoạt được kệ tranh ngọc thuận lợi như vậy. Nếu quả thực ông Lương nhận được bức thư trước khi cuộc bán đấu giá diễn ra, vậy thì rât có khả năng là do thế lực đó làm!”

“Nhưng tại sao thế lực bí ẩn đó lại không chịu lộ diện mà phải gửi bức thư cho ông Lương, cố ý kích thích Lương Vân Kiệt nhỉ?" - Hàn Giang phản bác lại.

“Thật đáng ghét, hóa ra là chính bức thư này đã hại chết ông nội em!” - Lương Viện kêu lên.

"Đúng rồi, lúc em phát hiện bức thư này, bên ngoài phong bì thư có còn cái phong bì nào khác không?"’ - Đường Phong hói Lương Viện.

“Không có, em đã nói rồi, bức thư này kẹp trong cuốn nhật ký của ông nội, lúc đó em thấy toàn thứ ố vàng nên tướng rằng bức thư này và cuốn sổ nhật ký là một!”

”Xem ra ông Lương không để lại phong bì mới’’ - Hàn Giang nói.

”Có thể lực lượng bí ẩn đó đã giao bức thư này cho ông Lương bằng một cách thức nào đó!" - Đường Phong nói.

“Ừm, cũng có khá năng này. Bất luận thế nào, nếu suy luận của chúng ta là thật, thì tổ chức bí ẩn đó rất có khả năng đến từ nội bộ của Tướng quân, tôi nghĩ đây mới là vấn đề quan trọng nhất" - Hàn Giang rất quả quyết.

"Nội bộ của Tướng quân?” - Đường Phong và Lương Viện đều ngạc nhiên.

"Đúng! Nhất định là như vậy, mọi người nghĩ xem, bức thư này lúc đó rơi vào tay Tướng quân, nếu không phải là người bên cạnh ông ta, thì ai có thể có được nó rồi đưa nó cho ông Lương?”

Xem ra suy luận của Hàn Giang rất hợp lý, đến nỗi Đường Phong và Lương Viện không còn gì để nói, nhưng Đường Phong lại luôn cho rằng sự việc vốn không đơn giản như vậy.

4

Ba người phân tích xong bức thư chưa được gửi đi này thì trời đã tối, Hàn Giang đưa bức thư cho Đường Phong và nói: ‘‘Bức thư này để lại chỗ cậu, đừng làm mất. Tuy trong thư Misha không miêu tả chi tiết về Hàn Hải Mật Thành, nhưng bức thư này rất có ích cho chúng ta. Những tường thuật về mấy ngày trước khi đội thám hiểm xảy ra chuyện trong thư, đặc biệt là địa danh xuất hiện trên bản đồ phác thảo, rất có ích cho chúng ta đấy.”

“Ừm, tôi cũng đang nghiên cứu về bản đồ phía sau kệ tranh ngọc, tuy hình vẽ biểu thị rất rõ, nhưng những địa danh gần Hạn Hải Mật Thành khắc trên đó, tôi chẳng biết cái nào. Dù sao cũng đã bao năm trôi qua rồi, khả năng địa danh cũng đã biến đổi, có khi một số địa danh cũng không còn tồn tại nữa. Neu không biết rõ những địa danh đánh dấu trên bản đồ, mà chúng ta cứ thế tiến vào trong sa mạc, rất có thể sẽ đi sai đường. Hiện giờ có tấm bản đồ phác thảo của Misha, tôi có thể đối chiếu với những địa danh cổ trên đó, như vậy rất có thể chẳng mấy chốc sẽ làm sáng tỏ vị trí hiện tại tương ứng với vị trí nào thời cổ.” - Đường Phong thao thao bất tuyệt.

Hàn Giang đứng dậy, vỗ vỗ vai Đường Phong nói:

“Đường Phong, chúng ta không còn thời gian nữa đâu, tôi ra hạn cho cậu đêm nay phải đánh dấu được những địa danh trên bản đồ cổ lên bản đồ mới!”

“Gấp vậy sao?” - Đường Phong chau mày.

"Còn phái hỏi, đối thủ của chúna ta không đợi chúng ta làm sáng tỏ điều gì đó mới xuất phát đâu, huống hồ tôi còn là một tên tội phạm đang bị truy nã, xem ra người của Triệu Vĩnh chỉ trong vòng ba ngày sẽ tìm thấy tôi.”

"Vậy em làm gì?” - Lương Viện chóp chớp mắt, hỏi. "Cô?" - Hàn Giang nhìn nhìn Lương Viện: “Cô, lập tức nấu cơm, quét dọn nhà cửa!”

"Em mất công đến đây chỉ đế làm chân sai vặt cho các anh ư?" - Lương Viện tủi thân nhìn Hàn Giang, rồi lại nhìn Đường Phong. Đường Phong đang chăm chú nhìn hình ban đồ phác thảo do Misha vẽ.

Lương Viện hậm hực đập vào Đường Phong một cái trách: "Anh cũng coi em là chân lon ton hả?”

Lúc này Đường Phong mới định thần lại, hỏi Hàn Giang: "Anh giao nhiệm vụ ọi người hết rồi, vậy anh làm gì?"

Hàn Giang ngồi luôn xuống ghế sô pha, nói: “Ăn cơm, nghe cậu báo cáo!”

"Xời! Anh vẫn tưởng anh là lãnh đạo chắc? Nếu anh mà bị Triệu Vĩnh tóm lại thì tha hồ mà ăn cơm trại giam!" - Đường Phong nói.

"Còn lâu! Kê cả tôi có bị Triệu Vĩnh băt lại thì họ cũng phải cơm ngon rượu ngon bưng lên cho tôi!”

"Thôi đi! Tôi mặc kệ hai người, tôi đi giải mã mấy cái địa danh cổ này đây!” - Đường Phong vừa nói vừa đi vào phòng mình.

Lương Viện đành đi nấu cơm, nhưng đại tiêu thư được nuông chiều như cô thì nào có biết nấu, vậy nên lúc thì làm căn phòng khói bay mù mịt, lúc lại bốc lên thứ mùi quái dị. Rốt cuộc Hàn Giang không thể chịu nổi, anh đành xông vào bêp: “Mẹ ơi, tôi bảo rồi mà, đại tiểu thư, đây là nấu cơm hay chế tạo vũ khí hóa học hả!"

“Tôi vốn không biết nấu cơm mà, anh cứ bắt tôi nấu, hay là vậy đi, tôi mời, chúng ta ra ngoài ăn!”

“Thôi đi, tôi như thế này còn xuất đầu lộ diện ra ngoài được sao? Hơn nữa, tôi nhắc nhở cô, đừng có kế cho Triệu Vĩnh nghe tung tích của tôi, người khác cũng không được. Cô muốn cùng chúng tôi đến sa mạc thì tạm thời phải cắt đứt mọi liên lạc của cô, kể cả với cha cô!” - Hàn Giang cảnh cáo.

“Vậy nghĩa là tôi phải giao nộp cả điện thoại đúng không?” - Lương Viện sững sờ nhìn Hàn Giang.

"Không cần phải vậy, dù sao thì trong sa mạc cũng không có sóng.” - Rốt cuộc trên mặt Hàn Giang cũng hé nở nụ cười.

Dưới sự giúp đỡ của Hàn Giang, cuối cùng Lương Viện cũng nấu xong bữa cơm, nhưng Đường Phong vẫn đang mải đối chiếu những địa danh cổ, nên Hàn Giang đã gọi mấy lần, mà anh vẫn không phản ứng gì. Hàn Giang buông đũa xuống, đang định đẩy cửa buồng của Đường Phong thì Đường Phong bỗng đột ngột kêu toáng lên rồi chạy ra:”Cuối cùng cũng nhận ra được một địa danh rồi”.

“Ôi trời! Tôi lại tưởng cậu lâu như vậy thì phải xong hết rồi chứ!" - Hàn Giang nói không chút hòa khí.

“Lấy đâu ra mà dễ thế, cố nhân vẽ bản đồ đâu có tỉ lệ, kích thước. Tôi đối chiếu từng địa danh trên bản đồ của Misha với bản đồ cổ. Misha đã cố ý đánh dấu những địa danh này bằng chữ Hán trên tấm bản đồ phác thảo, nhưng tôi lại không tìm thấy địa danh cổ nào tương ứng với những chữ Hán đó trên tấm bản đồ Tây Hạ cổ." - Đường Phong giải thích.

“Những chữ Tây Hạ đó dịch chuẩn rồi chứ?” - Hàn Giang hởi.

"Mong anh đừng nghi ngờ về trình độ chuyên môn của tôi!” - Đường Phong hơi phật lòng.

"Vậy ban nãy cậu nhận ra địa danh nào rồi?” Đường Phong lôi ra mấy bức ảnh đã được phóng to, chỉ vào một kí hiệu trên tấm bản đồ cổ: "Chính là chỗ này, trên bản đồ cồ, địa danh được đánh dấu dịch sang chữ Hán nghĩa là ‘Cửu Lý Bảo", tôi đã phát hiện ra địa danh này trên tấm bản đồ phác tháo của Misha.”

Vừa nói. Đường Phong vừa chỉ lên một địa danh trên tấm bản đồ phác thảo của Misha, phấn khởi nói tiếp: "Có cái này là sẽ có hệ thống tham khảo, tôi đối chiếu bản đồ cổ với bàn đồ của Misha, đại khái cũng đã sáng tỏ được tuyến đường đi trong mấy ngày cuối của đội thám hiểm.”

5

Đường Phong dùng bút mực đỏ vẽ một đường khúc khuỷu lên tấm ảnh: “Đây đại khái là tuyến đường đội thám hiểm tiến vào trong sa mạc. Trên tuyến đường này, Cứu Lý Bảo là điểm đầu tiên, sau đó trên bản đồ phác tháo của Misha còn có ba điểm đánh dấu khác, lần lượt là "Lang Oa’, "Thiên Hộ Trấn’, ‘Nguyệt Nhi Tuyền’. Trên bản đồ cổ cũng có ba điểm đánh dấu tương ứng như vậy, nhưng dịch sang tiếng Hán lại không phải ba địa danh đánh dấu trên bản đồ phác thảo của Misha. Hơn nữa, tôi dịch theo con chữ nên không thế giải thích được nghĩa của ba chừ Tây Hạ dùng để đánh dấu. Nhưng điều này cùng bình thường, rất nhiều địa danh vốn chẳng có hàm ý gì cả, chỉ là một cái tên mà thôi.”

Hàn Giang cầm tấm ánh và tấm bản đồ phác thảo của Misha lên, cẩn thận đối chiếu một lượt: “Hình như vị trí cũng không đúng lắm."

"Đúng vậy, đây cũng là điều mà tôi cảm thây kỳ lạ, tuy ba địa điềm đánh dấu trên tấm bản đồ cổ quá xa so với đường nét mà tôi vẽ, nhưng vẫn có thê nhận ra, bốn điểm đánh dấu trên bán đồ cổ, ngoài Cửu Lý Bảo đã được xác định có thể tương ứng với tên địa danh và vị trí trên tấm bản đồ của Misha ra. tên của ba kí hiệu đêu không tương ứng, vị trí cũng sai lệch.” - Đường Phong giái thích.

“Em thấy chúng ta cứ đi theo tấm bản đồ phác thảo của Misha trước đã!" - Lương Viện bồng nói.

"Ỏ! Em nói xem tại sao lại đi theo tấm bản đồ của Misha?” - Đường Phone hởi Lương Viện.

"Đây không phai là việc bày ra rồi sao! Vì Misha đã tìm ra Hạn Hải Mật Thành, nên tuyến đường của ông ấy đáng tin hơn, dù gì tấm bản đồ cổ cũng trải qua bao năm tháng rồi, vật đổi sao dời, rất nhiều địa danh đều đã thay đổi, rất nhiều thị trấn, thành phổ, sông ngòi đều đã biến mất, nên nếu chúng ta muốn hoàn toàn dựa vào hản đồ cố đế tìm thì e rằng sẽ đi sai đường đấy!” - Lương Viện nói.

‘Em nói cũng có lý, nhưng không đúng hoàn toàn! Bản đồ của Misha chỉ vẽ tuyến đường đội thám hiếm tiến vào sa mạc, chứ không đánh dấu cụ thể vị trí của Hạn Hải Mật Thành. Chi đánh dấu một cái lên địa danh cuối cùng Nguyệt Nhi Tuyền hướng tây bấc, đồng thời còn chú thích: "Cánh cổng khổng lồ, vị trí tôi ước chừng’. Đến những chuyện sau đó Misha cùng không nhớ rõ, thì e rằng những vị trí mà ông ấy tính toán trên tấm bản đồ cũng không đáng tin cậy! Bởi vậy chúng ta vẫn cần dựa vào bản đồ cổ là chính, bản đồ của Misha chỉ đế tham khảo.” - Đường Phong nói một tràng.

Hàn Giang gật gù: “Đường Phong nói có lý, mọi người xem, ở cuối bản đồ phác thảo, Misha có đánh dấu một địa danh là Nguyệt Nhi Tuyền, nghe tên thì nơi này chắc phải có một con suối, ở đây có nguồn nước, đội thám hiểm cũng không phải lo lắng nữa.” - Đường Phong tán thành.

Hàn Giang vỗ đầu một cái: “Sao tôi lại quên được nhỉ, như vậy cũng có nghĩa là đội thám hiểm đã xảy ra chuyện sau khi rời khỏi Nguyệt Nhi Tuyền, và còn xảy ra chuyện tại nơi cách rất xa Nguyệt Nhi Tuyền. Bởi vì lão Mã từng kể rằng, họ đã chia nhau đi tìm nguồn nước nhưng không tìm thấy.”

Đường Phong ngẫm nghĩ rồi nói tiếp: "Vẫn còn một khả năng, đó là Nguyệt Nhi Tuyền vốn dĩ không có nước”.

“Không có nước?” - Hàn Giang nghi ngờ nói.

‘Bởi vậy sau khi bị ai đó đổ hết nước dự trữ mang theo, đội thám hiểm mới hoảng loạn như vậy!” - Đường Phong suy đoán.

Hàn Giang đối chiếu một lúc vị trí của Hạn Hải Mật Thành với vị trí trên bản đồ cổ. rồi lại nhìn kỳ tấm bản đồ phác thảo của Misha: ‘Theo như tôi thấy thì Nguyệt Nhi Tuyền cách Hạn Hải Mật Thành vẫn khá xa; bởi giả dụ ở ngay Nguyệt Nhi Tuyền hoặc là gần Nguyệt Nhi Tuyền chính là nơi cắm trại cuối cùng của đội thám hiểm, thì điều này rất kỳ lạ, vì sau khi đội thám hiểm xảy ra chuyện, Misha làm thế nào mà có thể đi xa như vậy trên sa mạc?”

“Từ bản đồ cổ cho thấy, khu vực gần Hạn Hải Mật Thành hình như không phải là sa mạc Gobi, có lẽ ở đó có một ốc đảo mà chúng ta chưa từng biết tới!” - Suy nghĩ của Đường Phong bắt đầu thông suốt.

"Ốc đảo chết?” - Hàn Giang bỗng nhớ ra ốc đảo chết mà Stephen nhắc tới.

"Xem ra Mã Xướng Quốc cũng từng tới Hạn Hải Mật Thành!” - Đường Phong nhìn khu vực xung quanh Hạn Hai Mật Thành trên bản đồ cố, ở đó rốt cuộc là nơi nào? Là ốc đáo hay vực thẳm?

6

Đường Phong suy tư hồi lâu. rồi dùng bút chấm vào khu vực xung quanh Hạn Hái Mật Thành trên bán đồ và nói: "Xem ra chỉ có thực sự đi tới đó thì mới có thể biết được đó rốt cuộc là nơi nào."’

"Nhưng chúng ta đi bằng cách nào? Đi theo tuyến đường của Misha sao?” - Lương Viện hỏi.

"Đúng! Theo tuyến đường Misha vẽ cho chúng ta, chúna ta cũng chỉ có thể theo tuyến đường của Misha tiến vào sa mạc!” - Đường Phong nói chắc chắn.

"Nhưng ngoài Cửu Lý Bảo ra, ba địa danh kia đều không tương ứng với tấm bản đồ cổ mà!” - Lương Viện lại nói.

‘Vậy chúng ta hãy cùng thử xem ba địa danh này, trên tuyến đường của Misha xuất hiện địa danh thứ tư, chắc là địa danh Misha đã nghe thấy lúc còn ở trong đội thám hiểm. Cái tên Cửu Lý Bảo này đều có trên bản đồ Tây Hạ cố và trên bản đồ của Misha, điều đó cho thấy ít nhất thì Cửu Lý Bảo cũng đã từng tồn tại từ thời Tây Hạ và cái tên này được dùng ãi tới tận sau này;

còn lai ba đia danh không tìm thây trên bản đô cổ, theo như tôi suy đoán, rất có khả năng là mãi sau thời Tây Hạ

mới có. Ban nãy cũng đã nói rồi, kể cả cho ràng Nguyệt Nhi Tuyền không phải là nơi căm trại cuôi cùng của đội thám hiểm đi chăng nữa, thì cũng là nơi có thể tìm kiếm tên địa danh cuối cùng mà đội thám hiểm đi qua. Mọi người phải hiểu rằng rất nhiều nơi trên sa mạc chưa từng có người đi qua, cũng chẳng có ai định cư tại đó, thì tất nhiên sẽ không có tên để lại. Nguyệt Nhi Tuyền là tên của nơi xa nhất trong tuyến đường của Misha, điều đó cho thấy ít nhất đó cũng là nơi thường xuvên có người qua lại, thậm chí còn có người đã từng định cư ở đó. Dĩ nhiên, điều kiện tiền đề của tất cả những điều này chính là rốt cuộc Nguyệt Nhi Tuyền có nước hay không?”

Đường Phong nói tới đây, thấy Hàn Giang và Lương Viện thi nhau gật đầu, anh lại nói tiếp: “Nói tiếp tới cái tên Thiên Hộ Trấn, nghe tên thì nơi này chắc chắn từng có một thị trấn. Có thể gọi là thị trấn thì chắc cũng phải là nơi phồn hoa. Vậy thì trong sa mạc sao lại có một thị trấn phồn hoa được nhỉ? Từ hai chữ ‘Thiên Hộ’ trong địa danh cho thấy..

Đường Phong vẫn chưa nói xong, Lương Viện bồng nói chen vào: ‘"Em biết, "Thiên Lộ Trấn" nghĩa của nó là ở đây đã từng có ít nhất môt nghìn hộ gia đình, xem ra đây là một thị trấn khá lớn đấy”.

Đường Phong lườm Lương Viện một cái: “Nói linh ta linh tinh, ai bảo em "Thiên Hộ’ tức là đã từng có nghìn hộ gia đình sống ở đó? "Thiên Hộ’ là một kiểu xây dựng thể chế quân đội trong đời Nguyên, đời Minh, giống như "doanh trại quân đội" ngày nay. Thường thì trong thời nhà Nguyên, thiên hộ cũng được coi là một chức quan võ khá cao rồi. Ớ đây gọi là Thiên Hộ, cho thấy đã từng có một võ tướng cấp bậc thiên hộ đóng quân ở đây, đương nhiên còn có cả quân đội dưới trướng ông ta nữa. Bởi vậy mà vùng đất này mới phát triến như vậy, trở thành một thị trấn.”

"Nhưng kể cả trên bản đồ phác thảo của Misha, hay trên bản đồ cổ, đều cho thấy quanh đây chỉ là sa mạc Gobi. Không thể có một lực lượng quân đội nào có thể đóng quân lâu dài trong sa mạc được, nói gì đến việc hình thành cả một thị trấn ở đây!" - Đường Phone cũng cảm thấy rất kì lạ.

"Đường Phong, thông thường trong tay một Thiên Hộ có ít nhất bao nhiêu người?” - Hàn Giang hỏi.

“Quân số khôna rõ, nhưng tôi nghĩ trong tay một thiên hộ ít nhất chắc cũng phải có hàng nghìn người đấy!”

“Hàng nghìn người? Thật không thê tưởng tượng nổi, trong sa mạc từng có một đội quân hàng nghìn người, nhiệm vụ của họ là gì vậy?” - Lương Viện hỏi.

"Đương nhiên là đê đề phòng kẻ địch"’ - Đường Phong trả lời.

“Trên sa mạc thì lấy đâu ra kẻ địch!” - Lương Viện vẫn thấy không hiểu.

“Điều này thì anh không biết, nhưng nếu đúng như anh đoán thì thị trấn Thiên Hộ này tới thời nhà Nguyên mới xuất hiện, như vậy cũng có thể giải thích cho việc tại sao trên bản đô cô Tây Hạ không có kí hiệu đánh dấu địa danh thị trấn Thiên Hộ. Tóm lại, chắc là ở đây từng có một thị trấn phồn hoa, còn hiện giờ có còn ai ở đó hay không thì chỉ có đi mới biết được!” - Đường Phong vừa nói, ánh mắt vừa di chuyển về địa danh “Lang Oa” trên hình bản đồ của Misha.

7

Đường Phong lại chỉ lên kí hiệu “Lang Oa” trên hình bản đồ của Misha và nói: “Phía nam thị trấn Thiên ỉ lộ là Lang Oa, từ tên địa danh cho thấy, ở đây chắc là từng có sói xuất hiện.”

‘‘Hon nữa chắc còn là một chỗ trũng. Cái này em cũng có thê đoán được, ha ha!” - Lương Viện nói chen vào.

Đườna Phong khẽ hắng giọng một tiếng - “Vậy từ cái tên này em nhìn ra gì nào?”

“Nhìn ra gì?” - Lương Viện hơi ngớ người ra, “Không phải vừa nói rồi đấy thôi?”

“Hừm, vậy thì lại đế anh nói cho em biết nhé, chỗ trũng này cho thấy địa hình ở đây thấp, có khả năng là có nguồn nước, còn sói xuất hiện ở đây, thêm một bước nữa cho thấy rất có khả năng ở đây có nguồn nước. Bởi vậy mà bầy sói trên sa mạc Gobi mới tụ tập tại đây và mới có cái tên “Lang Oa" này.” - Đường Phong lại phân tích thêm: "‘Nơi có người trên sa mạc Gobi, chấc chắn sẽ có nguồn nước, bởi vậy anh thậm chí còn có thế mạnh dạn suy đoán rằng, trên bản đồ phác thảo của Misha có đánh đấu bốn địa danh, trong lịch sử chắc đều là những nơi có nguồn nước.”

“Đều có nguôn nước?" - Hàn Giang bỗng chỉ vào tuyến đường của Misha, nghi ngờ hỏi: “Tại sao Misha không đánh dấu vị trí có nguồn nước trên tuyến đường? Cậu xem, bốn chỗ này đều không có, những chỗ khác cũng không có."

Đường Phong khẽ chau mày: “Có lẽ Misha không nhớ ra hoặc là ông ấy quên rồi chăng?”

"Quên rồi, cậu cho rằng Misha rất muốn kể lại mọi chuyện cho ông Lương nghe mà lại dễ dàng quên mất nguồn nước quan trọng như vậy? Còn nếu không nhớ ra thì cũng có khá năng này; nhưng trong thư Misha nói rằng không nhớ lại được tình hình sau khi đội thám hiểm xảy ra chuyện, vậy tuyến đường trước đó chắc ông ấy phải nhớ được!” - Hàn Giang nói.

“Hoặc là còn có một khả năng, giống như tôi đã từng suy luận, bốn địa danh Misha chi ra chính là những nơi có nguồn nước, ít nhất là lúc đó vẫn còn nguồn nước, bởi vậy không cần cố ý đánh dấu lại kí hiệu nào cả!” - Đường Phong hình như rất tự tin về suy luận của mình.

“Được rồi, cứ coi như cậu suy luận có lý đi, nhưng chúng ta vần phải căn cứ theo tình hình không tìm được bất cứ nguồn nước nào để chuẩn bị nước uổng mà tiến vào sa mạc!” - Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

“Ừm, lúc đó có nguồn nước không đồng nghĩa với việc bây giờ vẫn còn!" - Đường Phong cũng đồng ý với quan điểm của Hàn Giang, anh lại nói tiếp: “Phía đông nam của Lang Oa chính là Cửu Lý Bảo, đây cũng là trạm dầu tiên sau khi tiến vào sa mạc.”

“Vậy anh lại nhìn ra điều gì từ cái tên này?” - Lương Viện hỏi.

‘Cái tên này..- Đường Phong ngập ngừng một lúc - “Nghe cái tên này thì rõ ràng ở đó là một lâu đài cổ...”

Hàn Giang cướp lời: “Dĩ nhiên có giá trị nhất chính là từ ‘Cửu Lý’ vì đây rõ ràng để chỉ khoảng cách, chỉ có điều chúng ta không biết được Cửu Lý này là chỉ khoảng cách từ chồ nào đến chỗ nào.”

“Không phải là khoảng cách tới Hạn Hải Mật Thành đấy chứ?” - Lương Viện kêu lên.

"Không thể! Khi nhìn thấy cái tên Cửu Lý Bảo này, anh lập tức nghĩ ngay rằng đây có phải là khoảng cách tới Hạn Hải Mật Thành không nhỉ, nhưng nghĩ kĩ lại, bất luận là bản đồ cổ phía sau kệ tranh ngọc hay là kí hiệu đánh dấu Hạn Hải Mật Thành trên bản đồ phác tháo cùa Misha đều xa hơn chín lý. Tuy hiện giờ chúng ta chưa biết được khoảng cách chính xác để đến được Hạn Hải Mật Thành, nhưng rõ ràng đây chắc chắn không thế là chín lý!" - Đường Phong phú định suy đoán của Lương Viện.

"Vậy anh nói xem tại sao nơi này lại gọi là Cửu Lý Báo?" - Lươna Viện vần không phục.

"Nơi này chắc chan không phải là khoảng cách tới Hạn Hải Mật Thành, nhưng chắc chắn nó là khoảng cách chín lý tới một nơi nào đó, bới vậy mới tên là Cửu Lý Bảo!" - Đường Phong giải thích.

"Lẽ nào là khoảng cách chín lý tới biên giới sa mạc?’ - Hàn Giang đoán.

Đường Phong nhìn vào hình vẽ sa mạc xuất hiện trên bán đồ cổ rồi lắc đầu: "Không giống”.

"Cũng có khả năng là cách Lane Oa chín lý?” - Lương Viện nói.

"Cùng có khá năns này. bởi vì hiện giờ chúng ta không biết được Cửu Lý Bảo này do triều đại nào xâv dựna nên, mồi triều đại trong lịch sử đều có tiêu chuẩn về "lý" khác nhau.” - Đường Phong giải thích thêm.

"Triều đại nào xây dựng? Không phải cậu vừa nói đó sao, trên bản đồ cổ Tây Hạ cũng có cái tên Cửu Lý Bảo này, cho thấy từ thời Tây Hạ đã có cái tên này rồi và nó tồn tại tới tận ngày nay." - Hàn Giang nói.

“Nhưng chúng ta chỉ có thể đoán được tới thời Tây Hạ, còn biết đâu trước đó đã có cái tên này rồi?” - Đường Phong ngẫm nghĩ, rồi nói tiếp: “Trên bản đồ cố Tây Hạ va hán đồ phác thảo của Misha đều có cái tên Cửu Lý Hảo, cho thấy từ thời Tây Hạ tới thời cận đại, ở đây đều gọi bàng cái tên này. Cái tên mà đã được lưu truyền bao nhiêu năm như vậy, chắc chắn là một địa phương quan trọng. Tôi nghĩ, từ hướng đông nam tiến vào sa mạc, từ xưa tới nay, trạm đầu tiên đều là địa danh Cửu Lý Bảo, nên cái tên này mới lan truyền như vậy. Còn từ Cửu Lý Báo đi về hướng tây bắc, khả năng trong lịch sử từng xuất hiện nhiều đường đi, bởi vậy địa danh của từng đường đi không ngừng thay đổi, rất khó để lưu truyền lại.”

“Những đường đi khác nhau?” - Hàn Giang trở nên nghi ngờ, “Nói như cậu thì sau khi tới Cửu Lý Bảo, chúng ta rất có khả năng gặp nhiều đường đi khác nhau sao?”

8

Đường Phong nghe câu hỏi của Hàn Giang liền cười - “Trên sa mạc Gobi vốn không có đường đi, về lý mà nói thì chỗ nào cũng đi được hết, nhưng chỗ nào cũng đều nguy hiểm. Cái gọi là tuyến đường, chẳng qua chỉ là đường đi mà cổ nhân trước đây đã thăm dò cho chúng ta, đi theo con đường cố nhân đã từng đi, thì khả năng sẽ không lòng vòng và tránh được nguy hiểm.”

“Nhưng tôi vần có chút lo lắng...” - Hàn Giang ngập ngừng.

"Lo lắng gì?” - Đường Phong hỏi lại.

“Trước đó, chúng ta suy đoán rằng bức thư của Misha mãi tới trước khi chết ông Lương mới nhận được, tôi lo rằng... lo rằng đây là một âm mưu.”

"Ý anh bảo tôi..."

Lương Viện đang định nói gì đó, Hàn Giang liền ngắt lời cô: "Lương Viện, tôi không nói cô, ý tôi định nói người mấy chục năm sau mới gửi bức thư này cho ông nội cô. Tại sao hắn lại làm vậy? Khỏi cần nói chúng ta cũng biết, bất luận hắn là người của Tướng quân hay là một thế lực nào đó, thì chấc chắn chúng đều có một mục đích đặc biệt.”

"Nhưng từ nội dung của bức thư cho thấy chẳng phát hiện được bất thường!" - Đường Phong nói.

"Tôi không nghi ngờ tính chân thực của bức thư, tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng bút tích của Misha trong cuốn số ghi chép, nên nắm được chữ viết của ông ấy. Theo như tôi thấy thì nét chữ trên bức thư này là của Misha, không có gì để nghi ngờ. Nhimg tôi luôn cảm thấy bên trong có vấn đề, nên mong rằng có thể suy luận ra mục đích của một người sau mấy chục năm mới gửi bức thư này. Ngoài ra, theo như bản đồ phác thảo cúa Misha thì dù sao nó cũng có chút sai lệch so với bản đô cổ!” - Hàn Giang nói ra những lo lắng trong lòng.

“Địa danh đánh dấu theo hướng đông nam của Hạn Hải Mật Thành trên tấm bản đồ cổ, có chút sai lệch so với bản đồ phác thảo của Misha, nhưng có lẽ ba địa danh khác chỉ là sự thay đổi về mặt tên gọi, còn sự sai lệch nhìn thấy trên hình vẽ có lẽ chỉ là vấn đề thị giác của chúng ta. Cho dù tuyến đường có chút sai lệch, nhưng tôi nghĩ ràng cũng không phải là vấn đề lớn lắm.”

“Nếu sau đó Misha nhớ ra những gì đã xảy ra sau cánh cổng khổng lồ thì tốt quá. Mọi người đã từng nghĩ tới việc sau khi tìm thấy Hạn Hải Mật Thành thì Misha làm thế nào để ra khỏi sa mạc không?” - Sau một tiếng thở dài, Hàn Giang bỗng hỏi.

“Ý anh là đó cũng là một con đường?” - Đường Phong lại hỏi.

“Lẽ nào không phải sao?”

“Nhưng Misha không nhớ gì cả. Bởi vậy anh nghĩ nhiều như vậy cũng chẳng để làm gì, chúng ta chuẩn bị đi, tới Cửu Lý Bảo trước đã!” - Đường Phong nói.

“Bây giờ không được như hồi trước đâu đấy, cậu có xe không?” - Hàn Giang hỏi.

‘"Bạn tôi có một chiếc Jeep, hôm nay tôi đã nói qua với cậu ấy rồi, xe thì không thành vấn đề.”

“Hừm, vậy thì cái xe của bạn cậu sẽ đen đủi đấy.

Còn nữa, hiện giờ tôi mang danh tội phạm, chúng ta không đi đường chính được, chỉ có thể đi đường nhỏ thôi.” - Hàn Giang chau mày.

“Vấn... vấn đề này cũng có thể khấc phục, chỉ có diều sẽ chậm chút thời gian.”

“Vậy thì chắng còn vấn đề gì cả!” - Hàn Giang vừa nói vừa nhanh chóng và mấy miếng cơm. Ản cơm xong, anh nói với Đường Phong: "Tối nay cậu chuẩn bị xong xuôi hết đi, sáng mai xuất phát.”

“Gấp vậv sao?" - Lương Viện có vẻ không hài lòng. “Đại tiếu thư cua tôi ơi, chúng ta không còn thời gian nữa đâu!“ - Hàn Giang lại nói với Đường Phong: “Đồ dùng và thực phẩm, nước uống đều nhờ cậu lo cả. Ngày mai, sau khi mượn xe xong, đúng 10 giờ sáng sẽ gặp nhau trước cống trường cậu.”

“Sao, đêm nay anh không ở lại đây ư?"

Hàn Giang tới bên cửa sổ, vén rèm cửa nhìn kỹ ra bên ngoài: “Chỗ cậu hiện giờ không an toàn nữa rồi!” “Không an toàn nữa?” - Đường Phong có vẻ không hiểu. Hàn Giang cười cười, vồ vào vai Đường Phong: "Không phải tôi để chỗ cho cậu sao? Khà khà!” - Nói xong. Hàn Giang khoác ba lô, rồi loáng cái đã mất hút sau cánh cửa.

9

Đường Phong phát hiện thấy Hàn Giang không xuống dưới bằng thang máy, anh ra đứng ở ban công nhìn xuống phía dưới một lúc lâu, cũng không thấy bóng dáng Hàn Giang đâu cả - “Anh ấy thành cao nhân ngoại thế thật rồi đấy! Đến không thấy bóng, đi không thấy dáng.

Đường Phong cũng bắt đầu hoài nghi. Sáng hôm sau, anh mượn bạn chiếc xe Jeep. Lúc Lương Viện trông thấy chiêc xe này, cô phân khởi reo lên: “Chiêc xe này sành điệu thật đấy, thật là đi trước thời đại.”

“Thôi nào, anh đoán là Hàn Giang mà trông thấy

chiếc xe này chắc sẽ phát điên lên mất. Thật không ngờ có mấy hôm không trông thấy mà cậu bạn anh đã kịp biến nó thành thế này rồi!” - Đường Phong cười đau khố.

Đường Phong và Lương Viện chuấn bị xong xuôi, lái xe tới trước cổng trường. Đúng 10 giờ sáng, người đi qua đi lại trước cổng trường đã khá đông. Đường Phong biết rất rõ là Hàn Giang muốn né tránh, vậy tại sao anh ấy lại chọn chồ đông đúc thế này. Đường Phong ngồi trên ghế lái, nhin quanh cổng trường, đợi gần mười phút cũng không thấy bóng dáng Hàn Giang đâu, nên anh bỗng có dự cảm không lành. “Từ trước tới nay Hàn Giang chưa hao giờ trễ hẹn!” - Đường Phong lẩm bẩm.

“Từ trước tới nay?” - Mặt Lương Viện đầy vẻ khó hiểu.

"Đúng vậy, bởi vì với nghề của anh ấy thì chỉ chậm một phút thôi cũng đồng nghĩa với thất bại, thậm chí còn bị trả giá bằng mạng sống!’" - Đường Phong vừa nói vừa liếc nhìn đám người trước cổng trường, vẫn không thấy bóng dáng Hàn Giang đâu.

Một lúc sau, Đường Phong nhìn vào đồng hồ, đã 10 giờ 15, càng lúc anh càng cảm thấy bất an. Đúng lúc anh định xuống xe quan sát thì đột nhiên, trước mũi xe xuất hiện một ông lão đeo kính râm, để chòm râu dài, trắng như lông dê núi, diện bộ vest trắng, tay còn chống ba loong, giống như một ông lão Hoa kiều giàu có. ông ta hết ngó trái rồi lại ngó phải chiếc xe của Đường Phong. Lương Viện và Đuờng Phong đều bị ông lão này nhìn chằm chằm đến nổi da gà, họ không hiểu ông ta muốn gì. Lương Viện có chút căng thắng hỏi Đường Phong: ‘"ông lão này định làm gì vậy?”

“Anh làm sao biết được, em lấy cái mác đại tiểu thư của mình xuống hỏi ông ấy xem sao!”

"Em á? Sao lại là em? Anh làm gì?”

"Anh phải lái xe, ngộ nhờ gã này có mưu đồ gì đấy thì anh còn phải khẩn trương khởi động xe nữa chứ!” “Khà khà! Không cần phải phiền phức vậy đâu!’’ - Hình như Lương Viện có kế gì đó: “Anh có còn nhớ lần đầu tiên em gặp anh không?

"Còn phải hỏi, đương nhiên là nhớ.

Không đợi Đường Phong nói xong. Lương Viện bỗng ấn mạnh còi xe. Đến bản thân cô cũng không ngờ chiếc còi xe độ này lại to dị thường như vậy, khiến chính cô cũng giật bắn mình. Nhìn lại ông lão trước mũi xe, ông ta đã quẳng ba toong, bước thoăn thoắt tới cạnh cửa xe, gõ thật mạnh vào tấm kính. Đợi tới khi Đường Phong hạ kính xuống, ông lão đó liền phủ đầu ngay: “Mẹ kiếp, mượn cho tôi chiếc xe ghẻ này à, rõ ràng là muốn hại tôi.”

Lúc này Đường Phong và Lương Viện mới nhận ra ông lão râu trắng trước mặt chính là Hàn Giang: “Sao tôi lại hại anh?”

“Cậu mượn cái xe ghẻ này, tôi nhìn nửa ngày cũng không nhận ra nó là xe hãng SUV, chỉ thấy xanh xanh đỏ đỏ, nhí nha nhí nhố, cái xe này có đi được không đấy?’ - Mặt Hàn Giang hằm hằm.

uĐương nhiên là đi được mà, xe chỉ cũ chút thôi nhưng cậu bạn tôi là dân chơi xe nên đã đảm bảo răng cái xe này đưa chúng ta tới được sa mạc!"’ - Giọng Đường Phong đầy vẻ thề thốt.

Hàn Giang mặc kệ Đường Phong, vẫn ngó trước ngó sau, nhìn trái nhìn phải một vòng quanh chiếc xe, rồi càng nhìn càng tức: "Đây... đây là cái quái quỷ gì vậy, nóc xe còn in hình con mèo Garfield, trời, đây là cái gì?”

“Búp bê Hồ Lô!” - Lương Viện tranh trả lời.

“Mẹ ơi, cô lớn lên ở Hồng Kông mà cũng từng xem phim búp bê Hồ Lô à?”

“Xem rồi! Búp bê Hồ Lô, búp bê Hồ Lô...” - Nói xong, Lương Viện còn hát lại nhạc phim búp bê Hồ Lô.

Hàn Giang tức tới nỗi mắt trợn trắng dã, nhưng không biết làm thế nào, anh ngồi lên ghế phụ, lúc này mới nói bằng giọng ra lệnh: “Đi thôi!”

Đường Phong khởi động xe, cười hỏi Hàn Giang:

"Sao vậy? Có cảm giác như đang ngồi trên một chú ngựa dũng mãnh không?”

"Hừ! Ngựa dũng mănh á? Tôi thấy giống lừa dũng mãnh thì có, cậu chê bọn tôi vẫn chưa đủ bắt mắt phái không. Ban nãy tôi vừa đếm rồi đấy, cái xe này tổng cộng có bảy màu, tôi quyết định rồi, sẽ đối tên cho cái xe ghe này của cậu thành "Con lừa bay mau dũng mãnh’”.

"Tùy anh gọi, dù gì cũng không phải của tôi”.

Hàn Giang thờ dài, nói: "Tôi thấy hai người không biết trên đường đi nguy hiểm thể nào đâu, chúng ta có thế nguyên vẹn quay về hay không thì vần còn chưa biết được”.

‘Đừng có nói bi quan như vậy! Không biết chừng chúng ta có thể nguyên vẹn trở về như trước đây, mà lại thắng lợi lớn!” - Xem ra Đường Phong rất tự tin.

"Hừm, mong là như vậy, nhưng tôi dám chắc rằng "Con lừa bảy màu dũng mãnh" này không trở về được đâu!” - Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

Đường Phong tăng tốc, chẳng mấy chốc đã ra khỏi thành phố.
 

hoahongden12

Active Member

Khi Đường Phong vòng tới góc đốt lửa phía tây bắc, anh phát hiện thấy nơi này đã sụp đổ, để lộ ra một cửađộng không lớn lắm. Đường Phong bò tới bên cửa động, nhìn vào thì thấy trong đó tối đen...

1

Trên đường đi, ba người đều tránh đường cao tốc, quốc lộ, mà chỉ đi những đường nhỏ nên gặp bao nhiêu đường khúc khuỷu. Ba ngày sau, rốt cuộc họ cũng đã tới thị trấn Ejin trong sa mạc Badain Jaran, đây là thị trấn cuối cùng trước khi họ tiến vào sa mạc.

Hàn Giang ngồi trong xe quan sát, Đường Phong chọc chọc anh: “Xuống xe đi! Tôi sắp chết ngạt rồi!”

Hàn Giang không đáp lại, tiếp tục quan sát động tĩnh bên ngoài cửa kính. Đột nhiên, một chiếc Cherokee màu trắng từ phía đường quốc iộ lao tới. Hàn Giang vội vàng cúi gập ngưòi xuống, mãi cho tới khi chiếc Cherokee đi xa, Hàn Gians mới ngoi đầu lên.

“Sao vậy? Anh biết chiếc xe đó ư?” - Đường Phong nghi ngờ hỏi.

"Không, chắc là không biết!” - Hàn Giang nói.

"Không biết? Không biết vậy tại sao anh lại sợ sệt thế?” - Đường Phong không hiểu.

“Cẩn thận vẫn hơn, hội Triệu Vĩnh thường xuyên thay đổi vỏ xe. huống hồ người của Tướng quân đã tới trước rồi!” - Hàn Giang nói chuyện, nhưng mắt vẫn nhìn chăm chú ra bên ngoài cửa sổ.

“Bọn chúng tới trước rồi? Sao anh biết?” - Đường Phong và Lương Viện cũng trở nên căng thẳng, nhìn ra bên ngoài.

Hàn Giang cười: “Hai người thì nhìn thấy được gì, phải động não, không phải biết mà là phải phân tích. Chúng ta đã lãng phí hơn nửa tháng rồi, Tướng quân không đợi chúng ta đâu. Ejin là thị trấn khá lớn cuối cùng trước khi tiến vào sa mạc, chắc chắn chúng sẽ tới đây,”

"Anh nói vậy làm tôi cũng io lắng rồi đấy, lần này người của chúng ta vừa ít, trang bị lại kém, không có hậu phương chi viện nhưng lại phải thực thi nhiệm vụ nguy hiểm nhất!” - Đường Phong bắt đầu thấy lo lẳng.

"‘Đúng vậy, nếu có Yelena và lão Mã ở đây thì sẽ giảm nhẹ cho chúng ta chút áp lực!” - Hàn Giang thở dài.

“Giờ thì anh đã nhớ tới lão Mã và Yelena rồi ư, tôi bảo anh liên lạc với họ thì anh lại không chịu!” - Đường Phong bất mãn nói.

“Tôi không liên lạc với họ vừa là để an toàn cho chúng ta, vừa là để an toàn cho họ!”

“Nghĩa là sao?” - Lương Viện hỏi.

“Nếu liên lạc với họ có thể lộ ra chúng ta, hơn nữa IICU để họ tham gia vào cũng là đẩy họ tới chỗ nguy hiểm. Lão Mã lớn tuổi vậy rồi, còn nữa...” - Hàn Giang vẫn chưa nói xong, Đường Phong và Lương Viện đều đã hiếu ra ý anh.

“Nếu có súng thì tốt!" - Sau một lúc trầm ngâm, Lương Viện bỗng nói.

“Đúng đấy! Lần này đến súng chúng ta cũng không có" - Đường Phong cũng ưu tư trùng trùng.

Hàn Giang chau mày: “Đúng là không có súng rất hất tiện, nhưng tôi đã qua huấn luyện đặc biệt, nên chỉ cần là thứ gì có thể làm vũ khí thì tôi đều có thể dùng để đối phó với kẻ thù.”

Nói xong, Hàn Giang rút một con dao găm ra, "Đây chính là thứ duy nhất giống vũ khí mà hiện giờ chúng ta có.”

“Chỉ có mỗi cái này?” - Đường Phong chán nản lắc đâu.

“Người của Tướng quân đều là những tên liều mạng dược trang bị vũ khí ngon lành!” - Lương Viện cũng nói.

“Hiện giờ nói những điều này cũng vô ích, hai người xuống xe đi, mua những thứ cần thiết ở đây, phải mang đủ nước, còn cả dụng cụ sửa xe, săm lốp, xăng dầu... Đường Phong, cậu phải tự lo liệu, nếu chiếc xe kíhẻ này mà long ra thì việc sửa xe là của cậu đấy!” - Hàn Giang dặn dò.

"Dựa vào cái gì mà bắt tôi phai sửa xe?” - Đường Phong bất mãn kêu lên.

"Khà khà, bởi vì ‘con lừa bảy màu dũng mãnh" này là cậu tha về, nên cậu phải hầu nó thôi!” - Hàn Giang hất hất tay lạnh lùng nói.

2

Đường Phong lắc đầu ra vẻ bất lực, cùng Lương Viện xuống xe mua sắm thực phẩm và những thứ cần thiết tại các cửa hàng ở Ejin. Khi Đường Phong và Lương Viện trở lại xe. ba người thương lượng một hồi, rồi quyết định tìm một khách sạn khuất lấp để tạm nghỉ ngơi, thư giãn tinh thần, sáng sớm ngày mai xuất phát.

Vậy là họ tới một khách sạn tuềnh toàng, cạnh đường quốc lộ phía ngoài Ejin ở tạm. Trời nóna dần lên, đây là mùa du lịch khám phá sa mạc Badain Jaran, nhưng khách sạn nhỏ này lại không một bóng người. Chủ khách sạn là một người đàn ông ngoài 40 tuổi, râu quai nón, nói giọng Thiểm Tây. Khi Đường Phong hỏi anh ta sao không có khách du lịch, ông chủ lớn tiếng trả lời: “Chỗ tôi đây phòng ốc không ổn, nếu lái xe thêm chút nữa thì họ đều vào Ejin nghỉ hết cả rồi.”

"Ồ!” - Đường Phong như hiểu ra vấn đề.

Ông chủ bỗng tiếp lời: ‘‘Nhưng tối qua có hai người đàn ông cũng đến nghỉ một đêm ở chỗ tôi đây.”

"Hai người đàn ông? Trông họ thế nào?”

“Không rõ nữa. Một người gân 40 tuôi, đeo kính, còn người kia trẻ hơn một chút, rât vạm vỡ!”

“Họ đi chưa?”

“Sáng sớm hôm nay trời vẫn chưa sáng đã đi rồi.” Những gì ông chủ khách sạn nói khiến Đường Phong trở nên cảnh giác, anh lập tức hỏi tiếp: ‘Họ đi đâu?’"

“Họ giống các anh, lái chiếc xe Jeep, tôi thấy hình như đi về hướng sa mạc”, ông chủ khách sạn vừa nói còn vừa lấy tay chỉ chỉ ra ngoài cửa. Đường Phong nhìn theo, đối diện bên đường chính là sa mạc mênh mông.

“Họ từ đây tiến vào sa mạc sao?”

“Không! Tuy trên sa mạc nhìn thì có vẻ chỗ nào cũng đi được, nhưng thực ra không phải vậy. Nếu không muốn gặp nguy hiểm thì tốt nhất là đi theo một tuyến đường nhất định, vì dù gì thì đó cũng là những tuyến đường mà người xưa từng đi qua!” - ông chủ nói rất thành thật.

Đường Phong gật gù: “Xem ra anh biết chỗ đi vào sa mạc!”

“Đương nhiên, tôi ỏ" đây hơn chục năm rồi, dĩ nhiên biết đường đi, xem ra các anh cũng muốn tiến vào sa mạc phải không!”

Đường Phong quay nhìn Hàn Giang đang ngồi trong góc phòng, Hàn Giang chẳng nói năng gì, cũng không ra ám hiệu gì cho Đường Phong. Lúc này, Lương Viện vồn vã nói: “Đúng vậy, chúng tôi muốn tiến vào trong sa mạc, anh có biết đường nào tới Cửu Lý Bảo gần nhất không?”

Lương Viện không chỉ thừa nhận họ muốn tiến vào sa mạc, mà đến cả nơi cần đến cô cũng nói ra rồi. Đường Phong lườm Lương Viện một cái, Lương Viện coi như không nhìn thấy. Ông chủ khách sạn nhìn về phía Lương Viện, cười nhe ra cá hàm răng vàng: "Cô gái, tôi đoán ngay được là mọi người vào trong sa mạc vì muốn tới Cưu Lý Bảo, mọi người qua đây nhìn”.

Nói xong, ông chủ dẫn Lương Viện ra trước cửa khách sạn, Đường Phong và Hàn Giang cũng theo sau. Ông chủ chỉ tay về hướng thị trấn Ejin. nói: “Từ đây đi thêm một cây số, tức là trước khi vào thị trấn, mọi người sẽ nhìn thấy một tấm biến chỉ đường ven đường cái. Từ tấm biển đó đi tiếp, mọi người sẽ trông thấy một con đường do nhiều xe qua lại trên sa mạc mà thành. Đi theo con đường cát sỏi đó khoảng ba cây số, trước mặt sẽ xuất hiện một cột mốc đánh dấu. Đó chính là nơi mà ai tiến vào sa mạc cũng phải đi qua. Người Torghut bản địa cho rằng, vùng đại sa mạc này có thần linh bảo hộ, bởi vậy tốt nhất là mọi người nên vái vài vái trước cột mốc đó. Ở đây tôi có dải khăn trắng, tốt nhất mỗi người nên dâng một dải khăn lên cột mốc.”

Lúc này, ông chủ khách sạn lại lấy từ sau cánh cửa ra ba dải khăn trắng, Lương Viện chắc là lần đầu nhìn thấy thứ này. Cô phấn khởi đón lấy, hai tay chụm vào nhau khấn vái.

“Dải khăn này mất tiền không?’" - Đường Phong hỏi.

‘‘Không đắt, 30 tệ.” - Vừa nói, ông chủ vừa giơ ba ngón tay lên đưa qua đưa lại trước mặt Đường Phong.

“Gian thương, một đoạn lụa trắng mà những 30 tệ!” - Đường Phong thầm chửi rủa trong lòng.

Đường Phong miễn cưỡng đang định móc tiền ra trả, thì Lương Viện đã móc ngay ra tờ 100 tệ, khảng khái nói: “Không cần trả lại”.

Đường Phong nhủ thầm trong bụng: đúng là xuất thân con nhà giàu có khác. Lúc này, Lương Viện lại hỏi: “Vậy sau khi đi qua cột mốc đó thì sao?”

“Qua cột mốc đó sẽ có hai con đường, một đường là phía tây nam cột mốc, đường đó sẽ dẫn tới Hồ Dương Lâm, cũng là đường mà phần lớn du khách đều đi; còn dường kia phía tây bắc cột mốc, chính là Cửu Lý Bảo mà mọi người muốn tới!” - ông chủ giới thiệu.

"Hướng tây bắc! Hoàn toàn khớp với tuyến đường trên bản đồ cổ và bản đồ phác thảo của Misha.-’ - Đường Phong ngẫm nghĩ, trong lòng cũng có chút chắc chắn. Anh nóng lòng muốn tìm hiểu nhiều thêm về mọi thứ liên quan tới tuyến đường bí ấn này, nhưng anh lại không cảm thấy yên tâm trước ông chủ khách sạn.

3

Đúng vào lúc Đường Phong đang chần chừ thì Lương Viện lại tiếp tục hỏi ông chủ khách sạn: “Xem ra anh rất thông thạo địa hình ở đây, vậy anh đã tới Cửu Lý Bảo chưa?”.

"Cửu Lý Bảo... mấy năm trước tôi cũng từng tới rồi, nhưng ở đó chẳng có gì cả, rất hoang vắng, bởi vậy cũng rất ít du khách tới đó!" - ông chủ như đang hồi tưởng lại chuyện gì đó.

"Chẳng có gì cả ư?” - Lương Viện ngạc nhiên. "Vậy tại sao lại gọi là Cứu Lý Báo? Nghe tên gọi chắc là có tòa lâu đài ở đó!” - Đường Phong cũng ngạc nhiên.

Ông chủ khách sạn lại cười nhe sỉ vàng ố: “Lâu đài? Đó thực ra là đài phóng hỏa từ đời nhà Hán, hoang phê bao năm nay rồi, chỉ đốt lửa và xây dựng trên sa mạc đe làm cột mốc đánh dấu cho người qua lại, bởi vậy những người ở đây cứ gọi tên như vậy thôi.”

"Đài đốt lửa thời Hán?!” - Đường Phong không khỏi thất vọng, nhưng anh không cam lòng, vẫn truy hỏi: "Ở đó có nước không?’"

"Nước?” - Ông chủ khách sạn khẽ hừm một tiếng, "Tiến vào sa mạc Gobi mà anh vẫn muốn có nước sao? Tôi nói ọi người biết, chỗ tôi đây là trạm cuối cùng trước khi tiến vào sa mạc, muốn lấy nước thì tôi có thế bán ọi người.”

"Không! Chúng tôi đã mang theo nước rồi.” - Đường Phong từ chối ông chủ.

Hình như ông chủ khách sạn rất thất vọng, đang định quay vào trong nhà thì Lương Viện phản ứng rất nhanh, tóm ngay ông ta lại: “Ông chủ, chỉ là nước thôi mà, tôi mua, tôi vân còn vài chuyện muốn hỏi ông đây!”

Rốt cuộc Lương Viện đã mất 25 tệ mồi chai để mua hai chai nước khoáng mà Đường Phong chưa từng nghe thấy nhãn hiệu đó bao giờ. Đường Phong âm thầm chửi rủa "Gã gian thương này trông mặt mũi phúc hậu mà có một luc đã kiếm cua người ta hơn trăm tệ! Hắn ta thấy Lương Viện có tiền, chuẩn bị chặt chém đây mà.”

Ngược lại, Lương Viện lại không coi đấy là vấn dề: "Ông chủ, vậy ông có biết Cửu Lý Bảo trước đây có nước không?”

“Trước đây?”

“Ừm, ví dụ như mấy chục năm trước hoặc là thời cổ đại ấy.”

“Cái này... cái này thì tôi không biết, nhưng kể từ khi tôi tới đây thì chưa từng nghe thấy Cửu Lý Bảo có nước bao giờ! Lúc tôi tới Cửu Lý Bảo thì ở đó toàn cát vàng, nên không thể nhận ra là đã từng có hố nước hay giếng ở đó.”

"Vậy ông đã từng nghe nói tới Lang Oa chưa?”

“Lang Oa? Cái tên này hình như đã nghe người ta nhắc tới, nhưng tôi chưa từng tới đó nên cũng không biết tình hình ở đó.”

“Vậy Thiên Hộ Trấn thì sao?”

“Cái này thì tôi còn chưa từng nghe thấy bao giờ!” - Ông chủ khách sạn lắc đầu ngay.

“Vậy Nguyệt Nhi Tuyền?” - Lương Viện cũng không hỏi ý kiến Hàn Giang, Đường Phong, mà nói luôn ra một tràng tên những địa danh mà cô biết, khiến Đường Phong tức tối đến nỗi trợn mắt lên nhìn cô.

“Nguyệt Nhi Tuyền?" - Ông chủ khách sạn hình như đang ra sức nhớ lại điều gì đó. Bỗng nhiên, ông ta dường như nghĩ ra điều gì: ”Hình như tôi đã từng nghe người ta nhắc tới Nguyệt Nhi Tuyền, có người đã từng tới đó và kể lại rằng ở đó có nước.”

“Thật sao! Có nguồn nước?” - Lương Viện trở nên phấn khích.

“Tôi cũng chỉ nghe qua, còn ở đó rốt cuộc có nguồn nước hay không thì tôi cũng không rõ.”

Lương Viện nhìn lại Đường Phong, những gì ông chủ khách sạn nói. bồng chốc đã khiến tư duy của Đường Phong rối tung cả lên quả thực Nguyệt Nhi Tuyền có nguồn nước? Vậy thì ở đó chắc chắn không phải là trạm cuối cùng khi đội thám hiểm xảy ra chuyện. Có thể là do Misha thật sự không nhớ nổi tuyến đường tiếp theo nối sau Nguyệt Nhi Tuyền, hoặc là đội thám hiểm đã từng đi qua Nguyệt Nhi Tuyền, rồi lại đi tiếp rất xa?

4

Sau một hồi trầm ngâm, Đường Phong vẫn không suy nghĩ ra điều gì. Lúc này, Hàn Giang vốn im lặng từ đầu tới giờ bỗng hỏi: “Ông chủ, vậy hai người đàn ông nghỉ lại khách sạn đi về hướng nào vậy?”

Người chủ khách sạn như khẽ giật mình nhẹ một cái, ông ta quay lại nhìn Hàn Giang. Hàn Giang đội chiếc mũ đánh bóng chày, lưỡi mũ kéo xuống rất thấp, nên hình như ông chủ cảm thấy bất an trước người khách kiệm lời này. ông ta khẽ ngớ người ra một lúc rồi mới nói: ‘"Họ... họ đi đâu làm sao tôi biết được, nhưng họ từng hỏi thăm tôi đường đi.

“Hỏi thăm về Cửu Lý Bảo?” - Hàn Giang ngẩng đầu lên, nhìn ông chú khách sạn.

"Ùm, nhưng họ không hỏi nhiều như thế này đâu, chỉ hỏi Cửu Lý Bảo thôi.”

“Ồ! Họ có nói tới Cửu Lý Bảo làm gì không vậy?”

"Không, họ không nói.”

“Gần đây anh có để ý thấy người nào tới Ejin không?”

“Người à. mỗi ngày đều có người qua lại, bao nhiêu là người.”

“Ý tôi là người nào đó quái dị một chút!”

""Người quái dị?" - Ông chủ khách sạn lắc đầu rồi lập tức cười lộ ra hàng răng vàng: “Nếu nói ai đó quái dị thì mấy người các anh rất quái dị đấy. Hỏi han nhiều như vậy, rất ít người đi con đưòng hướng tây bắc chứ đừng nói tới việc tới Lang Oa. Tôi ở đây mấy chục năm rồi, những người đi theo hướng tây bắc phần lớn đi tới Cửu Lý Bảo xem cái đài đốt lửa đó rồi quay lại đi về. Từ Cửu Lý Bảo tiếp tục đi về hướng tây bắc thì e rằng chẳng có đường đi đâu."’

“Tại sao không có ai đi hướng tây bắc?” - Hàn Giang hỏi.

"Bởi vì con đường đó rất nguy hiểm, không có nguồn nước, khi có bão cát sẽ quét sạch mọi thứ. Quan trọng hơn là con đường đó có đi tiếp thì ngoài cát vàng cũng chỉ có cát vàng, căn bản không thể đi được đến cuối đưcmg.”

Hàn Giang nghe xong những gì ông chủ khách sạn nói lại cúi đầu, không nói thêm gì nữa, anh đang chìm trong suy tư.

Ông chủ khách sạn vẫn nói tiếp: ‘"Bởi vậy tôi khuyên mọi người đừng đi tới đó nữa, ở đó thật sự rất nguy hiểm. Theo như người già địa phương kể lại, thì sâu trong sa mạc là nơi ớ của ác quỷ. Từ Cửu Lý Bảo đi tiếp xuống phía tây bắc chính là tiến vào khu vực ác quỷ. Từ xưa đến nay, những người tiến vào đó gần như chẳng có ai quay về.”

"Đáng sợ vậy sao?” - Giọng Lương Viện run run.

“Đừng dọa dẫm nữa, vậy tại sao lúc nãy anh vừa nói có người đã từng tới Lang Oa, thậm chí từng tới cả Nguyệt Nhi Tuyền, nên biết được cá Nguyệt Nhi Tuyền có nước đấy thôi?” - Đường Phong phản bác lại.

“Đó đều là do tôi nghe các cụ già ở đây kể lại. Theo như những gì các cụ kể, thì thời Cách mạng văn hóa đã từng có một đoàn thanh niên trí thức tiến vào trong sa mạc, muốn tìm nguồn nước ở đây, khai hoang vùng ốc đảo. Kêt quả hơn hai chục thanh niên sau khi tiến vào đó đã không trở lại. Khoảng một tháng sau, lúc mọi người tưởng rằng tất cả bọn họ đều đã gặp nạn, thì mới có một người thoi thóp bò về. Muc dân địa phương đều rất kinh ngạc, hỏi anh ta rằng không có nước thì sao lại về được. Người thanh niên đó yếu ớt nói rằng, những người khác đều chết rồi. chỉ có anh ta tìm thấy nguồn nước trong sa mạc nên mới trở về được."

“Chính là Nguyệt Nhi Tuyền?”

“ừm, đúng vậy. Theo như người thanh niên đó kể lại thì Nguyệt Nhi Tuyền có nguồn nước, nhưng cuối cùng, mục dân cũng không cứu được mạng người thanh niên đó, và cùng không có ai tiến vào sa mạc tìm kiếm nguồn nước đó nữa!” - Ông chủ khách sạn càng nói càng khiến mọi người cảm thấv hoảng sợ. Chuyến đi này lẽ nào lành ít dữ nhiều?

Trong lòng ba người đều bị mây đen bao phủ. Hàn Giang và Lương Viện đang định về phòng nghỉ ngơi, bỗng Đường Phong quay lại hỏi ông chủ khách sạn:

“Hỏi thêm anh về một địa danh, anh đã nghe nói tới Hắc Thạch chưa?”

“Hắc Thạch?” - ông chủ thản nhiên lắc đầu.

Đường Phong đành về phòng tranh thủ nghỉ ngơi.

5

Sáng hôm sau khi trời vẫn chưa sáng hắn, ba người đã lái “Con lừa bảy màu dũng mãnh" xuất phát. Theo như ông chủ chỉ dẫn họ đã đi một ki lô mét theo đường cái, và quả nhiên, bên đường có một bảng chỉ dẫn. Từ đó “Con lừa bảy màu dũng mãnh” đã tiến vào sa mạc Gobi.

Đi được một quãng, rõ ràng có thể nhìn thấy trên sa mạc Gobi có một con đường cát sỏi rộng rãi được bánh xe đi qua nhiều mà thành. Đường Phong tăng tốc, lao như bay trên con đường cát sỏi. Chẳng bao lâu sau, Đường Phong phát hiện thấy địa hình thay đổi, càng tiến lên phía trước địa hình càng cao. Khi trời sáng tỏ, bỗng phía trước xuất hiện một cột mốc đánh dấu cao lớn.

Đường Phong lái xe tới phía dưới cột mốc, dừng lại. Ba người nhảy xuống xe, Đường Phong bước tới gần cột mốc. nhìn xung quanh. Trên sa mạc Gobi mênh mông không một bóng người. Đường Phong kính cấn dâng dải vải trắng lên cột mốc, sau đó nói: “Xem ra hôm qua ông chủ nói thật đấy.”

"Cái gã trong mắt chỉ có tiền!" - Lương Viện tức tối. "Hài, sao bây giờ em lại chửi mắng như vậy, hôm qua anh thấy em rút tiền rất hào phóng mà!” - Đường Phong cười nói.

"Thí lời, đấy không phải vì nhiệm vụ của chúng ta sao?"" - Nói xong, Lương Viện quay sane Hàn Giang: “Em còn đang đợi đội trưởng Hàn sau khi dẹp tan mọi chuyện xong, thanh toán cho em đây này!”.

Hàn Giang khi tới sa mạc bồng trở nên hứng thú, anh tiện tay quàng dải vải trắng lên cột mốc, rồi cười nói với Lương Viện: “Tiền của cô thì chịu thôi, làm sao mà thanh toán được, ai bảo cô tình nguyện cho người ta chém!” “Hừm, không thanh toán thì thôi, tôi cũng chắng bận tâm mấy đồng đó!” - Lương Viện hậm hực nói.

“Đúng vậy, Lương đại tiếu thư nhiều tiền xông xênh nên không cân tính toán chút tiền đó làm gì, công lao của cô tôi sẽ ghi nhớ!” - Hàn Giang nói rồi bồng quay sang hỏi Đường Phong: "Đường Phong, hôm qua cậu nhắc tới Hắc Thạch nghĩa là gì vậy?”

“Hắc Thạch chính là một trong ba địa danh trên bản đồ cổ Tây Hạ không đối chiếu được.”

“Ồ! Sao chưa từng nghe cậu nhắc tới?” – Hàn Giang hỏi.

“Trước đó tôi đã nói với mọi người rồi, có ba địa đanh trên bản đồ cổ Tây Hạ không đối tượng với ba địa danh trên bản đồ phác thảo của Misa. Tôi dịch theo nghĩa mặt chữ Tây Hạ, vì có hai địa danh vốn không thế giải thích theo nghĩa của chữ Hán; hơn nữa, hình như cũng xa hơn một chút so với tuyến đường của Misha. Chỉ có duy nhất Hắc Thạch này, dịch theo nghĩa mặt chữ Tây Hạ, luy tên nghe rất lạ nhưng còn có thể đoán ra khả năng địa danh này có liên quan tới đá màu đen.”

“Hắc Thạch đó ở đâu vậy?”

“Dùng bản đồ cổ đối chiếu với bản đồ phác thảo của Misha, thì địa danh Hắc Thạch này chắc ở phía đông nam Nguyệt Nhi Tuyền, hơn nữa khoảng cách hình như cũng không xa lắm!” - Đường Phong lại lấy ảnh ra đối chiếu với tấm bản đồ phác tháo cúa Misha.

“Lại là Nguyệt Nhi Tuyền...” - Hàn Giang trở nên hoài nghi.

“Sao vậy, anh lại nghĩ ra gì vậy?”

"Đường Phong, hôm qua ông chủ khách sạn kê rằng người thanh niên trí thức đó nói rằng Nguyệt Nhi Tuyền có nguồn nước, nếu như anh ta nói đúng, vậy thì đội thám hiểm năm đó tới đó cũng phải có nguồn nước mới phải!”

Đường Phong gật gù: “Nhưng chỉ nói suông thì biết thể nào được, nếu như Nguyệt Nhi Tuyền có nguồn nước thật, vậy thì đó không phải là địa điểm cắm trại cuối cùng của đội thám hiểm, đội thám hiểm phải đi xa hơn.” “Như vậy không phải dễ giải thích hơn về việc Misha phát hiện thấy Hạn Hải Mật Thành sao, nên doanh trại cuối cùng của đội thám hiêm chắc phải xa hơn Nguyệt Nhi Tuyền." - Hàn Giang suy đoán.

Đường Phong xua tay: “Hiện giờ kết luận như vậy là còn quá sớm!”

“Đúng vậy, chúng ta hãy khẩn trương lên đường thôi!” - Lương Viện nói.

Ba người đi vượt qua cột mốc, đúng như ông chủ khách sạn nói, phía tây nam và phía tây bắc cột mốc mỗi bên đều có một con đường. Con đường phía tây nam rõ ràng rộng rãi hơn, vết bánh xe in trên mặt đường cũng nhiều hơn. còn con đường phía tây bắc thì gần như không trông thấy vết bánh xe nào.

Hàn Giang tỉ mẩn quan sát vệt bánh xe trên đường hướng tây bắc, hình như khône có vết bánh xe mói. Hàn Giang nghi ngờ nhìn về phía trước, sa mạc mênh mông hoang vắng, lẽ nào đây chính là đường dẫn tới Hạn Hải Mật Thành?

6

Đường Phong lái "‘con lừa bảy màu dũng mãnh"" lao như bay, kim chỉ nam la bàn điện tử đều hiển thị hướng tây bắc. Nhưng “con lừa bảy màu dũng mãnh’" sau hai tiếng đồng hồ sẽ cắt ngang, rồi lao dọc trên sa mạc mênh mông dù vẫn chưa phát hiện thấy tung tích của Cửu Lý Bảo.

"Hay là chúng ta đi sai đường?” - Lương Viện lẩm bẩm.

"Sao lại như vậy? Em xem, rõ ràng kim chì nam và la bàn đều hiển thị hướng tây bắc, không sai!” - Đường Phong lại kiêm tra kim chỉ nam và la bàn.

“Vậy tại sao lâu như vậy rồi mà vẫn chưa tới Cửu Lý Bảo?”

“Không phải chúng ta đi qua rồi chứ?” - Hàn Giang cũng nghi ngờ, nói.

“Đi qua? Không thể như vậy!” - Lương Viện nói.

"Hôm qua ông chủ khách sạn nói răng: Cửu Lý Bảo chỉ là một cái đài đốt lửa đời Hán; có khi nào trên dường đi chúng ta phóng xe nhanh quá nên không nhìn thấy?” - Hàn Giang nghi ngờ nói.

Đường Phong dừng lại, cấn thận ngẫm nghĩ: “Đã đi qua rồi? Không, không thể. Ban nãy những chỗ chúng ta đi qua đều bằng phẳng, xung quanh chẳng có gì chắn ngang. Tôi luôn để mắt ra bên ngoài cửa sổ, nếu như đài đốt lửa ở gần đây thì tôi không thể bỏ sót được!”

“Vậy thì kỳ lạ thật..- Hàn Giang lẩm bẩm.

Đúng lúc này, Lưcmg Viện bỗng kêu toáng lên làm Đường Phong và Hàn Giang giật bắn mình: “Em hét cái gì vậy?” - Đường Phong trách móc.

"Các anh mau nhìn này, kim... kim chi nam, còn cả... cả la bàn điện tử nữa!” - Lương Viện lạc cả giọng.

Lúc này Đường Phong mới kinh ngạc phát hiện ra, kim chỉ nam và la bàn điện tử ban nãy còn hiển thị hướng tây bắc mà giờ đã hoàn toàn chuyển thành hướng đông nam. Hàn Giang vội vàng kiểm tra lại GPS. Vị trí hiển thị trên GPS lại thành ở sát đường quốc lộ.

"Mẹ kiếp, thế này là thế nào?” - Hàn Giang nổi cáu. Đường Phong cũng không sao tin vào mắt mình. "Bày giờ làm thế nào?” - Đường Phong nhìn Hàn Giang.

"Tiếp tục lái xe tiến về phía trước!” - Hàn Giang hậm hực nói.

Đường Phong lại khởi động xe, không khí trong xe chìm trong im lặng, quả nhiên chưa đi được bao lâu, họ đã lại lái xe tới đường quốc lộ.

Đường Phong tiếp tục lái xe theo đường quốc lộ, nửa tiếng sau, họ lại trở về khách sạn hôm qua. Chưa kịp đợi Đường Phong đỗ hẳn xe lại. Hàn Giang đã nhảy tót xuống xe, lao vào cửa khách sạn thì thấy cửa khách sạn đã đóng chặt. Hàn Giang đạp mạnh cửa một cái, chỉ có bụi bay mù mịt, không một bóng người.

"Mẹ kiếp, chắc chắn chúng ta bị đứa nào chơi rồi!” - Hàn Giang quay trở lại xe chửi rủa.

"Lẽ nào ông chủ khách sạn cũng là người của tướng quân?" - Lương Viện hỏi.

"Chưa chắc, nhưng chắc chắn gã đó không phải là người tốt!” - Hàn Giang gào lên.

“Tức là những gì gã ta nói không đáng tin nữa?”, Đường Phong nói.

Hàn Giang thở phì phì, nhìn sa mạc mênh mông ven đường, không nói năng gì. Mãi lâu sau, Hàn Giang bỗng nói như đinh đóng cột: “Vẫn đi theo đường ban nãy!”

“Vẫn đi theo đường ban nãy? Vậy không phải chúng lại lại vòng về đây sao?” - Đường Phong không hiếu.

“Tới cột mốc đánh dấu trước đã!”

Hàn Giang nói xong liền đẩy Đường Phong sang ghế phụ, tự mình lái xe, lao thẳng vào sa mạc.

7

Chẳng mấy chốc, “con lừa bảy màu dũng mãnh” được Hàn Giang lái đã tới trước cột mốc đánh dấu. Hàn Giang dặn dò Đường Phong và Lương Viện: "‘Hai người dừng xuống xe, để tôi xuống xem sao.”

Hàn Giang leo lên cột mốc, cẩn thận quan sát rât lâu, sau đó nhảy xuống, khởi động xe, đi xung quanh cột mốc một vòng. Đường Phong vội vàng hoi: ‘‘Bây giờ chúng ta đang đi đâu?”

“Đi theo con đường phía tây!” - Nói xong, Hàn Giang nhấn mạnh chân ga, “con lừa bảy màu dũng mãnh” lại như tên bắn, lao vun vút về phía tây.

Đi được khoảng 15 phút, trên sa mạc bằng phẳng lại xuất hiện ngã rẽ. Hàn Giang nhảy xuống xe, cấn thận xem xét vết bánh xe. Vệt bánh xe in trên đường hướng tây rất nhiều, thậm chí có du khách còn dùng đá chất thành một mốc đánh dấu bên vệ đường, còn một con đường nhỏ ẩn hiện trải thì dài về hướng tây bắc.

"Mọi người nhìn, vết bánh xe trên con đường này rất nhiều, lại có một vệt mới tinh đế lại, chúng ta thử đi theo vết bánh xe mới này!” - Xem ra Hàn Giang khá tự tin.

Ba người lại lên xe, đi về hướng tây bắc. Nửa tiếng sau. Đường Phong là người đầu tiên reo lên: “Nhìn, phía trước, bên phải, bên phải có một đài đốt lửa.”

Hàn Giang và Lương Viện cũng trông thấy, trên sa mạc Gobi hoang vu bỗng đột nhiên xuất hiện một đài đốt lửa cao to. “Đó là đài đốt lửa thời Hán!" - Đường Phong nhìn ra ngay niên đại của đài đốt lưa.

Hàn Giang đánh mạnh vô lãng, lao về phía đài đốt lửa. "Con lửa bảy màu dũng mãnh" vẽ lên một đường cong tuyệt đẹp trên sa mạc Gobi mênh mông, rồi cuối cùng đồ xịch trước đài đốt lửa.

Ba người nhảy xuống xe. Lương Viện nhìn đài đốt lửa trước mặt, lẩm bẩm: ‘Đây chính là Cửu Lý Bảo?” "Chắc là vậy!” - Hàn Giang nhìn kim chỉ nam và la bàn điện tử, lần này phương hướng không sai.

Mãi lâu sau, hai người không thấy Đường Phong nói năng gì mới quay lai nhìn. Đường Phong bỗng nói:

"Tôi ngốc thật đây!” - Hàn Giang và Lương Viện đều ngạc nhiên nhìn Đường Phong. Đường Phong giải thích: “Hôm qua chúng ta hỏi thăm ông chủ khách sạn về tình hình của Cửu Lý Bảo, ông ta có thể nói chính xác đó là một đài đốt lửa đời nhà Hán, vậy mọi người nghĩ mà xem, một người không có kiến thức gì về lịch sử và khảo cổ học, kể cả đã từng tới Cửu Lý Bảo chăng nữa, thì có

nói ngay ra đó là một cái đài đốt lửa đời nhà Hán được không?”

"Đúng vậy! Nếu như vậy thì gã đó chắc chắn có vấn đề.” - Hàn Giang nói.

“Hừm, em mới đáng thương, bị lão đó lừa mất hơn 100 tệ!” - Giờ thì Lương Viện đã bắt đầu cảm thấy tiếc tiền.

‘Hơn 100 tệ đối với em thấm gì đâu!” - Đường Phong cười khiến Lương Viện nối giận cho anh mấy cái đấm.

Tuy rất thất vọng, nhưng Đường Phong vẫn hết sức cẩn thận đi một vòng để quan sát đài đốt lửa thời nhà Hán. Hình dáng của nó chắc chắn được xây dựng từ đời Hán, nhưng xung quanh đây, Đường Phong không phát hiện thấy bất cứ văn vật nào của đời nhà Hán. Trước tiên, Đường Phong muốn xác định xem đây có phải là Cửu Lý Bảo trên bản đồ cổ Tây Hạ và bản đồ phác thảo của Misha hay không, nhưng không có bất cứ văn vật hay chứng cứ nào, vậy làm thế nào để chứng minh đây?

Đường Phong vòng tới góc tây bắc lò đốt lửa, phát hiện ở đây đã sụp đổ, chỗ đổ nát để lộ ra một cửa hang không to lắm. Đường Phong bò tới cửa hang, nhìn vào bên trong, trong đó tối om om. Đường Phong quay lại nói với Lương Viện: “Đèn pin”.

Lương Viện đưa ngay cho Đường Phong một chiếc đèn pin. Nhờ ánh sáng đèn pin, Đường Phong mới nhìn rõ tình hình bên trong hang. Không gian trong đó không rộng lắm, tích đầy bụi bặm, Đường Phong đoán rằng đỏ đều là bụi đất lúc đài đốt lửa đọ nát rơi xuống. Đường Phong vẫn cẩn thận quan sát, trong đống bụi đất thấp thoáng hiện lên vài thứ trông giống ván gỗ, anh muốn lấy tay với những thứ đó. nhưng khi thử với thì không được. Trừ khi khoét cửa hang to thêm một chút, nhưng Đường Phong lại không muốn thêm một lần phá hoại đài đốt lửa này, dù sao nó cũng đã âm thầm sừng sừng ở đây hơn hai nghìn năm rồi.

Đúng lúc Đường Phong đang chần chừ, do dự thi Lương Viện lên tiếng: "Để em!”

"Em? Đến anh còn không với được, em với kiếu gì?” - Đường Phong nghi ngờ.

“Anh ôm lấy em, em thò người vào trong hang không phải sẽ với được sao!”

Đường Phong ngẫm nghĩ, ý tưởng này không tệ. Vậy là anh ôm lấy vòng eo nhó xíu của Lương Viện, chuẩn bị chui vào trong hang.

“Ôm chặt chút!" - Lương Viện kêu lên.

“Anh đã ôm chặt lắm rồi đấy!” - Giọng Đường Phong có vẻ thành thật, khiến Hàn Giang đứng sau lưng cười sằng sặc.

“Cười cái gì mà cười! Có giỏi thì anh làm đi!’- Đường Phong gào lên với Hàn Giang.

“Tôi chịu, cậu cứ làm đi, cậu ôm thì hai người chăc chắn sẽ phối hợp ăn ý!”

Lương Viện đã chui đầu vào trong cửa hang, Đường Phong ôm chặt lấy eo cô, khẽ nhắc: “Cẩn thận!’" - Đường Phong vừa dút lời, Lương Viện đã chui được nửa người vào trong hang và bỗng hét toáng lên.

8

Đường Phong thấy Lương Viện la hét liền vội vàng dốc hết sức kéo cô lại. Lương Viện mắt nhắm tịt vẫn la hét, Đường Phong giật thót tim, quan tâm hỏi: “Sao vậy, em bị thương ở đâu?”

Lương Viện thấv bộ dạng căng thẳng của Đường Phong, đột nhiên im bặt, mặt tươi hớn hở.

“Em cười ngô nghê cái gì thế?” - Đường Phong bị Lương Viện làm ụ mị cả đầu óc.

“Em thử xem khả năng phản ứng của anh thế nào thôi! Không tồi, phản ứng rất nhanh nhạy!” - Lương Viện càng cười thích thú hơn.

"Ban nãy em hét xém chút làm anh sợ chết khiếp đấy!” - Lúc này Đường Phong mới hiểu ra mình bị Lương Viện lừa.

“Thì để thử xem anh có quan tâm đến em không! Rất khá, kết quả trắc nghiệm làm em rất hài lòng!”

“Em rất hài lòng nhưng anh thì không" - Đường Phong có chút tức tối.

‘Em lấy được cái này, xem anh có hài lòng không nhé?” - Lương Viện nói xong, giống như làm ảo thuật vậy, lấy từ sau lưng ra một tấm ván gỗ.

“Đây là một tấm ván gỗ đời nhà Hán”.

“Tấm ván gỗ là thứ gì vậy?” - Lương Viện hỏi.

uTấm ván gỗ giống như thẻ tre, đây là công cụ ghi chép chủ yếu từ đời Đông Chu tới đời Ngụy Tần, ở đây khô hạn ít mưa nên ván gỗ này mới có thế bảo tồn được lâu như vậy!” - Đường Phong giải thích.

"‘Vậy trên đó viết gì?”

Đường Phong phủi bụi trên bề mặt tấm gồ. lờ mờ trông thấy một dòng chữ: ""Cự diên... Cửu Lý Đôn”.

Đường Phong kiểm tra xong tấm ván gỗ lại bảo Lương Viện đặt về đúng vị trí cũ, tiện thể cũng thử xem có thứ gì khác không. “Lại bắt em chui vào đấy?” - Lương Viện chu mỏ, hình như có chút bất mãn.

“Có anh bảo vệ em, không phải sợ!” - Đường Phong nói xong liền ôm eo Lương Viện từ phía sau. Sự bất mãn của Lương Viện cũng biến mất, cô lại ngoan ngoãn chui vào trong đài đốt lửa. Lần này, Đường Phong đợi hơi lâu, anh không biết Lương Viện làm gì trong đó. “Em đang nghịch ngợm cái gì vậy, sao lâu thế?”

Lương Viện bỗng rùng mình một cái, ngay lập tức, Đường Phong lại nghe thấy tiếng hét chói tai, lần này, Lương Viên còn hét to hơn lần trước, như muốn đứt cả gan ruột. Nhưng lần này Đường Phong cũng có kinh nghiệm rồi, không bị Lương Viện lừa nữa. Anh không kéo ngay Lương Viện lên, ngược lại còn cười, nói: Cha em chưa kể cho em nghe câu truyện “Sói đến rồi” sao?”

Ai ngờ chân Lương Viện quây đạp tứ tung, rôi từ la hét chuyển thành khóc lóc: “Rắn! Có rắn...’’ – Lương Viện mếu máo.

Lúc này Đường Phong mới ý thức được xảy ra chuyện, vội vàng kéo Lương Viện lên, nhưng chân Lương Viện vẫn quẫy đạp lung tung, không chịu phối hợp. Đường Phong lúc đó cũng cuống cả lên, may mà có Hàn Giang kịp thời xông tới, hai người cùng dôc sức mới kéo được Lương Viện lên.

Lương Viện vừa trông thấy Đường Phong, vừa khóc vừa hét, đấm bùm bụp vào ngực anh: ‘Anh, anh thấy chết mà không cứu, lại còn cười em..

Đường Phong thấy bộ dạng Lương Viện như vậy, vội vàng quan tâm, hỏi: "Có bị thương không?”

Thấy Lương Viện không sứt mẻ gì, cũng chẳng bị thương ở đâu, Đường Phong mới yên tâm trở lại. Lương Viện vẫn khóc lóc, Đường Phong ôm cô vào lòng. Mãi lâu sau, Lương Viện vẫn đang ở trong lòng Đường Phong mới thôi thút thít.

“Rắn đâu? Lấy đâu ra rắn?” - Hàn Giang chui đầu vào trong hang, quan sát hồi lâu cũng không trông thấy bóng dáng con rắn nào cả.

“Ban... ban nãy ở trong hang, em định.. định tìm kiếm thêm, xem có văn vật nào không, nhưng em vừa mới bới đống đất cát phía đông lên thì có một con rắn chui... chui ra!” - Lương Viện vẫn còn hoảng hốt.

"Sao ở đây lại có rắn được nhỉ?” - Hàn Giang nghi ngờ không hiểu.

‘‘Thật mà, nó dài bằng chừng này này!’" - Lương Viện còn lấy tay ra hiệu.

Hàn Giang lại chui vào trong động ngó lại lần nữa, nhưng vẫn không trông thấy bóng dáng con rắn đâu cả. "Được rồi, không việc gì là tốt rồi, lần sau những việc cực nhọc bẩn thỉu hãy để Đường Phong làm hết!" - Màn Giang an ủi Lương Viện.

"Được được! Lần sau những việc cực học bẩn thỉu để anh làm hết!” - Đường Phong đành phải ra sức vỗ về Lương Viện đề cô quệt nước mũi, tươi cười trở lại.

Lương Viện bỗng nhớ ra gì đó, cô lấy một đồng tiền xu đang nắm chặt trong lòng bàn tay ra. Mắt Đường Phong sáng lên: "Đây là gì vậy?”

“Em tìm thấy đồng xu này trong đống đất cát, em nghĩ nó sẽ có ích cho chúng ta, nên mói giữ nó khư khư trong tay."

Đường Phong vốn tưởng rằng đây là một đồng xu thời Hán, nhưng khi Lương Viện đặt nó vào tay anh thì lúc này Đường Phong mới phát hiện ra đây không phải là tiền xu thời Hán, mà là một đồng tiền xu hiếm thấy. Hay nói chính xác hơn, đây là một đồng tiền xu Tây Hạ hiếm thấy - đồng tiền Quang Định Nguyên Bảo.
 

hoahongden12

Active Member
Tử Thư Tây Hạ
Quyển 4 - Chương 4: Lang oa

Đến thời Hốt Tất Liệt, mấy chục năm sau Mông Cổ diệt vong Tây Hạ, triều Nguyễn đã sớm thống nhất thiên hạ, lúc đó quân Nguyên rất lớn mạnh, vô địch thiên hạ. Vậy ở đây còn gì có thế tồn tại khiến quân Nguyên gặp phải đại địch như vậy?

1

Đường Phong miết miết đồng tiền xu Tây Hạ, im lặng không nói năng gì. Hàn Giang đợi mãi sốt ruột, thúc giục: "Chỉ có mỗi đồng tiền xu mà sao phải nhìn kĩ thế?”

Đường Phong cất tiền xu đi: “Nếu như ở đây được các nhà khảo cổ khai quật thì tốt quá!”

“Đừng nằm mơ, hiện giờ chúng ta lấy đâu ra cơ hội đấy!" - Hàn Giang nói không chút khách khí.

"Đúng vậy, nhưng chỉ cần dựa vào tấm ván gỗ ban nãy và đồng xu này, chúng ta đã có thể nhìn ra rất nhiều vấn đề rồi. Trước tiên, chữ trên tấm ván gỗ chứng minh ràng đây chính là Cửu Lý Bảo, hơn nữa từ thời nhà Hán, ở đây chính là chốt biên phòng quan trọng; còn đồng tiền xu được phát hiện thấy này lại cho thấy, mãi tới thời Tây Hạ vẫn có người hoạt động ở đây, thậm chí có khả năng trong thời Tây Hạ ở đây vẫn là một chốt biên phòng quan trọng!” - Đường Phong mạnh dạn suy đoán.

"Sao lại như vậy? Đài đốt lửa do người Hán xây dựng mà tới thời Tây Hạ vẫn sử dụng?" - Hàn Giang lắc đầu lia lịa.

“Hoàn toàn có khả năng này!”

"Kể cả có khả năng này thì sao nào?’’

"Điều này nói lên rằng: thứ nhất, đây chính là Cửu Lý Bảo, chúng ta đã đi đúng đường; thứ hai, ở đây trong thời Tây Hạ có người Đảng Hạng hoạt động, từ đó chúng ta có thể suy đoán rằng: rất có thế trong thời Tây Hạ đây chính là một chốt biên phòng quan trọng kết nối giữa Hạn Hái Mật Thành và Hưng Khánh Phủ!" - Đường Phong nói tới đây rồi nhìn vào Hàn Giang: "Được rồi, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ ở Cửu Lý Bảo rồi, tiếp theo tới lượt anh đó!”

"Hừm, cậu tưởng ban nãy tôi nhàn hạ lắm chắc, lúc kiểm tra đài đốt lửa, tôi đã phát hiện thấy vết bánh xe xung quanh đây.” - Hàn Giang nhảy xuống đài đốt lửa, đi tới ven đường, anh nói: “Vết bánh xe đi cùng với chúng ta kéo dài từ cột mốc đánh dấu tới Cửu Lý Bảo, sau đó giống hệt như tôi lái, vòng qua Cửu Lý Bảo một vòng rồi lái về hướng tây bắc.”

"Lang Oa? Họ cũng tới Lang Oa?" - Đường Phong lập tức nghĩ tới Lang Oa ở trạm sau. 

“Tôi nghĩ vậy, nhưng tôi muốn đặc biệt chỉ ra rằng, tiếp tục đi về hướng tâv bắc sẽ hoàn toàn không còn đường nữa.”

“Không còn đường?” - Đường Phong và Lương Viện không hẹn mà gặp, cùng nhìn về hướng tây bắc. Trên mặt đất gần như không nhìn thấy đường đi, chỉ có bánh xe kéo dài về hướng tây bắc.

“Vậy chúng ta còn chờ đợi gì nữa? Cũng đi về hướng tây bắc thôi!" - Lương Viện hình như đã lấy lại dũng khí.

“Đúng vậy, chúng ta phải đi theo hướng tây bắc, nhưng ở đây tôi bắt buộc phải nhắc nhở hai người một câu, hai người có nghĩ tới vết bánh xe mới xuất hiện ở đây là của ai không? Tại sao không chút do dự tiến thẳng về phía Lang Oa vốn không có đường đi?” - Hàn Giang ưu tư hỏi.

“Tất nhiên không phải người bình thường rồi, chắc hẳn là người cũng hứng thú với Hạn Hải Mật Thành, tôi thấy khả năng lớn là xe của Tướng quân!” - Đường Phong suy đoán.

Hàn Giang cũng không nói thêm gì nữa, chỉ nhún vai. sau đó chui vào buồng lái, khởi động lại “con lừa bảy màu dũng mãnh’ rồi lao thẳng vào sâu trong sa mạc.

2

“Con lừa bảy màu dũng mãnh” cả đường đi xóc long sòng sọc, tiếng máy xe kêu ầm ầm hòa cùng tiếng 

gió ngoài cửa sổ khiến ba người đều im lặng. Đi mãi cho tới tận buổi trưa, Hàn Giang giảm tốc độ xe. “Sao vậy, anh nhìn thấy Lang Oa rồi à?’" – Đường Phong lớn tiếng hỏi Hàn Giang.

"Tôi cảm thấy chắc cũng gần đến rồi, theo như cậu phân tích thì Lang Oa chắc phải là một vùng trũng, thậm chí còn là một cái đầm nước, bên đường không có kiến trúc nào nhô lên, bởi vậy chúng ta ngồi trong xe khả năng sẽ không nhìn thấy Lang Oa!” - Hàn Giang lớn tiếng nói.

Đường Phong nhìn chăm chú ra ngoài cửa sổ, toàn là sa mạc mênh mông: "‘Chúng ta phải mau lên thôi, tôi không muốn đêm nay qua đêm ở Lang Oa đâu.”

"Ý cậu là đêm nay chúng ta sẽ qua đêm ở Thiên Hộ Trấn?" - Hàn Giang hỏi lại.

"Chậm nhất chúng ta cũng phải tới Thiên Hộ Trấn, nếu không thì khả năng chúng ta phải bầu bạn với sói đấy!”

"Đường Phong, cậu có nghĩ rằng nếu đêm nay chúng ta có thể tới Thiên Hộ Trấn thì nhanh quá không? Cậu nên nhớ rằng, năm đó đội thám hiểm cũng có xe vận tải, tuy tốc độ không nhanh bằng xe Jeep của chúng ta, nhưng theo như những gì Misha ghi chép lại, thì đoạn đường đó họ đã đi mất bốn đến năm ngày!” - Hàn Giang phát hiện thấy địa hình ở đây đang cao dần lên.

Lời nhắc nhở của Hàn Giang khiến Đường Phong trở nên bình tĩnh hơn: ‘‘Đúng vậy! Với tốc độ của chúng ta hiện giờ, có khi..."

“Có khi gì cơ?”

"Có khi vẫn còn những khó khăn mà chúng ta chưa gặp”.

Vừa dứt lời, Đường Phong liền có cảm giác là cả chiếc xe như bay lên, sau đó rơi bịch một cái xuống đất. Đường Phong cảm thấy lục phủ ngũ tạng của mình đều lộn tung cả lên.

“Mẹ kiếp, thế này là thế nào?” - Hàn Giang chửi rủa, không thể không đi chậm lại.

Đường Phong phát hiện thấy ban nãy họ vừa vượt qua một con dốc, xe bây giờ bắt đầu lao xuống,nhưng điều khiến Đường Phong kinh ngạc hơn chính là phía trước mũi xe, anh đã nhìn thấy sa mạc thực sự, cát vàng mênh mông, và tốc độ xe càng lúc càng chậm. Đường Phong lẩm bẩm: “Giờ thì tôi đã biết tại sao đội thám hiểm năm đó đi mất mấy ngày rồi.”

"Bởi vì phía trước toàn là những đồi cát di động!” - Hàn Giang cũng đã hiểu ra.

"Ừm, xe Jeep thông thường e rằng cũng rất khó vượt qua được những đồi cát di động này, chứ đừng nói tới xe vận tải của đội thám hiềm năm đó.”

“Vậy chúng ta phải làm thế nào? Lẽ nào phải cưỡi lạc đà sao? Em sợ nhất là cưỡi lạc đà đấy!” - Lương Viện cuống quýt cả lên.

‘"Em nằm mơ đấy à, bây giờ chúng ta cướp đâu ra lạc đà!” - Đường Phong nói.

"Bây giờ mà có xe tăng thì tốt quá, hay ít nhất là cũng phải có xe ủi đất!” - Hàn Giang càu nhàu. 

“Anh còn nằm mơ kinh hơn đấy, đừng nói tới xe tăng, đến xe chở rác cũng không có đâu!" - Đường Phong lại nói tiếp: “Nhưng may mà chiếc xe của cậu bạn tôi đây đã được độ qua. nên lốp xe to hơn những xe Jeep thông thường, phù hợp đi trên sa mạc. Tôi nhắm nó cũng vì điểm này, nên mới mượn ‘con lừa dũng mãnh" đấy".

Hàn Giang cười: "Cậu khỏi phải nói, lái nó cả đoạn đường ban nãy tôi cũng nhận ra rồi. Chiếc xe này cúa bạn cậu nhìn thì có vẻ rách nát, nhưng lúc lái công nhận cũng khá ổn.”

“Đúng vậy! Cuối cùng anh cũng nhận ra!” - Đường Phong có chút đắc ý.

“Chỉ... chỉ có điều đáng tiếc là, nó không quay về được nữa rồi.”

"Anh nói vậy tôi chẳng muốn nghe chút nào, tại sao cứ bảo "con lừa dũng mãnh" này không về được nhỉ? Nếu nó không quay về được, thì chúng ta có thể quay về không? Nói câu gì may mắn chút đi!” - Đường Phong bất mãn kêu lên.

“Tôi biết là phải nói câu gì đó may mắn, nhưng cậu xem chuyến đi này của chúng ta có may mắn nổi không?” - Hàn Giang nói xong liền dừng xe lại.

“Tại sao anh lại dừng xe lại?” - Đường Phong không hiểu, hỏi.

"Cậu không cám thấy hình như chúng ta đã tới Lang Oa rồi sao?” - Hàn Giang nhìn chăm chú xung quanh. 

Lúc này Hàn Giang mới phát hiện ra: hình như họ đã tới một vùng trũng. Đường Phong và Lương Viện cũng trở nên căng thẳng. “Sao chúng ta lại tới Lang Oa được nhỉ?” - Đường Phong lấy kính viễn vọng ra, ngắm vùng trũng xung quanh.

“Chúng ta... chúng ta không bị sói bao vây chứ?” - Giọng Lương Viện đầy hoảng hốt.

Hàn Giang cũng không hiểu, mình cứ lái cứ lái như vậy mà lại tới một chỗ trũng rộng lớn thế này. Hiện giờ xe họ đang ở chính giữa vùng trũng này.

3

Hàn Giang rút con dao găm ra, nhảy xuống xe.

Xung quanh là những cồn cát cao lớn, chỉ có hướng đông nam ban nãy họ đi qua mới giống như vách đá rắn chắc.

Ở đây tĩnh lặng tới nỗi có thể nghe thấy cả tiếng tim đập. Đường Phong và Lương Viện cũng ra khỏi xe, ba người cân thận quan sát xung quanh. ""Ban nãy tôi đã đi theo vết bánh xe đó vào đây!” - Hàn Giang khẽ nói.

“Nhưng bây giờ không trông thấy vết xe đó đâu nữa!” - Hàn Giang vòng ra phía sau xe, anh phát hiện phía sau xe chỉ còn lại một vệt bánh xe rõ nét, đây chính là của "con lừa dũng mãnh” để lại.

“Đúng vậy, sao vết bánh xe đó lại đột nhiên biến mất nhỉ?” - Hàn Giang trở nên nghi ngờ, rồi bước lên phía trước.. Sau khi họ đi được khoảng hơn ba chục bước,  

trên mặt cát lại xuất hiện một vệt bánh xe. chỉ... chỉ có điều vệt bánh xe này có chút kỳ dị.

“Vệt bánh xe này không phải là của chiếc xe ban nãy!” - Hàn Giang quả quyết phán đoán.

"Thế... thế này là thế nào?” - Đường Phong không sao tin được.

"Tôi có thể chắc chắn rằng, vết bánh xe mới xuất hiện trước mặt chúng ta đây là của một chiếc xe khác!” - Hàn Giang nói rất chắc chắn.

"Thật đáng sợ, lẽ nào còn có một hội khác?” - Lương Viện ngạc nhiên.

Lúc này Đường Phong cũng đã nhìn ra manh mối, vết bánh xe vừa xuất hiện trước mắt họ quả thực không giống với vết bánh xe mà họ đi theo tới đây, thế nhưng vết bánh xe mới xuất hiện mọc từ đâu ra? Ánh mắt của Đường Phong lần theo vết bánh xe trước mặt, và hướng tới tận lên trên đồi cát phía nam, vì vết bánh xe trải dài mãi về hướng đó... Đột nhiên, lúc ánh nắng chính ngọ chiếu rọi tới nỗi không thể mở nổi mắt, Đường Phong phát hiện thấy một con sói đang đứng sừng sững trên đồi cát. Đây là một con sói gầy gò. Đường Phong đã từng trông thấy sói ở núi tuyết A Ni Mã Khanh và gặp không ít chủng loại sói, nhưng chưa từng trông thấv sói trên sa mạc. Hình như do chúng bị thiếu thức ăn nên rõ ràng không đủ dinh dưỡng, hoặc do bị nắng nóng sa mạc thiêu đốt làm cho gầy nhom. Nhưng dưới cái nắng thiêu đốt này, Đường Phong vẫn cảm thấy ớn lạnh. Sau đó, anh lại phát hiện thêm một con sói trên đồi cát phía nam, rồi hai con, ba con, bốn con, năm con, sáu con...

Cổ của Đường Phong vẫn có thể chuyển động bình thường nên khi nhìn lên phía trên đồi cát anh phát hiện thấy phía đông, phía bắc, phía tây đều xuất hiện sói, họ đã bị bầy sói đói khát bao vây.

Hàn Giang và Lương Viện cũng đã phát hiện thấy sói. Đường Phong che chắn cho Lương Viện, ba người chầm chậm rút lui về phía ô tô. Mỗi bước chân giật lùi, Đường Phong đều vô cùng cẩn thận, lo sợ kinh động tới bầy sói sẽ khiến chúng đồng loạt lao về phía anh.

“Ở đây đúng là Lang Oa rồi, trên sa mạc không có thức ăn mà lại có bầy sói này nhỉ!” - Lương Viện lẩm bẩm.

‘Không phải chúng ta đang đem thức ăn tới cho bọn chúng sao?” - Đường Phong ra vẻ trấn tĩnh.

Năm phút sau, rốt cuộc ba người cũng đã lùi lại tới bên cạnh xe. Bọn sói không tấn công họ, nhưng Hàn Giang vẫn nắm chặt con dao găm trong tay, còn Đường Phong lại lấy người che chở cho Lương Viện. Ánh nắng chỉnh ngọ chói chang lóa mắt... Đúng lúc ngàn cân treo sợi tóc, trên sa mạc bỗng vang lên một âm thanh kỳ lạ, giống như tiếng huýt sáo, nhưng không phải. Sau khi âm thanh này vang lên, bầy sói vốn đang bao vây xung quanh đồi cát, loáng cái đã không thấy bóng dáng đâu nữa.

Đường Phong nhìn xung quanh, không thấy con sói nào cả. Lúc này, Hàn Giang bỗng phản ứng, anh hét lên:

“Trên đó chắc chắn có người, lên xe, đuổi theo!”. 

Ba người nhảy lên xe, Hàn Giang lái xe lao lên đồi cát phía nam, bánh xe trơn tuồn tuột trên dốc cát. Thấy bánh xe sắp lún trong cát. Hàn Giang hét lên với Đường Phong: “Xuống đẩy mau!”.

Đường Phong và Lương Viện dốc hết sức, rốt cuộc cũng đấy được chiếc xe lên khỏi nền cát mềm nhũn. Nhưng tới khi họ lao được lên đồi cát phía nam thì chẳng thấy ai cả, chi có bầy sói đó giờ đang tụm lại với nhau.

4

Bầy sói gầy gò đang ớ cách nhóm Đường Phong khoảng ba mươi mét, đứng bất động chằm chằm nhìn họ. Ánh nắng trên sa mạc càng lúc càng gay gắt, Đường Phong cũng ngớ người ra, anh hỏi Hàn Giang: ‘"Chúng ta phải làm thế nào?’’

‘Kỳ lạ! Âm thanh ban nãy chắc chắn không phải là của bầy sói!’" - Hàn Giang khẳng định.

"Anh nghi ngờ có người đang khống chế bầy sói này?” - Đường Phong bỗng nhớ tới truyền thuyết có người đã từng thuần hóa sói, nhưng anh vẫn không thể tin ai đó có thể khống chế bầy sói đói khát này.

“Lao tới xem sao!” - Hàn Giang cũng không tin. Hàn Giang bỗng tức tốc tăng tốc, lao thẳng tới bầy sói cách đó ba mươi mét. Nhưng Đường Phong và Hàn Giang lại kinh ngạc khi phát hiện ra: đúng lúc họ tăng tốc thì bầy sói cũng tăng tốc rút lui về phía nam; chúng 

nhanh nhẹn mà quyêt đoán, sát cánh không rời, không lao về phía nhóm Đường Phong. Đường Phong không hiểu: “Bầy sói này định làm gì vậy?”

‘Chúng là những chiến sỹ có tố chất được huấn luyện!” - Hàn Giang bỗng thốt lên một câu vô căn cứ.

“Nghĩa là sao?” - Đường Phong không hiểu ý Hàn Giang.

“Khi kẻ thù lao tới chúng, chúng vẫn giữ bình tĩnh

cao độ, không bỏ chạy toán loạn mà duy trì đội hình rút

lui, dây không phải là những chiến sỹ có tố chất huấn luyện sao?”

“Nhưng tại sao chúng không tấn công chúng ta?,? - Đường Phong không hiểu.

Hàn Giang đang định nói tiếp thì đột nhiên, chiếc xe khẽ rung lên, ngay sau đó, mọi người đều cảm thấy chiếc xe nghiêng hẳn sang một bên. Đường Phong và Lương Viện hoảng hốt nhìn Hàn Giang. Hàn Giang đập mạnh xuống vô lăng: “Mẹ kiếp, chúng ta bị bầy sói tính sổ rồi!”

Đường Phong thấy bầy sói vẫn ở chỗ cách họ ba mươi mét, chằm chằm nhìn họ, còn xe của họ chẳng mấy chốc đã hết nghiêng ngả. Đường Phong đã hiểu ra vấn đề, chắc chắn là nổ lốp.

Ba người bị kẹt trong xe, không có cách nào tiến lên, cũng không dám ra ngoài thay lốp. Cứ kéo dài như vậy hơn mười phút, họ ngồi trong chiếc xe nóng hầm hập. Hàn Giang đã nhẫn nại tới đỉnh điểm, anh rút dao găm ra, nhảy xuống xe, nhưng khi chân anh vừa chạm cát thì bầy sói bao vây xung quanh lập tức tản ra, thành một hình vòng cung, từ từ bao vây Hàn Giang và chiếc xe.

Đường Phong ngồi trong xe, lo lắng cho Hàn Giang tới toát cả mồ hôi, anh trông thấy Hàn Giang nắm chặt con dao, tiến vài bước. Đường Phong tưởng rằng Hàn Giang đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc quyết đấu với sói hoang. Ai ngờ, sau khi Hàn Giang cầm con dao găm huơ huơ vài đường về phía bầy sói, rồi liền chạy chui tạt vào trong xe. Hai con sói với tốc độ nhanh không tưởng, đuổi sát Hàn Giang lao tới xe. Khi Hàn Giang vừa đóng cửa lại, hai con sói đã lao nhoài lên cửa kính, hú lên chu chéo.

Đường Phong run lập cập, anh hoảng hốt sờ khắp người, đến một vũ khí phòng thân cũng không có, anh rên rỉ liên hồi: "Thật không ngờ anh cũng có lúc sợ sệt như vậy, ban nãy tôi còn tưởng ràng anh định quyết đấu với lũ sói cơ đấy!”

“Tôi bị bại não chắc! Một người đấu với cả lũ sói đói khát như vậy, tôi cũng là người mà, cậu có hiểu không hả? Tiểu tử, đã là người thì phải biết lúc nào nên sợ hãi lúc nào nên quang minh chính đại!” - Hàn Giang gào lên xong, hất hất cằm về phía bình bọt cứu hỏa ở đuôi xe: ‘Lập tức đấu thật bây giờ đấy, tôi không lo được cho hai người nữa đâu, hai người lấy cái bình cún hỏa này mà phòng thân nhé!"

“Này, có phải anh biết trước sẽ gặp sói đúng không?" - Đường Phong hét lên với Hàn Giang.

“Mơ à! Tôi mà biết bói toán thì giờ đã không mắc kẹt trong này!”.

Đường Phong bó tay, anh phát hiện thấy Lương Viện đã lấy bình cứu hỏa ở đuôi xe, đang ôm khư khư: “Em cứ ôm lấy nó đi, nhưng em có biết cách dùng không đấy?”

Lương Viện nhìn Đường Phong đờ đẫn lắc đầu, nhưng ngay sau đó cô nói tiếp: “Em không biết dùng, nhưng em biết dùng cái này đánh sói”.

"Hừm, em còn đòi đánh sói?” - Mặt Đường Phong nản.

"Sao không...”

Lương Viện đang định nói nữa thì Hàn Giang liền hất hất tay, ra hiệu cho họ im lặng. Lúc này, họ loáng thoáng nghe thấy một âm thanh kỳ lạ, ba người lặng yên lặng nghe. Âm thanh đó hình như ở rất xa, nhưng bầy sói đang vây xung quanh xe vừa nghe thấy âm thanh này liền lập tức rút lui, lại quay trở về cự ly cách xe ba mươi mét, tập hợp hoàn chỉnh. Âm thanh kỳ lạ lại vang lên từ đâu trong sa mạc, và ngay sau đó, một cảnh tượng khiến Đường Phong kinh ngạc đã xuất hiện: bầy sói đồng loạt rút lui về hướng nam như có tổ chức, loáng một cái đã biến mất khỏi tầm mắt.

5

Đợi bầy sói rút hết khỏi tầm mắt. Đường Phong đang hồn xiêu phách lạc mới bình tĩnh trở lại: “Thế này là thế nào? Sao bầy sói lại tản đi mất nhỉ?” 

"Ban nãy cậu không nghe thấy âm thanh vọng lại từ sâu trong sa mạc sao?” - Hàn Giang vẫn nắm chặt con dao găm trong tay.

“Nghe thấy rồi, hình như tổng cộng vọng lại hai lần, giống như mệnh lệnh vậy. Lần thứ nhất bầy sói lui trở về, lần thứ hai lại là mệnh lệnh di tản!” - Đường Phong suy đoán.

"Ảm thanh gì mà lại vang xa như vậy nhi? Hơn nữa lại còn khiến bầy sói nghe theo?” - Hàn Giang lẩm bẩm.

Đường Phong cũng chìm trong suy tư. Lương Viện lại nói: "Nhưng chúng ta không trông thấy người nào quanh đây mà?”

Lương Viện nói vậy đã thức tinh Đường Phong và Hàn Giang. Hàn Giang mở cửa xe, nhảy xuống, quan sát xung quanh. Lúc này, ánh nắng không còn gay gắt như ban nãy, trên sa mạc ngoài cát vàng cuồn cuộn thì lấy đâu ra bóng người?

Đường Phong và Lương Viện cũng nhảy xuống xe, lúc này ba người mới phát hiện lốp xe bên phải đằng trước bị một tấm ván sắt có đinh đâm thủng một lỗ lớn. Ngay sau đó, Đường Phong lại phát hiện dưới nền cát phía trước lốp phải cũng xuất hiện vài tấm ván sắt cắm đinh như vậy. Đường Phong nhặt một tấm ván sắt lên, cân thận quan sát, tuy nó không hoàn toàn hoen rỉ, nhưng có thể nhận ra những tấm ván sắt này cũng tồn tại khá nhiêu năm rồi. “Đây rõ ràng không phải là mới chế ra!” - Đường Phong nói.

“Ồ! Lẽ nào cũng từ thời cổ đại?” - Lương Viện ngạc nhiên hỏi.

“Đây rất giống ván đinh trong chiến tranh thời cổ đại, chôn xuống để bẫv kỵ binh, dùng để ngăn chặn sự tấn công của kỵ binh.” - Đường Phong phán đoán.

"Nhưng sao thứ này lại xuất hiện ở đây nhỉ?” – Hàn Giang hỏi.

“Làm sao tôi biết được, có thể được để lại từ thời cổ đại, có thể là những người khống chế bầy sói chôn xuống, mục đích là để làm nổ lốp xe của chúng ta, đê chúng ta bị kẹt trong Lang Oa!” - Đường Phong nói.

“Nhưng hai điều đó đều không hợp lý, nếu như chúng được để lại từ thời cổ đại, thì ở đây cũng không phái là chốt điểm quân sự gì, vậy thì ai chôn ván sắt xuống đây làm gì? Thêm nữa, nếu như có người cố ý hàm hại chúng ta, thì tại sao lại dùng thứ cổ lỗ sĩ này làm gì? Bây giờ có bao nhiêu thứ tốt hơn, thà chôn một quả lựu đạn còn hơn, cho chúng ta nổ bắn cả lên trời!” - Hàn Giang không hiểu.

Đường Phong trầm tư một lúc rồi nói: “Tôi thấy tấm ván sắt này tuy chưa hoen rỉ, do trong sa mạc khô hạn ít mưa, nhưng thực ra tấm ván sắt này có niên đại lâu đời rồi.”

“Lâu là bao lâu?” - Hàn Giang hỏi.

“Tôi thấy rất có khả năng là đồ của Tây Hạ hoặc từ đời nhà Nguyên. Nhà Minh và nhà Thanh chưa từng xảy ra chiến tranh trên vùng đất này. Thời Dân quốc tuy ở đây xuất hiện thổ phỉ, nhưng nhìn hình dạng của ván  

sắt này thì không giống đồ vật của thời Dân quốc, bởi vậy, rất có khả năng là đồ của Tây Hạ hoặc triều Nguyên. Trong lịch sử thì chiến sự có quy mô lớn nhất từng xảy ra ở đây, khả năng chính là trận chiến Thành Cát Tư Hãn diệt vong Tây Hạ.”

“Hình như Đại Lạt ma đã từng nhắc đến!” - Hàn Giang nói.

“Đúng vậy, Thành Cát Tư Hãn tùng sáu lần đánh bại Tây Hạ, người Mông cổ quét sạch Âu Á, nhưng không có quốc gia nào giống như Tây Hạ, để Thành Cát Tư Hãn sáu lần chinh phục. Thành Cát Tư Hãn trong lần cuối cùng tấn công Tây Hạ, cũng đã ngã ngựa bị thương và chết tại Tây Hạ. Rồi còn những tuyến đường mà Thành Cát Tư Hãn nhiều lần tấn công Tây Hạ, chính là từ cao nguyên Mông cổ xuyên qua sa mạc Gobi mênh mông, vòng tới phía sau Tây Hạ, đánh du kích Tây Hạ.”

“Bởi vậy anh nghi ngờ người Đảng Hạng từng dùng ván sắt để ngăn chặn kỵ binh của Thành Cát Tư Hãn?” - Hàn Giang hói lại.

Đường Phong gật gù: "Ban nãy tôi xem qua rồi, đi tiếp về phía trước, dưới cát có rất nhiều những ván sắt cản ngựa thế này; mà nếu có thể sử dụng ván sắt với quy mô lớn như vậy, nhất định phải là chiến sự quy mô lớn, chắc chắn không phải là do thổ phỉ làm. Hơn nữa, trong lịch sử chiến sự đại quy mô duy nhất từng xảy ra ở đây, chỉ có thể là Thành Cát Tư Hãn tấn công Tây Hạ”. 

Hàn Giang tiên lên phía trước một đoạn, quả nhiên có thể trông thấy ván sắt lấp ló trong cát: “Đường Phong, cậu có phát hiện thấy không, hình như những ván sắt này được phân bố có quy luật hẳn hoi!”

"Đúng vậy, tôi đoán rằng hồi đó ở đây vẫn chưa khô hạn như bây giờ. Gần đây chắc là phải có một cứ điểm quân sự của Tây Hạ, chính là gần Lang Oa trên bản đồ cổ, nhưng chúng ta không tìm thấy địa danh đó. Neu Lang Oa thời dó lại là một nguồn nước, thì rất có khả năng là một hố nước. Khi người Mông cổ tấn công dọc qua sa mạc, thì người Đảng Mạng đã chôn những ván sắt này xung quanh nguồn nước, có khi còn đầu độc cả nguồn nước!” - Đường Phong suy đoán thêm một bước.

“Nhưng xem ra mọi nỗ lực mà người Đảng Hạng từng làm ở đây đều không được đền đáp, những thứ này dà không ngăn cản được sự tấn công của kỵ binh Thành Cát Tư Hãn!’" - Hàn Giang nói.

“ừm, là như vậy, nếu những ván sắt này hữu dụng thì hiện giờ ở đây không thể thành thế này được, ở đây sẽ phải xuất hiện xác người và xác ngựa, còn cả vũ khí giáp sắt. Ngoài ra, ván sắt cũng không thế được phân bố có quy luật như thế này!” - Đường Phong nói.

"Vậy là đại quân của Thành Cát Tư Hãn không đi qua đây sao?” - Lương Viện tò mò hỏi.

“Việc này thì anh không biết, nhưng vẫn còn một hiện tượng. Phải biết rằng trong thời Tây Hạ, vũ khí bằng sắt vẫn còn ít, bởi vậy, nhiều ván sắt thế này cũng có thể  

coi là một đống vật tư quan trọng chuẩn bị cho chiếu tranh, về lý mà nói, thì bất luận người Mông cổ có đi qua đây hay không, nhưng sau khi chiến sự kết thúc, người Đảng Hạng cũng phải thu hồi lại những ván sắt này đe dự phòng lần sau sử dụng lại. Nhưng tại sao họ lại không thu về, như vậy thì nói lên điều gì?” - Đường Phong hỏi lại Hàn Giang.

“Điều đó cho thấy quân đội Tây Hạ từng trú quân tại đây, nếu không chết trận hết sạch thì cũng đã rời khởi đây và không quay trở lại nữa!” - Hàn Giang đáp.

“Ùm, tôi cũng nghĩ vậy, quân đội Tây Hạ mất tích đã không quay trở lại!" - Đường Phong đồng tình.

Lương Viện nghe hai người phân tích xong, có vẻ không bàng lòng nên cười nói: “Các anh nâng tầm mấy thứ này lên mức thần kỳ quá đấy, ‘mìn’ cổ đại ư? Ha ha”.

“Em vần còn cười được sao, ‘mìn’ cổ đại này đã làm nổ lốp xe của "con lừa dũng mãnh’ của chúng ta rồi đấy!” - Đường Phong mặt lạnh, nghiêm túc nói.

“Vậy các anh sửa nhanh đi, không phải chúng ta có lốp dự phòng đấy thôi!” - Lương Viện đầy vẻ bất cần.

“Đại tiểu thư của tôi ơi, em biết cách sai khiến người khác quá đấy! Sao em không đi mà sửa?” - Đường Phong bực mình kêu lên.

“Vô lý, ở đâu ra có trò bắt phụ nữ thay lốp xe!” - Lương Viện nói thắng ruột ngựa.

Đường Phong hết cách, lắc đầu rồi chuẩn bị đi lấy lốp dự phòng, Hàn Giang bỗng kéo anh lại: "Bây giờ cậu đi thay thì được ích gì, chúng ta vẫn chưa biết xung quanh đây có bao nhiêu cạm bẫy. Cậu thay xong lốp, lại bị thủng một lỗ thì chúng ta toi đấy!”

"Vậy chúng ta nên làm thế nào?”

Thứ dò lấy một đường đi an toàn trước đã!”

“Dò đường?”

“Cậu nghĩ mà xem, tại sao bầy sói đó lại không bị sao cả, còn nữa, chúng ta đã nói chuyện nửa ngày nên quên mất vết bánh xe xuất hiện ở Lang Oa!”

Hàn Giang vừa nhắc nhở như vậy, Đường Phong mới nghĩ ra: “Đúng vậy, chúng ta có thế lần theo vết bánh xe đó để dò ra một đường đi an toàn!"’ - Nói xong, hai người để Lương Viện ở lại trông xe, Đường Phong và Hàn Giang đi dọc theo con đường cũ để tìm kiếm lại vết bánh xe đó.

6

Đường Phong và Hàn Giang đi lại con đường lúc họ tới Lang Oa. Chưa đi được bao xa, họ đã phát hiện thấy vết bánh xe đó trên sa mạc. Nhưng dựa vào kinh nghiệm bao năm của mình, Hàn Giang nhìn thấy vết bánh xe phát hiện sau đó cũng lúc có lúc mất trên sa mạc, giống như rất chần chừ do dự. Sau khi họ đi được hơn chục mét, lần theo vết bánh xe hướng về phía Lang Oa, vết bánh xe trên cát sa mạc bỗng xuất hiện một nhánh rẽ. “Rất rõ ràng, chiếc xe đó giống hệt như chúng ta, cũng lái một đoạn vê hướng nam, rồi lại rẽ sang hướng tây!” - Hàn Giang phán đoán.

"Không chỉ như vậy, sự xuất hiện bất ngờ của vết bánh xe ở Lang Oa cũng cho thấy người lái xe đã phát hiện thấy ván đinh sắt xung quanh Lang Oa, và họ cũng đang tìm kiếm một lối ra an toàn!” - Đường Phong nói.

Hàn Giang gật gù: "Xem ra chiếc xe này đã thoát khỏi vùng nguy hiểm.”

"Không chỉ có chiếc xe này đâu, mà còn cả chiếc xe xuất hiện trước đó nữa, lúc này đều không thấy đâu cả, cho thấy chúng đã an toàn rời khỏi Lang Oa. Chúng ta cứ tiếp tục men theo vết bánh xe đó, chắc là sẽ có thể an toàn rời khỏi Lang Oa.” - Đường Phong nói.

"Nhưng cậu có nghĩ rằng, nếu như bầy sói đó bị người khống chế, người đó muốn dụ chúng ta tới chỗ nguy hiểm, vậy tại sao chiếc xe trước đó không bị lừa?”

“Thì chỉ cho thấy anh ngốc quá thôi chứ sao!” - Đường Phong cười, nói.

"Hừm! Tôi ngốc? Cùng lắm là do chúng ta quá chú trọng tới những con sói đó mà thôi!” - Hàn Giang phản lại.

Đường Phong và Hàn Giang cứ đi men theo ngã rẽ vê hướng tây, rồi chẳng mấy chốc, họ đã đi tới biên giới của Lang Oa. Vết bánh xe tiếp tục lần theo biên giới Lang Oa tiến lên, vòng tới phía tây bắc Lang Oa, vết bánh xe hướng về phía tây bắc. Lúc này, trên mặt cát lại xuất hiện thêm một vệt bánh xe khác.

“Chiếc xe đó lại xuất hiện rồi!”

“Hai vệt bánh xe trên nên cát đêu trải dài vê hướng tây bắc, xem ra ở đó có thể thoát khỏi vòng vây này của cổ nhân!” - Hàn Giang chống nạnh, nhìn xung quanh.

"Vòng vây của cổ nhân! Nói như vậy thì anh đã tán thành suy nghĩ cua tôi rồi ư?"

"Không sai, ở đây nhất định là một vòng vây mà người Đảng Hạng thiết kế để cài bẫy đại quân Thành Cát Tư Hãn.” - Hàn Giang dẫn đầu, đột nhiên dừng lại: “Cậu xem, đó là gì vậy?”

Hàn Giang dứng trên một đồi cát nhỏ, anh phát hiện thấy sa mạc phía dưới cồn cát bồng lõm xuống một khoảnh lớn. Đây rõ ràng không phải là cồn cát nhấp nhô hình thành trên sa mạc. Đường Phong cũng đế ý tới cái hổ này, anh nhảy xuống mép hố, chăm chú quan sát: "Giống như một huyệt mộ!”

“Huyệt mộ? Tôi thấy không giống!” - Hàn Giang cũng nhoài tới mép hố.

"Ô? Vậy anh thấy đây là cái gì?”

“Tôi thấy đây giống cái hố bẫy ngựa hơn!"

“Hố bẫy ngựa?” - Đường Phong nhìn cái hố lớn, đúng lúc anh lơ là, Hàn Giang đã nhảy xuống hố, dùng tay đào bới lung tung phía dưới, vài tấm ván gỗ mỏng, khô nứt hiện lên trong cát vàng.

“Nếu tôi đoán không lầm thì đây chính là những tấm ván gỗ mỏng vốn được đậy trên mặt hố. Tâm ván gỗ này chắc chắn không thể chịu được sức nặng của ngựa!” - Hàn Giang suy đoán. 

“Vậy trong hố này sẽ có xương của người Mông Cố hồi đó ư?” - Đường Phong nhìn tay Hàn Giang đang bới cát, chẳng mấy chốc, từng hàng cọc gỗ mục nát đã lộ ra.

“Đây khả năng không phải là cọc gồ thông thường; vào năm đó, ở đây đều là những mũi đao được gọt sắc nhọn, chỉ cần có người hay ngựa rơi vào trong hố thì sẽ bị những cọc gỗ này đâm thủng”.

Nghe Hàn Giang nói vậy, Đường Phong nhìn nhũng cột gỗ đã mục nát, nứt toác, mà trong lòng không khỏi rờn rợn. ""Này, đừng có đứng ngây ra đó nữa, nhìn xem, mau tới đọc những chữ trên đó xem nào!” - Hàn Giang nói.

"Phía trên còn có chữ?” - Đường Phong đón lấy một tấm ván gỗ mỏng đã bị nứt thành hai đoạn mà Hàn Giang đưa cho, quả nhiên, trên tấm ván gồ có mấy chữ kì quái được viết bằng mực đen. Đường Phong nhìn những chữ kỳ quái này, mãi không nói năng gì.

“Cậu nói gì đi chứ! Có phải chữ Tây Hạ không?” - Hàn Giang thúc giục.

“Không phải chữ Tây Hạ!” - Đường Phong lẩm bẩm. “Nếu như vậy thì những suy đoán của chúng ta trước đây đều sai hết ư? Nhưng tôi thấy mấy chữ này không giống chữ Hán!”

“ừm, không phải chữ Hán. Nếu tôi nhìn không nhầm thì những chữ này đều là chừ Bát Tư Ba!” - Đường Phong bỗng nói ra một loại chữ mà Hàn Giang chưa từng nghe thấy.

“Chữ Bát... Bát Tư Ba? Chữ Bát Tư Ba là cái gì?” - Hàn Giang đầu óc mụ mị.

“Chữ Bát Tư Ba là một loại chữ do Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt ra lệnh cho quốc sư Bát Tư Ba sáng tạo ra, là một loại văn tự chính thức của nhà Nguyên!” - Đường Phong giải thích.

“Vậy tại sao trên tấm ván gỗ đậy hố bẫy ngựa lại có chữ Bát Tư Ba?” - Hàn Giang vẫn không hiểu.

“Vấn đề là ở chỗ đó, trước tiên, chữ Bát Ba Tư là loại chữ mà thời Hốt Tất Liệt mới xuất hiện, lúc đó vào khoảng giữa thế kỷ XIII; còn trận chiến Mông cổ hủy diệt Tây Hạ là từ thời Thành Cát Tư Hãn, là đầu thế kỷ XIII, cách nhau gần nửa thế kỷ. Nhưng như vậy sẽ không phù hợp với niên đại thiết kế ván đinh sắt và hố bẫy ngựa mà chúng ta suy đoán trước đó. Tiếp nữa, chúng ta cho rằng những ván đinh sắt và hổ bẫy ngựa này là do người Đảng Hạng tạo nên, nhưng trên tấm ván gỗ này lại xuât hiện chữ Bát Tư Ba, như vậy cũng hoàn toàn khác với những suy đoán của chủng ta trước đó, hiện giờ tôi... tôi cũng không rõ nữa!” - Đường Phong cảm thấy đầu óc có phần rối loạn.

“Vậy cậu biết những chữ trên đó thì đọc xem nghĩa là gì?”

“May mà tôi đã từng học qua một vài chữ Bát Tư Ba, nhưng những chữ Bát Tư Ba trên ván gỗ này chỉ là kí hiệu đánh dấu phương hướng và vị trí!” - Nói xong, 

Đường Phong đọc ra ý nghĩa của mấy chừ Bát Tư Ba này: “Tây... Bắc... Đệ Thập Thất...”

“Có lẽ sau này có người nhà Nguyên tới đây rồi viết linh tinh mấy chữ lên đó!”

Đường Phong lắc đầu: "Tuy mấy chữ này không có nghĩa, nhưng vừa vặn chứng minh rằng: những suy đoán của chúng ta trước đó có vấn đề. "Tây Bắc Đệ Thập Thất’, tôi đoán rằng đây là kí hiệu được đánh dấu lên ván gỗ trước khi thiết kế hố bẫy ngựa này!”

“Cọc thứ 17 hướng Tây Bắc?! Nói như vậy nghĩa là người Mông cổ đã thiết kế hố bẫy ngựa trong thời kỷ Hốt Tất Liệt?” - Hàn Giang không thể tin vào kết luận này.

Đường Phong trầm ngâm một hồi: "Không chắc là được thiết kế sớm nhất từ thời Hốt Tất Liệt, nhưng muộn nhất cũng phải là trong thời Hốt Tất Liệt”.

Hàn Giang gật gù: “Đúng, vậy thì khả năng những hố bẫy ngựa và ván đinh sắt này có từ lâu rồi, ví dụ như trong thời Tây Hạ, hơn nữa, lại đưọc sử dụng mãi tới tận thời kỳ Hốt Tất Liệt triều Nguyên.”

"Có khả năng này, nhưng tôi không thể lý giải được tại sao tới thời kv Hốt Tất Liệt, cách thời Mông cổ diệt vong Tây Hạ tới mấy chục năm, triều nhà Nguyên đã thống nhất thiên hạ từ lâu, thì ở đây còn có đội quân gì nữa để phải cần quân đội triều Nguyên đánh trận lớn như vậy?” - Đường Phong lắc đầu, không hiểu nổi chuyện này rốt cuộc là thế nào.

7

Đường Phong và Hàn Giang lại tìm kiếm một lúc quanh hố bẫy ngựa, và liên tiếp phát hiện thấy một vài hố bẫy ngựa cùng ván đinh sắt. Đường Phong thấy lo lắng cho Lương Viện, liền nói với Hàn Giang: “Xem ra chúng ta đi theo hai vết bánh xe này thì sẽ có thể an toàn thoát ra được vòng mai phục do cổ nhân thiết kế. Lương Viện vẫn đang đợi, chúng ta mau về thôi!”

Hàn Giang gật gù, hai người quay trở lại đường cũ.

"Nhưng cậu thử nói xem, cổ nhân thiết kế ra vòng mai phục này gần như không dùng tới, chúng ta đã phát hiện thấy bao nhiêu là hố bẫy ngựa và ván đinh sắt, nhưng lại không phát hiện thấy lấy một bộ xương!” - Hàn Giang nghi ngờ.

“Đúng vậy! Đến những hố bẫy ngựa hình như cũng bị sụt lún do trải qua quá nhiều năm rồi!” - Đường Phong thấy thật khó hiểu.

Chẳng mấy chốc hai người đã quay trở lại chỗ đỗ xe nhưng không thấy bóng dáng Lương Viện đâu cà. Đường Phong giật thót tim: “Lương Viện xảy ra chuyện rồi!’

“Ai mà biết được đại tiều thư đó chạy lung tung đi đâu!” - Ngược lại, Hàn Giang có vẻ trấn tĩnh hơn.

Hàn Giang vừa dứt lời liền nghe thấy phía dưới vọng lên tiếng kêu cứu xé gan xé ruột: ‘"Cứu với...”, là giọng của Lương Viện. Người Đường Phong run bẳn lên, anh đứng sừng sững trên cát vàng mênh mông. Chẳng 

mấy chốc anh đã xác định được nơi phát ra tiêng kêu cứu: "Lương Viện ở gần đây”.

Đường Phong và Hàn Giang gần như cùng lúc lao về hướng nam, chưa được bao xa đã phát hiện thấy Lương Viện đang ở trong một cái hố vừa kêu vừa khóc. Đợi Hàn Giang cứu Lương Viện lên, Đường Phong mới thở phào nhẹ nhõm, anh nhìn xuống dưới hố. ”Đây là một cái hố bẫy ngựa vẫn chưa sụt lún, vẫn có thể sử dụng.”

“Hố bẫy ngựa?” - Lúc này Lương Viện đã thôi khóc lóc.

"Đúng vậy, ai bảo em chạy lung tung, cái hỗ bẫy ngựa nuốt em xuống dưới đấy thôi. May mà bên dưới tích đầy đất cát, nếu không em đã bị những cọc gỗ đó đâm cho thủng người rồi!” - Đường Phong oán thán.

"Em thấy bọn anh vẫn chưa quay về nên đi loanh quanh đây, ai mà biết được ở đây lại có hổ!" - Mặt Lương Viện đầy vẻ oan ức.

“Xem ra ở đây vẫn còn rất nhiều hố bẫy ngựa tốt!” - Đường Phong nhìn xung quanh, miệng lẩm bẩm.

"Đường Phong, cậu phát hiện thấy không, những hố bẫy ngựa bị sụt lún chúng ta phát hiện thấy ban nãy đều ở hướng tây bắc, hai chiếc xe đó cũng từ hướng tây bắc rời khói vòng mai phục của cố nhân này.”

"Ý anh là vòng mai phục này từng bị cố nhân tấn công, và họ đã tấn công từ hướng tây bắc?”

Hàn Giang gật gù.

“Vôn dĩ tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng quả thực tôi không ngờ rằng kẻ thù từ hướng tây bắc đánh lại, ngoài Thành Cát Tư Hãn diệt vong Tây Hạ ra, thì còn có ai khác?” - Đường Phong lắc đầu, không hiểu nổi rốt cuộc những chuyện này là thế nào.

“Đươc rồi, hãy khẩn trương sửa xe đi thôi! Chúng la cách hai chiếc xe đó càng lúc càng xa rồi đấy!” – Hàn Giang nhắc nhở.

"Ừm, hiện giờ càng lúc tôi càng cảm thấy hai chiếc xe đó chắc chắn là chở những người bạn cũ của chúng ta!”

Đường Phong và Hàn Giang thay lốp, họ xuất phát, lần theo vết bánh xe, khi lái ra khỏi vòng vây mai phục của cổ nhân thì mặt trời đã lặn về hướng tây.
 

hoahongden12

Active Member

Những vết tích văn tự nhìn thấy dọc trên đường đều là chữ Bát Tư Ba. Bát Tư Ba là chữ do Hốt Tất Liệt ra lệnh cho quốc sư Bát Tư Ba sảng tạo ra. Trên hành trình tìm kiếm di chỉ Tây Hạ, họ đều gặp những di tích Mông Cổ. Đây là điều vô cùng bất ngờ.

1

Hàn Giang tăng tốc, anh hy vọng trước khi trời tối sẽ tới được Thiên Hộ Trấn, nhưng không ai biết trên đường đi sẽ còn gặp điều gì xảy ra. Đường Phong lấy bức thư Misha để lại ra, muốn tìm chút manh mối trong đó, "Phần thứ hai trong thư Misha đã nhớ lại một chút trải nghiệm sau khi đội thám hiểm tiến vào sa mạc, những trải nghiệm tại Cửu Lý Bảo và Lang Oa. Gần như Misha chỉ nói sơ qua. không nói thêm gì nhiều, chỉ nói rằng đêm thứ nhất đã cắm trại nghỉ ngơi gần Lang Oa, mọi việc đều bình thường. Sau đó hồi tưởng lại vài chuyện giao lưu với ông Lương, trong thư ông không hề nhắc tới những ván đinh sắt, hố bầy ngựa, cũng không phát hiện thấy tung tích của sói. 

“Điêu đó cho thấy: trong giai đoạn đó đội thám hiếm vẫn thuận lợi!” - Hàn Giang nói.

“Nhưng đối với Thiên Hộ Trấn, Misha lại kể riêng một đoạn: Lương, chắc là anh không còn nhớ gì tới một nơi gọi là Thiên Hộ Trấn nữa; lúc đội thám hiểm tới Thiên I lộ Trấn, cấp trên đã ra lệnh cho chúng ta không được tiến vào trong đó, chỉ cắm trại bên ngoài. Nhưng sau khi trời tối, tôi vần không thể kìm chế được tính hiếu kỳ nên đă một mình mò vào thị trấn không một bóng người đó. Đến giờ, tôi vẫn không sao quên được cái đêm khủng khiếp đó, và hiện giờ, tôi cũng không tài nào lí giải được rất nhiều những điều bí ấn trong thị trấn này. Ngày hôm sau (thực chất đã là ngày thứ ba), tôi đã kiến nghị với cấp trên, hy vọng có thể tiến vào Thiên Hộ Trấn để khảo sát, nhưng đã bị cự tuyệt, và còn bị họ còn phê bình. Tôi nghĩ chắc các anh hôm đó cũng ngủ không ngon, tất cả mọi người hình như đều sợ hãi, cảm thấy hoảng loạn trước cái thị trấn nhỏ không người đó!” - Đường Phong chậm rãi đọc thư của Misha.

“Chỉ có vậy?” - Hàn Giang hỏi lại.

“Ùm, chỉ có vậy, xem ra Thiên Hộ Trấn là nơi mà Misha thấy sợ hãi, tất cả mọi người đều sợ hãi, bởi vậy đội thám hiếm không dám vào trong đó!” - Đường Phong nói.

"Hừm, đây có lẽ chi là suy đoán của Misha, biết đâu do đội thám hiểm đã sớm tìm thấy Hạn Hải Mật Thành, nên mới không tiến vào Thiên Hộ Trấn.” 

“Bất luận thế nào Misha cũng đã vào trong đó rồi, hơn nữa, ông còn nói rằng đó là một đêm khiến ông cảm thấy khủng hoảng."

‘Phí lời, ai nửa đêm chạy vào một thị trấn không một bóng người mà chẳng cảm thấy hoảng loạn hả!’’ - Hàn Giang trêu chọc.

"Mọi người có để ý thấy câu nói trong ngoặc đơn không?” - Đường Phong nhìn bức thư của Misha, đột nhiên hởi.

"Ý cậu nói tới câu: thực ra đã là ngày thứ ba?”, Hàn Giang ngừng lại một lúc, anh suy đoán: “Cho thấy lúc đó Misha đã không kiến nghị cấp trên vào trong Thiên Hộ Trấn khảo sát. mà là cách một hôm sau thì mới đề nghị lên cấp trên.”

“Anh cho ràng như vậy hợp lý không? Tại sao Misha không đề nghị ngay? Tại sao ngày thứ hai đội thám hiểm lại ở lại bên ngoài Thiên Hộ Trấn, không tiếp tục tiến vào trong?” - Đường Phong nhìn Hàn Giang, mím chặt đôi môi khô nứt.

Hàn Giane trầm tư một lúc, đột nhiên trợn mắt lên, anh đang định mở miệng thì Đường Phong đã nói tiếp: "Chỉ có một cách giải thích hơp lý, ấy là vào đêm hôm đó, bao gồm cả ngày thứ hai, Misha bị kẹt trong Thiên Hộ Trấn, bởi vậy ông ấy mới hoảng sợ chỗ đó như vậy, bởi vậy mà ngày thứ hai đội thám hiểm mới đi loanh quanh bên ngoài Thiên Hộ Trấn mất một ngày, vì thế mà Misha mới nói ràng "thực ra là ngày thứ ba!”.

Đường Phong càng nói càng phân khích, Hàn Giang cũng cảm thấy lạnh toát sống lưng: "Điều... điều gì dã khiến Misha bị mắc kẹt trong Thiên Hộ Trấn? Lẽ nào là một ma trận?”

“Ma trận…"- Đường Phong lẩm bẩm.

‘Vậy ngày thứ hai chắc đội thám hiểm cũng đã phái người vào trong thị trấn tìm Misha chứ nhỉ?” - Lương Viện bỗng nói.

Đường Phong giật mình - “Đúng vậy, anh nghĩ rằng chắc là sáng hôm sau đội thám hiểm đã phái người tìm kiếm Misha ở quanh và trong thị trấn, nhưng chắc chắn họ không tìm thấy!”.

“Cái thị trấn bé tẹo như vậy, Misha có thể trốn đâu được nhỉ?” - Hàn Giang nghi ngờ.

“Không phải là ông ấy trốn đi đâu, mà là ông ấy bị kẹt trong Thiên Hộ Trấn! Chắc chắn là vậy.” - Đường Phong nói như đinh đóng cột.

“Không biết thị trấn không bóng người này rốt cuộc là một thị trấn như thế nào, mà lại thần bí vậy nhỉ?” - Lương Viện cảm thán.

“Cô sắp được trông thấy rồi!”

Hàn Giang nói xong, phía trước lại là một đồi cát cao lớn, Hàn Giang không giảm tốc độ, anh lao thẳng lên đồi cát. Nhưng tới khi Hàn Giang lái “con lừa dũng mãnh” vượt qua đồi cát, thì anh liền lác cả mắt, phía sau đồi cát xuất hiện một khe sâu. Hàn Giang vội vàng giảm tốc độ, nhưng đã muộn, "con lừa dũng mãnh” lao thẳng đầu xuống đó.

Đường Phong và Lương Viện đều hét toáng lên, Hàn Giang cũng muốn hét, nhưng anh cố kìm lại, và may mà Hàn Giang vốn dày dặn kinh nghiệm lái xe đặc chủng nên "con lừa dũng mãnh’ lao xuống đáy vực, nhưng may mà không lật ngược. Đường Phong và Lương Viện nhảy xuống xe nôn mửa. Hàn Giang cũna cảm thấy dạ dày lộn ngược lên, cảm giác buồn nôn.

Hàn Giang nhảy xuống xe, đập vào nắp xe nói: "Mẹ kiếp, hai chiếc xe đi đằng trước đúng thật ngu ngốc, tôi đi theo vết bánh xe của chúng nên mới bị rơi xuống đây đấy.”

"Anh đừng có kêu nữa, tôi thấy hai chiếc xe đó cũng không biết ở đây có cái khe sâu này đâu!” - Đường Phong nghiêng nghiêng ngả ngả quay người lại nhìn. Đồi cát phía sau lưng dựng đứna trên đỉnh đầu họ, giống như một bức tường thành kiên cố, còn khe sâu này lại giống như một dòng sông phòng hộ phía dưới bức tường, nhưng trong sa mạc thì lấy đâu ra bức tường? Cứ cho rằng có bức tường thật đi chăng nữa, thì bão cát và cát vàng của sa mạc Gobi cũng chẳng mấy chốc sẽ chôn vùi bất cứ kiến trúc huy hoàng nào.

Đường Phong quan sát một hồi rồi nói với Hàn Giang: ‘Đây không phải là khe sâu hình thành tự nhiên!”

"Cậu điên rồi hả, ý cậu nói rằng đây là do sức người đào nên? Ai mà đào được thứ này trong sa mạc chứ?” - Hàn Giang không tin.

“Anh nhìn đồi cát sau lưng chúng ta, tuy đã bị mài mòn và sụp đổ do mấy trăm năm gió cát, nhưng tôi vẫn phát hiện thấy dấu vết lau sậy trên đồi cát!” - Đường Phong chỉ một vài thứ màu đen lấp ló ẩn hiện trên đồi cát phía sau.

uLau sậy? Gần đây có nguồn nước?” - Hàn Giang nhạy cảm liên tưởng ngay tới nguồn nước.

“Mấy trăm năm trước, rất có khả năng ở đây có hố nước, bên cạnh hố nước có lau sậy, những người xây dựng chiến hào này đã cắm lau sậy xuống đất cát để phỏng ngừa đất cát bị cuồng phong thổi đi.” - Đường Phong giải thích.

Đường Phong và Lương Viện cũng phát hiện thấy dấu vết của lau sậy tại nhiều vị trí khác nhau trên đồi cát.

Đường Phong lại nói tiếp: “Từ vị trí và phương hướng của chiến hào cho thấy, tính chất vòng mai phục của chiến hào này giống như xung quanh Lang Oa, đều xây dựng để đối phó với những kẻ thù đến từ hướng tây bắc.”

"‘Xem ra mọi thứ đều là để đề phòng kẻ thù lớn mạnh đến từ phía tây bắc, nhưng lại không thế giải thích được những chữ Bát Tư Ba xuất hiện tại hố bẫy ngựa!

Thật không sao hiểu nổi!” - Hàn Giang lắc đầu.

“Mav mà trải qua bao năm tháng gió lớn hoành hành nên hiện giờ chiến hào này không sâu lắm, nếu không, hôm nay chúng ta đã bị kẹt trong này rồi!” - Đường Phong chỉ lên một con dốc thoai thoải trước mặt, nói: “Nhìn kìa, đã có người mở đường cho chúng ta rồi!” 

Hàn Giang cũng phát hiện thấy một con dốc thoai thoải phía trước bên trái: "Con dốc này hoàn toàn là do xe đi qua mà thành, cho thấy hai chiếc xe phía trước cũng bị rơi xuống đây, sau đó từ đây đí tiếp.”

Ba người lại lên xe, men theo con dốc mới được hình thành mà lao lên khỏi chiến hào, lần theo vết bánh xe trên cát tiếp tục lái về phía Thiên Hộ Trấn.

2

Hai vết bánh xe lúc song song, lúc đè lên nhau cùng tiến thẳng, trải dài về hướng tây bắc. Đường Phong căng thang quan sát bên ngoài cứa kính. Từ những gì Misha kể lại trong thư, Đường Phong đã vẽ ra trong đầu một cảnh tượng khủng khiếp về Thiên Hộ Trấn. Đó là một thị trấn hoang vu, không một bóng người, thậm chí không có một sự sống nào, cuồng phong kêu gào, những con đường khiến người ta bị lạc... Nhưng khi Thiên Hộ Trấn thật sự đập vào mắt Đường Phong, thì anh không khởi ngạc nhiên.

Những cồn cát nhấp nhô và trải dài miên man ban nãy đã không còn thấy đâu nữa, họ đã lái xe đi vào một vùng của sa mạc Gobi. Núi cát phía xa xa tưởng như rất gần, nhưng Đường Phong biết rằng khoảng cách tới đó thực chẩt còn rất xa. Đường Phong trông thấy một đường chân trời ngút tầm mắt, xuất hiện một vùng kiến trúc bằns đất màu vàng, cao thấp khác nhau, so le đan xen đó chính là Thiên Hộ Trấn?

Cả một vùng hoang vắng, mênh mông, tĩnh mịch không một tiếng động nằm dưới ánh hoàng hôn, Đường Phong không khỏi suy nghĩ miên man. Đúng lúc này, xe lại dừng lại. “Sao lại dừng xe vậy, Thiên Hộ Trấn ở phía trước rồi, tôi đã nhìn thấy rồi!” - Đường Phong hởi Hàn Giang.

Hàn Giang không buồn để ý, anh bật đèn pha của ‘con lừa dũng mãnh” lên, rồi nhoài người qua vô lăng quan sát rất lâu mới chập rãi nói: “Hai vết bánh xe đó biến mất rồi.”

Đường Phong lúc này mới để ý, thấy quả nhiên trên con đường hướng thắng tới Thiên Hộ Trấn không còn tung tích của hai vết bánh xe đó đâu nữa. Ba người xuống xe, tiến lên hai ba chục mét thăm dò, không thấy bất cứ vết bánh xe nào. Vùng đất hoang vu nghìn năm không đổi này vẫn tĩnh lặng tới mức đã khiến Đường Phong tưởng rằng mình đã tới một hành tinh khác.

Không thấy vết xe ban nãy đâu nữa, cũng không thấy bóng dáng tăm hơi của người và động vật, ở đây hình như chưa từng có ai đặt chân tới. Không đúng! Không thể không có người tới đây! Đường Phong nghĩ tới đây thì liền quay lại tìm kiếm hai vết bánh xe, nhưng họ đi men theo con đường lúc tới gần một trăm mét mà vẫn không thấy dấu tích của hai vết bánh xe đó đâu nữa.

Đường Phong không khỏi oán thán Hàn Giang: ‘"Không phải anh chỉ chăm chăm đi theo hai vết bánh xe đó sao?”

“Tôi lái xe tốc độ nhanh như vậy thì ai mà biết được hai vết bánh xe đó đã chạy đi đâu mất? Năm phút trước,  

tôi quan sát trên đường vẫn còn có thể trông thấy hai vết bánh xe đó, nhưng vừa chớp mắt một cái thì chúng đã biến đi đâu mất rồi!” - Hàn Giang trình bày.

"Vậy chúng ta quay xe lại tìm?” - Lương Viện đề nghị. "Không! Không cần đâu, đã trông thấy Thiên Hộ Trấn rồi. chúng ta không cần quan tâm tới hai chiếc xe đó nữa!” - Đường Phong ngẫm nghĩ một hồi, nói như đinh đóng cột.

"Nhưng... nhưng trong thư Misha nói ràng: Thiên Hộ Trấn rất đáng sợ, nhất... nhất là buổi đêm..- Lương Viện có chút do dự.

"Anh thấy sao?" - Đường Phong quay ra hỏi Hàn Giang. "Nhân lúc trời chưa tối đi tiếp xem sao, đêm nay chúng ta có thể cắm trại ngủ bên ngoài thị trấn, còn có vào trong đó hay không thì sáng mai chúng ta quyết định!" - Hàn Giang nói.

Đường Phong gật gù, vậy là ba người lại lên xe, lái về hướng Thiên Hộ Trấn. Không thấy vết bánh xe đâu cả, rồi chẳng mấy chốc, đến dấu vết của con đường cũng không thấy đâu nữa. Hội Đường Phong đã lái xe vào sâu trong sa mạc Gobi mênh mông.

3

Cự li tới Thiên Hộ Trấn hoàn toàn vượt qua dự liệu của Đường Phong, vốn dĩ Thiên Hộ Trấn đã lù lù trước mắt, nhưng họ lái xe đi nửa tiếng đồng hồ vẫn chưa tới. 

“Rõ ràng đã ở phía trước mà sao vân chưa tới?”- Đường Phong lẩm bẩm.

“Đừng nóng vội!” - Miệng Hàn Giang nói không vội, nhưng chân lại nhấn ga tăng tốc.

Đường Phong thấp thỏm không yên nhìn ra ngoài cửa xe, trên sa mạc Gobi trời đă tối om, đây là đêm đâu tiên họ tiến vào sa mạc. Đường Phong chưa từng trải qua buổi đêm trên sa mạc, nên anh không biết điều gì đang chờ đợi mình đêm nay.

Đúng lúc Đường Phong mải suy nghĩ lan man thì Hàn Giang bất ngờ phanh xe lại. Đường Phong giật mình hỏi: “Anh lại sao thế?”

Hàn Giang quay lại nhìn rồi bỗng lùi xe lại. Hàn Giang tập trung nhìn kính chiếu hậu, lùi được hơn chục mét thì dừng lại, hất hất cam về phía bên phải sa mạc: “Này, cậu nhìn xem đó là cái gì vậy?”

Đường Phong nghi ngờ nhìn theo hướng Hàn Giang hất cằm, trên sa mạc Gobi hoang vu bỗng xuất hiện một bóng đen. "Đó là gì vậy?” - Đường Phong ngạc nhiên kêu lên.

“Cậu xuống dưới xem sao!” - Hàn Giang ném cho Đường Phong một chiếc đèn pin.

"Anh không xuống sao?” - Đường Phong có vẻ sợ hãi.

“Hừm, sợ rồi à?” - Hàn Giang cười khẩy.

“Cho tôi mượn con dao găm của anh!”

“Thôi đi, tất cả cùng xuống vậy, nhìn bộ dạng sợ sệt của cậu kìa!” 

“Tôi sợ ư, chắng qua là tôi không muốn hy sinh một cách vô vị mà thôi!”

Đường Phong nói xong, đành phải miễn cưỡng xuống xe, anh chậm rãi, từng hước từng bước tiến lại sần bóng đen đó. Sa mạc tối đen, tim Đường Phong đập loạn xạ. Anh đã ở rất gần bóng đen đó, bóng đen đó bất động, chắc chắn không phải là người, cũng không phải là động vật.. Đường Phong dừng lại, chần chừ quay lại nhìn, anh thấy Hàn Giang và Lương Viện cùng nhảy xuống xe, đi về phía mình. Lúc này anh mới hình tĩnh lại, tiếp tục tiến lên phía trước. Rốt cuộc, tại nơi cách bóng đen đó chừng bảy tám bước chân, Đường Phong dừng lại, anh nhìn chằm chằm bóng đen trước mặt. Đó hình như là một tảng đá khổns lồ, lại còn rất ngay ngắn, nhưng tại sao, trên sa mạc Gobi hoane vu lại đột nhiên xuất hiện một tảng đá khổng lồ ngay ngắn vậy nhỉ?

Đường Phong thu hết can đảm, bật đèn pin lên, một chùm ánh sáng rực rỡ chiếu lên bóng đen đó. “Quả nhiên là một tảng đá khổng lồ!” - Đường Phong không khỏi rùng mình ớn lạnh. Tại sao trên sa mạc Gobi hoang vu này lại đột nhiên mọc ra một tảng đá khổng lồ như vậy!

Đường Phong lại tiến lên phía trước vài bước, lúc này anh mới nhìn rõ tảng đá khổng lồ này thực ra là một tấm bia đá cao lớn. Anh bước tới chính diện tấm bia đá, dùng đèn pin soi lên đó, trên mặt đá khắc chi chít chữ. Nhìn tiếp lên phía trên, phần trên bia đá giống như bị sét đánh vậy, nghiêng hẳn về một bên nứt gãy, chỉ còn phần dưới của tấm bia là vẫn dựng đứng sừng sững trên sa mạc hoang vu. Đường Phong vẫy vẫy Hàn Giang và Lương Viện phía sau, hét lên: “Là một tấm bia đá!”

Hàn Giang và Lương Viện cũng tới trước tấm bia rất nhanh, Đường Phong bắt đầu đọc những chữ trên đó, nhưng khi anh vừa nhìn thấy những chữ này liền chau mày. Hàn Giang thúc giục: “Mau đọc đi, là chữ Tây Hạ phải không?”

Đường Phong lắc lắc đầu: “Không, không phải chữ Tây Hạ vẫn là chữ Bát Tư Ba!”

“Thôi xong, tôi thật sự nghi ngờ tuyến đường mà hội Misha năm đó đi, liệu có đúng hay không đây? Sao cả đường đi toàn những di chỉ còn sót lại toàn của triều nhà Nguyên thế?” - Hàn Giang có chút chán nản.

“Anh có biết chữ Bát Tư Ba không?” - Lương Viện hỏi.

“Chữ Bát Tư Ba thật ra không khó, tuy anh chưa từng học bài bản, nhưng cũng có thể nhận ra một số chữ. Anh vừa đọc tấm bia đá này rồi, đây là một tấm "bia cấm ước!”

“Bia cấm ước?” - Hàn Giang và Lương Viện ngơ ngác nhìn tấm bia trước mặt.

4

Đường Phong chỉ lên những chữ trên tâm bia tàn, giải thích tỉ mỉ: “Tên gọi đầy đủ của tấm bia này là ‘Hốt Tất Liệt đại hãn cáo quân dân nhân đẳng cấm ước bia’. Đại ý của tấm bia này là, dùng lời lẽ của đại hãn Hốt Tất Liệt cảnh báo quân và dân trong vùng sa mạc Gobi: phía trước có một bầy ma quỷ sinh sống trong đó, nhiều lần sát thương quân nhân và dân làne định cư tại đây. Mọi người không nên đi tiếp, nếu tiếp tục đi tiếp sẽ mất mạng, hậu quả tự chịu. Chữ ký phía dưới là của quan phủ Lộ tổng Diệc Tập Nài.”

“Quan phủ Lộ tổng Diệc Tập Nãi?”

“ừm, hai người đều đã nghe về Hắc Thủy Thành rồi chứ?”

“Chính là tòa thành cổ Tây Hạ mà Kozlov phát hiện ra phải không?’’

“Đúng, căn cứ theo những tài liệu lịch sử mà hiện giờ chúng ta nắm được, thì năm đó Hắc Thủy Thành chính là một thành phố lớn nhất trong phạm vi quanh đây. Bởi vậy, sau khi chiếm lĩnh được Hắc Thủy Thành, Thành Cát Tư Hãn đã từng thiết lập một phủ tổng quản ở đây, phụ trách quản lý khu vực rộng lớn này. Chữ ký phía dưới tấm bia cho thấy nó được quan phủ Lộ tổng Diệc Tập Nãi lập nên!” - Đường Phong giải thích.

‘Tấm bia đá vốn rất trang nghiêm, nhưng không hiếu sao tôi thấy chữ nghĩa trên đó thật buồn cười! Lấy đâu ra ma quỷ. Đường đường là đại hãn mà lại viết những thứ này trên văn bia!” - Hàn Giang chống nạnh, nhìn tấm bia nói. 

“Tôi lại chẳng thấy tấm bia đá này buồn cười gì cả, nó vừa vặn tiết lộ một bí mật quan trọng.” - Hình như Đường Phong nghĩ ra điều gì đó.

“Ồ! Cậu nghĩ ra gì vậy?”

"’Không phải tấm bia này đã giải thích cho những di chỉ mà chúng ta phát hiện ra trước đây sao? Chúng ta cám thấy vô cùng khó hiểu, tại sao tất cả những phòng ngự công sự mà chúng ta phát hiện thấy trên đường, đều có dấu tích của người Mông cổ để lại, mà không giống như chúng ta dự đoán là có dấu tích của người Đảng Hạng. Tấm bia đá này cho thấy, người Mông cổ hồi xưa rất sợ những ma quỷ trong sa mạc, bởi vậy họ mới lập tấm bia này lên, ngăn cấm quân dân tiến vào trong, lại còn bố trí phòng ngự công sự ở vùng giáp ranh.” - Đường Phong suy đoán.

“Nhưng tôi vẫn không hiểu, thiết kị binh Mông cổ từng quét sạch đại lục Âu Á mà lại sợ cái gì chứ?” - Hàn Giang không hiểu.

‘Ma quỷ đấy thôi! Khà khà!” - Lương Viện cười.

“Tôi cũng cảm thấy khó hiểu!” - Đường Phong trở nên trầm ngâm. Đột nhiên, mắt Đường Phong sáng lên:

“Lẽ nào là ‘người phục quốc’?”.

“Gì cơ?” - Hàn Gians nghe không hiểu.

Đường Phong đang định nói gì đó thì Lương Viện ở phía sau tấm bia đá bỗng hét toáng lên: “Chúng ta mau đi thôi, hình như nổi gió rồi!” 

Trên sa mạc bỗng nổi gió to, cuồng phong cuốn theo cát bụi, hú lên từ phía tây bắc. Đường Phong và Hàn Giang bị cát bụi làm ờ mắt. Đường Phong muốn bảo vệ Lương Viện nên định lao về phía xe ô tô, nhưng Hàn Giang lớn tiếng kêu anh dừng lại: “Đừng quay về vội, nấp đằng sau bia đá đã.”

Lúc này Đường Phong mới có phản ứng, che chăn cho Lương Viện chạy tới mặt chính của bia đá, rồi ba người ngồi xuống áp sát người vào tấm bia. Cuồng phong càng lúc càng mạnh, lần đầu tiên Đường Phong trông thấy sự đáng sợ của sa mạc. Anh thử mở mắt ra, nhìn về chiểc xe đang ở cách đó không xa; cũng may mà có tấm bia này, nếu lúc đó mà chạy về phía chiếc xe thì bây giờ không biết đã bị cuồng phong cuốn bay đi đâu mất rồi.

“Tại sao... tại sao lại bỗng nổi cơn cuồng phong vậy nhỉ?” - Đường Phong hét lên.

"Bởi vì cậu nhắc tới ma quỷ!” - Hàn Giang châm chọc. Đường Phong ngẩng đầu nhìn tấm bia tàn bên cạnh, tấm bia đá nặng trình trịch lúc này cũng bị cuồng phong thổi cho lắc lư. Anh bắt đầu nghi ngờ, không biết tấm bia tàn này có thể chịu được cơn cuồng phong bât ngờ này không.

“Tôi đã hiểu tại sao tấm bia này lại gãy mất một đoạn rồi!" - Đường Phong lại hét lên.

"‘Ý cậu nói cơn gió này?”

"Ngoài gió ra thì còn gì nữa? Trận gió này chính là ma quỷ đáng sợ!” - Đường Phong gào lên. 

“Thôi đi, cậu giữ chút sức lực đi!”

"Không, còn nữa, chữ nghĩa của tấm bia này hướng về phía đông nam, cho thấy luồng gió này đều từ phía tây bắc thổi tới, nếu không thì những chữ trên tấm bia này còn lâu mới đọc được.”

“Mong rằng tấm bia tàn này có thể giúp chúng ta qua được ải này!” - Hàn Giang nói.

“Mong rằng đại hãn Hốt Tất Liệt có thể giúp chúng ta qua được ải này!” - Đường Phong lẩm bẩm.

Đường Phong vừa nói dứt lời, gió trên sa mạc đã bắt đầu nhỏ dần. Hàn Giang quan sát tình hình một lượt, rồi ra lệnh: “Nhanh, nhân lúc gió nhỏ quay vào trong xe đi.”

Ba người nối đuôi nhau chạy, mãi cho tới khi quay trở vào trong xe, họ mới phần nào yên tâm.

5

Lương Viện thở hổn hển, nói: “Bây giờ chúng ta làm thế nào? Tối nay có tới Thiên Hộ Trấn không?”

Đường Phong nhìn Thiên Hộ Trấn phía xa xa đã bị màn đêm bao trùm, rồi lại quay nhìn Hàn Giang, anh đang đợi Hàn Giang ra quyết định. Hàn Giang khấn trương suy ngẫm tình thế hiện tại: “Tôi cũng không muốn buổi đêm mò vào cái thị trấn không một bóng người đó, nhưng mọi người nhìn xem, trên sa mạc đến một chồ dựng lều cũng không có, mà nếu như lại có thêm một cơn cuồng phong thì chúng ta sẽ bị thổi bay hết đấy!” 

Trong xe trở nên im lặng, mọi người đối diện với hai sự lựa chọn khó nhọạ cuối cùng, Hàn Giang hạ quyếl tâm: “Tiếp tục đi, ít nhất cũng phải kiếm được một nơi tránh gió mới dựng lều.”

Hàn Giang lái xe rất chậm, anh đang quan sát tình hình ngoài cửa số, Thiên Hộ Trấn càng lúc càng gần. Đường Phong đã có thế nhìn thấy một bóng đen im lìm, tim anh treo ngược lên.

“Một vùng rộng thật đấy!" - Lương Viện ngạc nhiên nói.

“Đó là gì vậy?” - Hàn Giang đột nhiên chỉ vào một ụ đất đen sì sì ngoài cửa xe hỏi.

Đường Phong lấy đèn pin ra soi, bỗng nhiên, một bộ hài cốt ghê rợn đập vào mắt. tav Đườne Phong run rẩy, đèn pin suýt chút nữa là rơi mất. Hàn Giang và Lương Viện cũng trông thấy bộ xương đó. Hàn Giang từ từ dừng xe lại. hai chiếc đèn pin trên tay Đường Phong và Hàn Giang đều soi về phía ụ đất đó. Lương Viện không khỏi hét lên thất thanh: “Á... toàn là hài cốt!”

Dưới ánh sáng chói lóa của đèn pin, Đường Phong trông thấy ụ đất trước mặt hóa ra là do vô số những bộ hài cốt ngay ngắn xếp thành. Anh sững sờ nhìn đống hài cốt trước mặt. Đột nhiên, Hàn Giang vỗ mạnh vào vai Đường Phong: "Đây là cái gì? Chưa vào trong thị trấn mà đã mọc ra bao nhiêu là hài cốt như vậy, đúng là đen đủi làm sao!” 

Đường Phong bị Hàn Giang làm cho giật bắn mình, mãi một lúc sau, miệng mới lẩm bẩm thốt ra: “Đây... đây là kinh quan.”

“Kinh quan?” - Hàn Giang và Lương Viện giật mình.

"Trong chiến tranh thời cổ đại, để khoe khoang vũ lực, cũng là đế uy hiếp đối phương, bên chiến thắng đã lấy xác tướng sĩ của quân địch chất thành chiến lũy, xây thành mộ cao, dựng ở hai bên đường, gọi là kinh quan."" - Đường Phong giải thích.

“Tàn khốc vậy sao?” - Lương Viện kinh ngạc.

“Đúng vậy, kinh quan rất tàn khốc, bởi vậy trong thời cổ đại cũng không phổ biến, chỉ có kẻ địch tội ác tột cùng mới bị chất xác thành kinh quan. Anh không biết những người bị chất thành kinh quan này tại sao lại khiến kẻ thù của họ hận thù đến như vậy, đến nỗi sau khi chết đi cũng không được yên nghỉ dưới đất, mà xác lại bị chất đống ở đây!” - Đường Phong xót xa.

“Những ma quỷ mà người Mông cổ nói phải không?” - Lương Viện hỏi.

Đường Phong không nói thêm gì nữa, một cơn gió lớn thổi qua, Đường Phong cảm thấy lạnh run cầm cập.

Ai ngờ, Hàn Giang lại nói: “Đêm nay chúng ta cắm trại ở đây thôi!”

‘Gì cơ? Đêm nay chúng ta ngủ cùng những cô hồn dạ quỷ này sao?” - Đường Phong và Lương Viện đều kêu toáng lên. 

“Tôi cũng không muốn ở cùng những cô hồn dạ quỷ này, nhưng nếu đi tiếp thì sẽ vào trong Thiên Hộ Trấn rồi! Đêm nay hai người có dám vào trong đó không?” Đường Phong nhìn về Thiên Hộ Trấn cách đây không xa, tối om om không một ánh đèn, cũng không có lấy một âm thanh. Một cám giác âm u bao trùm cả thị trấn. Lương Viện kêu lên: "Nhưng cũng đâu cần phải cam trại ở đây?”

“Ngoài Thiên Hộ Trấn ra, thì đây là nơi duy nhất có thề chắn gió. Nếu hai người không muốn sáng mai bị cát vùi lấp thì ở đây đi, mà đến ngay cả ở đây tôi cũng không dám đảm bảo nếu gặp bão cát mạnh hơn thì có thể chặn nổi không!” - Hàn Giang nói không chút hòa khí.

Đường Phong nhìn xung quanh, quả thực không có nơi nào chắn gió tốt hơn ở đây. Cuối cùng, Đường Phong nghiến răng: "Vậy thì ở đây, dù sao ở đây cũng tốt hơn nứa đêm lò dò mò vào trong Thiên Hộ Trấn. Không phải chỉ là những hài cốt thôi sao, chúng ta gặp nhiều rồi.” “Đúng vậy! Cũng đâu phải lần đầu tiên”, Lương Viện thấy Đường Phong nói vậy cũng thấy can đảm hơn.

“Vậy thì ở đây nhé!” - Hàn Giang dừng xe trước kinh quan, tạo thành một không gian tương đối kín gió. Đườna Phong dựng lều cạnh kinh quan, vừa dựng lều, vừa lẩm bẩm. "Cậu lẩm bẩm cái gì thế?” - Hàn Giang hỏi.

“Tôi đane tụng kinh, cầu siêu cho những oan hồn sau khi chết cũng không được chôn cất.” - Đường Phong nở một nụ cười đầy miễn cưỡng.

“Không ngờ cậu còn biết cả tụng kinh? Tôi thấy cậu đừng quan tâm tới những người chết này nữa, tụng kinh ấy chúng ta đi, phù hộ cho chúng ta được bình yên.” - Hàn Giang châm chọc.

“Tôi chỉ biết tụng kinh siêu độ cho người chết thôi, không biết tụng kinh phù hộ cho người sống!” - Đường Phong cười đau khổ.

“Em biết, em biết tụng kinh phù hộ cho người sống!” - Lương Viện bỗng tranh nói..

“Em biết?” - Hàn Giang và Đường Phong đều ngạc nhiên nhìn Lương Viện.

Vậy là dưới con mắt ngạc nhiên của Đường Phong và Hàn Giang, Lương Viện ngồi xuống, khoanh chân lại, nghiêm trang tụng kinh. Đường Phong mấy lần định ngắt lời tụng kinh của Lương Viện, nhưng bị tiếng tụng kinh liền mạch của Lương Viện ngăn lại.

Mãi cho tới khi Lương Viện niệm kinh xong, Đường Phong mới hỏi: “Em niệm kinh gì vậy? Sao anh chưa từng nghe thấy?”

"Tất nhiên anh chưa từng nghe thấy rồi, đó là do một vị lão hòa thượng dạy em, ông nói rằng có thế phù hộ em gặp hung hóa cát, khà khà.” - Lương Viện cười, nói.

‘Được rồi, đừng tụng kinh nữa, tôi chắng bao giờ tin những thứ này, tôi chỉ tin vào người thật việc thật!” - Hàn Giang ngắt lời giao lưu tôn giáo của Lương Viện và Đường Phong.

6

Đường Phong dựng lều xong, Hàn Giang cứ ép Đường Phong và Lương Viện ngủ trong lều, còn mình ngủ trong xe. Đường Phong hơi ngại, nhưng cũng đành phải nghe theo Hàn Giang. Đường Phong và Lương Viện nằm trong lều, tiếng gió bên ngoài rít lên từng hồi. Lương Viện thấy đau đầu, nằm cả tiếng đồng hồ cũng không ngủ được. Đường Phong đành phải ôm Lương Viện, kể cũng thật lạ, lúc này Lương Viện lại chìm ngay vào giấc mộng.

Sớm tinh mơ, trên sa mạc Gobi nổi trận cuồng phong, đây là một cơn bão cát thực sự. Cuồng phong cuốn tung cát bụi, đá vụn đập vào lều của Đường Phong và Lương Viện. Đường Phong mở trừng mắt, dỏng tai nghe ngóng một hồi. không, đâv không phải là ác mộng, ác mộng không thể tỉnh táo như vậy. Đường Phong ngồi phắt dậy, đánh thức Lương Viện. “Bão cát!” - Đường Phong hốt hoảng nói.

Căn lều yếu ớt của Đường Phong và Lương Viện không ngừng bị gió cát thổi cho lắc lư. Trong lúc Đường Phong vẫn đang chần chừ, bên ngoài lều, giọng Hàn Giang đã vang lên: “Đường Phong, mau dậy đi, bão cát đến rồi, e rằng chiếc lều này không trụ được đâu!”

Đường Phong tỉnh ngay ra, anh mở cửa lều, kéo Lương Viện chạy ra ngoài, Lương Viện không ngừng la hét. Giang một tay lôi ngay Đường Phong và Lương Viện tới cạnh xe ô tô, rồi quay lại nhìn căn lều, chỉ trong chớp mắt nó đã bị cuồng phong cuốn vào cát bụi, không thấy tăm hơi.

Đường Phong lúc này nghĩ lại mới thấy sợ, bên tai anh ngoài tiếng gió thét gào, cũng chỉ toàn là những am thanh đáng sợ. Anh nhíu mắt, nhìn về phía kinh quan, cảnh tượng khiến anh khiếp sợ xảy ra rồi. Hài cốt, đầu lâu chất đống kiên cố trong kinh quan cũng không cưỡng lại được sự tấn công của bão cát. Từng hài cốt dường như có sinh mệnh, khuôn mặt đau khổ bặm trợn thét gào, cuồng phong cào xé những khuôn mặt hung tợn đó. Bồng nhiên, những khuôn mặt bị cuồng phong và cát bụi đất đá cào rách từng vết thương, máu me lênh láng, đau khổ biến dạng, cuối cùng mất hút trước mắt Dường Phong.

Một vài hài cốt bên ngoài xung quanh kinh quan bị cơn bão cát thổi vương vãi trong đêm đen. Đột nhiên, một chiếc xương sọ bị cuồng phong cuốn lên, bắn về phía Lương Viện, Đường Phong ôm chặt lấy Lương Viện, chiếc xương sọ rơi bịch lên thân xe, làm “con lừa dũng mãnh” vốn kiên cố nhường vậy cũng bị lõm cả xuống. Sau đó, chiếc xương sọ lại bị cơn cuồng phong cuốn vào màn đêm đen kịt, mất hút không tung tích.

Lương Viện không ngừng la hét, khóc lóc, Đường Phong đành phải ôm chặt cô. Nhưng cơn bão cát này lại không hề có dấu hiệu sẽ lắng xuống. Nhân lúc gió nhỏ 

bớt. Đường Phong mở mát nhìn đồns hồ, trời sắp sáng rồi, anh quay ra lớn tiếng hỏi Hàn Giang: ‘Trận... trận gió này xem ra không dừng lại đâu, chúng... chúng ta phải làm thế nào?”

"Mẹ kiếp, trận... trận gió chết tiệt, tôi... tôi thấy nếu cứ tiếp tục như vậy, ‘con lừa dũng mãnh" của chủng... chúng ta sẽ không chịu được nữa đâu, chỉ... chỉ có một cách...” - Hàn Giang ấp a ấp úng nói.

"Cách gì...”

"Vào Thiên Hộ Trấn!” - Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

"Bây giờ?” - Không biết do gió thổi hay là do nghe thấy phải vào Thiên Hộ Trấn, mà giọng Đường Phong trở nên run rẩy.

“Phí lời, tất nhiên là bây giờ rồi!”

Hàn Giang vừa dứt lời, Đường Phong liền cảm thầy một cơn cuồng phong mãnh liệt ập tới, rồi nsay sau đó anh nghe thấy tiếng kính vờ. ‘"Con lừa bảy màu"’ đang che chở cho họ bắt đầu lắc lư mạnh. Anh biết rằng, nếu cú tiếp tục thế này thì "con lừa dũns mãnh" cũng không thể bảo vệ họ được nữa, có thể họ sẽ bị bão cát cuốn lên trời cùng ‘con lừa dũng mãnh’.

Lúc này, Đường Phong bắt đầu hiểu ra tại sao Hàn Giang nói rằng “con lừa dũng mãnh” không thể trở về, đến lúc hạ quyết tâm rồi. Đường Phong gào lên với Hàn Giang: "Được rồi, nghe lời anh."

Nói xong, Đường Phong mở cửa sau xe, cùng Lương Viện chui vào trong, Hàn Giang nhảy vào ghế lái.

Gió càng lúc càng dữ dội, mặc dù đã thêm trọng lượng của ba người, ‘con lừa dũng mãnh’ vẫn run rẩy trong gió. Đường Phong phát hiện ra cửa kính xe bên trái đã nứt vỡ, trong lòng không khỏi hoảng loạn, anh hét về phía Hàn Criang: “Mau. mau lái xe đi!"

Hàn Giang khởi động một lúc lâu, nhưng không tài nào khởi động được xe, Hàn Giang bắt đầu lẩm bẩm:

‘“Con lừa dũng mãnh" ơi, cưng ơi, khởi động đi nào!”

Nếu như bình thường nghe thấy những lời sởn gai ốc này của Hàn Giang, Đường Phong sẽ cười phá lên, nhưng hiện giờ anh không sao cười nổi, chỉ nghe thấy tiếng Hàn Giang không ngừng lẩm bẩm: “Bảo bối của tao ơi, hãy cho tao chút thể diện nào, nhúc nhích cho tao xem nào!”

“Con lừa dũng mãnh” vẫn bất động, Đường Phong bắt đầu lo lắng: "Hay là đất cát bịt kín ống bô rồi?”

Hàn Giang không buồn đế ý Đường Phong, vẫn liếp tục nịnh nọt "con lừa dũng mãnh”: “Cưng của tao, bảo bối, ‘con lừa dũng mãnh’ đáng yêu ơi, khởi động đi nào! Mẹ kiếp, cái mạng quèn của anh mày nằm trong tay mày cả đấy, mày không thế thấy chết mà không cứu chứ!

Mẹ kiếp, khởi động cho tao xem nào.

Từ cuối cùng Hàn Giang kéo dài giọng ra, kế cũng kì lạ, Hàn Giang vừa chửi một cái, “con lừa dũng mãnh” nhúc nhích thật. “Con lừa đê tiện này, cứ phải để tao chửi mày mới chịu nhúc nhích là sao?” - Hàn Giang tức tối. 

Hàn Giang đánh mạnh vô lăng, nghênh đón gió và vô số cát bụi, lao thẳng về phía Thiên Hộ Trấn tối đen.

7

Cuồng phong cuốn theo không biết bao nhiêu là cát đá đập lên kính chắn gió của "con lừa dũng mãnh". May mà “con lừa dũng mãnh" cũng khá kiên cố, có thể chở ba người lao ra khỏi vòng vây. Hàn Giang lái "‘con lừa dũng mãnh’" một vòng quanh kinh quan rồi lao vào Thiên Hộ Trấn.

Hàn Giang trông thấy trước mặt là một bức tường vây không cao lắm, xe có thể lao thẳng qua đó, nhưng anh không biết phía sau bức tường là thứ gì. Nếu như phía sau đó... Hàn Giang không dám nghĩ tiếp, anh bắt buộc phải khấn trương quyết đoán, bởi vì anh đang cách bức tường đó rất gần, nếu muốn lao qua đó thì bây giờ bắt buộc phải tăng tốc. Đường Phong và Lương Viện cũng trông thấy đoạn tường phía trước, nên không dám nhìn tiếp. Hàn Giang lái "con lừa dũng mãnh" bay trên không trung, vượt qua bức tường thấp. Thượng đế. Giêsu, Phật tổ, đức mẹ Maria phù hộ, phía sau bức tường thấp là một khoánh bằng phẳng, và “con lừa dũng mãnh" rơi bịch xuống đó. Mọi việc lại trở lại như cũ, gió bên ngoài vẫn thét gào, nhưng trong này lại yên tĩnh nhường vậy, những kiến trúc tối đen không chút ánh sáng của Thiên Hộ Trấn chặn đứng cuồng phong và bão cát. 

Hàn Giang thở phào một cái, năm nhoài ra vô lăng, Đường Phong và Lương Viện ôm chặt lấy nhau. Mãi lâu sau, họ mới biết rằng mình đã quay trở về nhân gian.

Hàn Giang chầm chậm lái xe vào Thiên Hộ Trấn, một con đường cũng khá rộng rãi trải dài vào trong thị trấn. Cả quãng đường, ba người vừa mới thoát khỏi nguy hiểm lại rơi vào trạno thái căng thẳng. Họ không biết trong đống kiến trúc đen sì này đang ấn giấu nguy hiểm mới nào.

Men theo con đường phía trước, “con lừa dũng mãnh” đến một quảng trường, Hàn Giang dừng xe, đang định xuống xe thì Đường Phong kéo anh lại: “Bây giờ đang nguy hiểm, thà đợi tới mai sau khi trời sáng đi kiếm tra sau còn hơn”.

“Trời sáng?” - Hàn Giang lườm, rồi ngước nhìn trời: “Đợi tới khi trời sáng thì ít nhất cũng phải một tiếng nữa, cậu định để chúng ta ngồi trong này đợi sao?”.

“Chúng ta tạm đi dọc theo những con đường này đã!” - Nói xong, Đường Phong chỉ tay về phía ba con đường xung quanh quảng trường mà họ vẫn chưa đi qua.

“Được rồi, nghe lời cậu vậy. Chúng ta đi đường nào trước đây?’ - Hàn Giang nhìn qua một lượt ba con đường tối đen.

Đường Phong cũng nhìn chăm chằm ba con đường này, rồi mãi lâu sau mới nói: “Cả thị trấn do một đường hướng đông tây và một đường hướng nam bắc phân cắt thành hai khu vực khác nhau. Con đường ban nãy chúng ta vào thị trấn hơi chếch về hướng đông nam, chắc chắn là con đường chính hướng đông. Hiện chúng ta đang đứng trước con đường chính hướng tây, nếu như tôi đoán không lầm thì con đường chính hướng tây sẽ chếch về hướng tây bắc, con đường bên tay phải chúng ta chính là con đường chính hướng bắc, đường bên tay trái chắc là hướng nam. Chúng ta đi theo hướng nam trước đã, sau đó là hướng tây, cuối cùng là hướng bắc, đi một vòng theo chiều kim đồng hồ".

Hàn Giang gật gù, khới động “con lừa dũng mãnh”, chầm chậm lái về con đường phía nam. Con đường này rất ngắn, chẳng mấy chốc họ đã đi tới cuối đường, trước mặt là một bức tường không cao lắm. Hàn Giang nhảy xuống xe; lần này Đường Phong không những không chặn Hàn Giang lại mà anh cũng nhảy xuống xe. Hai người tới trước bức tường: “Đây là một bức tường thành được xây bằng gạch’ - Đường Phong phán đoán.

“Thị trấn nhỏ này mà cũng có tường thành ư?” - Hàn Giang nghi ngờ đạp một cái lên bức tường trước mặt. Bức tường thành đã trải qua bao mưa nắng hàng trăm năm qua mà vẫn kiên cố lạ thường.

“Đừng quên đây cũng là một chiến hào quân sự.” - Đường Phong nhắc nhở Hàn Giang.

“Vậy thì bức tường vây thấp tè mà chúng ta vượt qua ở đường chính phía đông, cũng là tường thành sao?” “Chắc là vậy, những bước tường thành này năm đó chắc là cao hơn rất nhiều so với những gì chúng ta thấy hiện giờ, chỉ có điều là mấy trăm năm qua đi,.

“Nhưng nếu đã có tường thành thế này, vậy thì cổng thành đâu?” - Hàn Giang ngắt lời Đường Phong, đột nhiên hỏi.

Đường Phong cũng trở nên nghi ngờ, đúng vậy! Chắc là phải có cổng thành, nhưng không trông thấy cổng thành của đoạn tường thành phía trước. Đường Phong bắt đầu tìm kiếm trên bức tường thành: "Theo truyền thống của người Trung Quốc cố đại thì e rằng tòa thành này chỉ có một cổng thành, mà cũng phải xuất hiện ở hướng nam.”

Đường Phong bật đèn pin lên rồi tìm kiếm trên bức tường thành, đột nhiên, một khuôn mặt dừ dằn hung tợn hiện lên trước mắt Đường Phong, làm anh giật bắn mình, lùi lại đằng sau mới đứng vững được. Hàn Giang đỡ Đường Phong, mỗi người cầm một chiếc đèn pin soi về phía khuôn mặt bặm trợn đó rồi từ từ di chuyển ánh đèn. Cả hai đều không hẹn mà đều... há hốc mồm, “Á... là xác khô!” - Đường Phong kêu lên thất thanh.

“Ở đây mà cũng có xác khô!” - Hàn Giang tìmg chinh chiến hàng trăm trận mạc, bây giờ cũng dựng cả tóc gáy.

Lúc này, phía chân trời đã hửng chút ánh sáng, một cái xác khô được bảo tồn nguyên vẹn, sát dưới chân góc tường thành, một chiếc xương sọ đang nhô lên, một đầu lâu có bộ răng chìa ra đang nhìn chằm chàm vào Đương Phong và Hàn Giang.
 

hoahongden12

Active Member

Trước mắt là cảnh tượng khủng khiếp khiến cả đời anh không thể quên được: một người đàn bà treo lủng lắng trên trần nhà, trên lò sưởi ở góc tường là năm đứa trẻ nằm xếp hàng ngang - chính xác mà nói phải là năm cái xác khô còng queo.

1

Sững sờ mất một lúc lâu, Đường Phong và Hàn Giang mới lấy hết can đảm bước tới trước cái xác. Dù sao Hàn Giang cũng to gan hơn Đường Phong, nên gần như dán mắt vào khuôn mặt hung dữ cúa cái xác khô đó và bắt đầu kiểm tra. “Phần đầu bị vật sắc nhọn sát thương, đâm một phát chết luôn!” - Hàn Giang nói.

“Có thể nhìn ra là bị vật sắc nhọn gì sát thương không?”

Hàn Giang lắc đầu: “Bây giờ không đoán ra được, trừ khi cậu có thể phát hiện thấy binh khí.”

"Được thôi, để tôi nói về cái xác khô này. Từ kiểu tóc và trang phục vẫn chưa mục nát trên cái xác, có thể đoán người này khi còn sống là một binh lính Mông cổ.”

“Binh lính Mông cổ?” 

“Ừm, lại là dấu vết của người Mông cổ, những gì

chúng ta phát hiện trên cả đường đi toàn là dâu vết của Mông Cổ mà không trông thấy dấu vết Tây Hạ đâu cả!”

“Bởi vậy tôi mới nói: hay là chúng ta đi sai đường rồi!”

“Không! Sự xuất hiện của cái xác khô này vừa hay chứng minh chúng ta không đi sai đường.”

“Ồ?”

"Anh vừa nói binh lính Mông cổ này bị vật sắc nhọn sát thương, vậy thì anh ta bị ai giết chết?”

“Ý cậu nói là người Đảng Hạng?”

“Chính xác mà nói thì là người Đảng Hạng ở Hạn Hải Mật Thành!”

“Mong rằng suy đoán của cậu là đúng, nhưng chúng ta vẫn cần nhiều chứng cứ hơn nữa.”

“Chứng cứ? Sẽ có thôi!” - Đường Phong nói xong quay đầu lại nhìn, lúc này sắc trời cũng đã sáng hơn ban nãy. Đường Phong thấy hai bên đường phía nam đều là những căn nhà thấp lè tè hoang phế, còn phía bắc thị trấn thấp thoáng vài kiến trúc cao lớn. “Xem ra giống phần lớn thị trấn tại Trung Quốc, phía nam Thiên Hộ Trân chắc đều là nhà ở của người dân.” - Đường Phong nói.

“Chiến hào quân sự cũng có người dân ư?” - Hàn Giang lắc đầu.

‘Đừng quên ràng đại quân đóng quân trong sa mạc, cô lập không có viện trợ, phụ trợ, sinh hoạt đều phải phụ thuộc vào thương nhân; còn cả những người thợ thủ 

công, cộng thêm cả người thân của những binh sỹ, những người này chắc đều ở trong phía nam thị trấn.”

Hàn Giang gật gù: "‘Được rồi, cứ cho là cậu nói đúng đi, nhưng cổng thành đâu?”

“Đừng vội, anh nhìn đây!” - Đường Phong đi tới một cái.ngách phía đông bức tường thành, anh phát hiện hai vùng dân cư phía đông nam và tây nam giao thoa hỗn độn. Một bên là nhà ớ không người, một bên vẫn là những bức tường thành kiên cố. Đường Phong đi khoảng bốn mươi bước về phía đông thì thấy cái ngách cụt đột ngột, và ở đây - phía bắc bức tường thành, xuất hiện một con đường. Đường không rộng lắm, nhưng vẫn rộng hơn cái ngách han nãy. Trên tường thành chính diện của con đường này, xuất hiện một cái cổng thành.

“Quả nhiên có cổng thành, nhưng tại sao không xây cổng thành ở cuối con đường phía nam, mà lại xây ở đây nhỉ?” - Hàn Giang không hiểu.

"Đây gọi là âm môn, là do lúc xây thành họ đã cố ý xây ở đây. Như vậy, một khi kẻ thù từ cổng thành tấn công vào, trông thấy không phải là con đường phía nam rộng rãi mà là khu dân cư đan xen rối rắm, sẽ khiến cho kẻ thù vốn không thông thạo tình hình trong thành, chóng mặt mất phương hướng, còn phía đang canh giữ thành thì vẫn có thể dựa vào ngõ ngách phức tạp bên cạnh cổne thành để chốns cự với quân địch, thậm chí còn có thể đuổi kẻ thù ra khỏi thành!” - Đường Phong giải thích một tràng. 

“Vậy cậu nói xem, binh sỹ Mông cổ ban nãy là ở phía canh giữ thành hay là phía tấn công?” - Hàn Giang hỏi.

Đường Phong ấp úng một hồi, rồi lắc đầu: “Không biết được, đại quân Mông cổ vốn dĩ là phía tấn công, người Đảng Hạng là phía phòng thủ, nhưng những gì chúng ta thấy trên suốt đường đi lại không như vậy!"

Hai người vừa nói, vừa đi tới phía dưới cổng thànhẵ Có thể là do năm tháng tích lũy, có thể là do người canh giữ thành năm dó cố ý tạo ra, dưới cổng thành có chất đống một ụ đất cao. Đường Phong và Hàn Giang đành phải vượt qua bức tường đất này, nhưng phía ngoài cống thành, hiện lên trước mắt họ không phải là sa mạc mênh mông, mà lại là một thị trấn, và điều khiến hai người kinh ngạc hơn là: trong thị trấn chất đầy những xác chết khô.

2

Bức tường thành vốn không cao lắm, hình như lại mọc thêm một đoạn tường nữa, một nửa hình vòng cung méo mó, hợp lại với bức tường thành ban nãy, thành một thị trấn nhỏ khép kín.

“Thế này là thế nào?” - Hàn Giang vô cùng kinh ngạc và có chút choáng váng.

‘Thật không ngờ một thị trấn nhở như thế này mà lại xây dựng phức tạp như vậy, đây là một thành hũ.”

“Thành hũ?” 

"Tiền môn ở Bắc Kinh chẳc anh biết rồi chứ?” "Tôi hiểu rồi, thời chiến tranh - phía canh giữ thành có thề để kẻ địch vào trong thành hũ, sau đó đóng cổns thành bèn ngoài lại, hình thành thế cá chậu chim lồng. Xem ra đây đúng là một chiến hào quân sự phòng thu chặt chẽ!"

Hàn Giang hình như đã liiêu ra, anh ngẩng đầu nhìn lên cổng thành. Đường Phong vỗ vào vai Hàn Giang: "Đừng nhìn nữa, phía trên có một tấm rào chắn nghìn cân, chúng ta hãy tới xem những xác khô này đã!”

Tuy Đường Phong đã chuấn bị tâm lý, nhưng khi ở trong khu xác khô này, anh vẫn không sao kìm chế được cơn nôn ọe. Hàn Giang đi găng tay, lật một xác khô mặc quân phục Mông cổ lên, vẫn là một khuôn mặt chưa bị phân hủy, trông rất dữ tợn. Rồi ngay phía dưới lại là một thi thể nữa, Hàn Giang liền một lúc lật được tới gần chục thi thể, và điều khiến anh ngạc nhiên là tất cả những thi thể này đều là binh sỹ Mông cổ. “Lẽ nào chỉ có những binh sỹ Mông cổ mới biến thành xác khô, còn ké thù của họ đều đã phân hủy hết rồi?” - Hàn Giang đứng cạnh đống xác khô ngất ngưởng, thở hổn hển kêu lên.

"‘Nếu cố phân hủy thì cũng phải còn lại xương cốt, hơn nữa ở đây lại khô hạn không mưa. Thi thể của binh sỹ Mông cổ có thể được bảo tồn như vậy, thì kẻ thù của họ đáng nhẽ ra cũng phải như thế chứ?” - Đường Phong thắc mắc.

“Vậy xác khô của họ, lẽ nào..- Hàn Giang bỗng dừng lại.

"Anh nghĩ ra gì vậy? Nói mau!”

“Lẽ nào những hài cốt chất đống thành kinh quan bên ngoài thị trấn là của người Đảng Hạng!" - Hàn Giang suy đoán.

Đường Phong lắc đầu, khó hiếu: “Nếu như kinh quan bên ngoài thị trấn là do xác người Mông Cô chất thành, vậy thì tại sao họ không thu gom thi thể của chiến hữu trong thị trấn, điều này không phù hợp với lẽ thường.”

“Vậy cậu nói xem tại sao?” - Hàn Giang càng cảm thấy khó hiểu.

“Tình huống này chỉ có một cách giải thích duy nhất, đó chính là sau khi những dũng sỹ Mông cổ trước mặt chúng ta đây chết trận, đại quân Mông cổ chưa từng quay trở lại đây!”

"Nhưng trong thời kỳ Mông cổ và Tây Hạ chiến tranh, đại quân Mông cổ mới chính là người chiến thắng sau cùng! Lẽ nào những binh sỹ Mông cổ ở đây không phải do người Đảng Hạng giết, mà là sau khi triều Nguyên diệt vong bị quân Minh giết chết?” - Hàn Giang càng nghĩ càng xa rời thực tế.

"‘Quân Minh? Không thể như vậy, thứ nhất, tại hố bẫy ngựa gần Lang Oa, còn cả trên bia cấm ước ngoài Thiên Hộ Trấn, chúng ta đều trông thấy niên hiệu của Nguyên thế tổ Hốt Tất Liệt, không giống di tích của cuối triều Nguyên; hai là quân Minh cũng không thể từ 

phía tây bắc tàn sát tới đây, bởi vậy không thể là quân Minh. Kẻ thù của những binh sỹ Mông cổ này, khả năng lớn nhất có thể vần là người Đảng Hạng ở Hạn Hải Mật Thành. Chỉ có điều ở đây có quá nhiều điều bí ẩn, hiện giờ chúng ta vẫn không thế giải đáp được!”

“Xem ra vào thời khắc cuối cùng, ở đây đã xảy ra một cuộc thảm sát. tất cả mọi người đều chết hết, từ đó Thiên Hộ Trấn đã trở thành một thị trấn hoang phế. Không! Phải là một tòa thành chết chóc mới đúng!”

“Thành chết chóc?” - Khi Hàn Giang nhắc tới từ này, Đường Phong bỗng giật thót tim; anh lấy lại bình tĩnh rồi một lúc mới mớ miệng: "Tôi nghĩ xương cốt trong kinh quan ngoài thị trấn chắc vần là của người Đảng Hạng, họ đều bị giết chết trước khi Thiên Hộ Trấn bị thảm sát vài năm. thậm chí bị giết trước đó cả hàng chục năm!”

“Ồ! Tại sao?”

“Thứ nhất ở đây khí hậu khô hạn ít mưa, thi thể không dễ phân hủy, nên muốn xếp thành kinh quan thì phải đợi sau khi xác phân hủy thành xương thì mới chất lên được; thứ hai Mông cố diệt vong Tây Hạ là vào đầu thế kỷ XIII, còn Hốt Tất Liệt kiến lập triều Nguyên là sau khoảng giữa thế kỷ XIII. Bởi vậy tôi suy đoán, hài cốt cúa người Đảng Hạng trong kinh quan bên ngoài thành được hình thành khi Thiên IIỘ Trấn bị thảm sát trước đó vài năm, thậm chí còn được xây dựng trước đó hàng chục năm.”

“Cũng có nghĩa là sau khi Tây Hạ bị diệt vong, người Đảng Hạng ở Hạn Hải Mật Thành hoặc người Mông Cổ đã đánh trận những mấy chục năm?” - Hàn Giang tuy đồng ý với suy luận của Đường Phong, nhưng

Vẫn có chút kinh ngạc.

“Đúng vậy, từ thời Thành Cát Tư Hãn đánh mãi cho lới tận đời cháu của ông ta là Hốt Tất Liệt.” - Đường Phong nhìn những xác khô trước mặt, chán nản cười.

“Thù hận khó có thể hóa giải, theo như suy đoán của anh thì người Mông cổ đã chất xương cốt của ngưòi Đảng Hạng thành kinh quan, để khoe khoang thế lực; rồi từ đó người Đảng Hạng đã báo thù, vào một đêm trăng rằm máu đã đổ ở Thiên Hộ Trấn. Kể từ đó, không ai dám bén mảng tới Thiên Hộ Trấn.’"

“Ai bảo anh đó là vào đêm trăng rằm?”

“Tôi xem phim toàn thấy nói vậy mà!” - Hàn Giang cười đau khổ.

Đường Phong lại khó nhọc bước lên phía trước vài bước; rồi hoàn toàn vô tri vô giác, anh đã tới chính giữa thành hũ, đứng giữa mấy trăm cái xác khô và phóng tầm mắt nhìn. Bất giác Đường Phong giật thót tim, hoa mắt chóng mặt. Anh bỗng thấy mình đang đứng giữa một trận xác khô, những cái xác khô xung quanh đã sống lại, đứng lên, mặt mũi hung tợn vây xung quanh mình.

3

Đường Phong hoa mắt chóng mặt. đứng không vững, người cứng đơ đổ thẳng xuống đống xác khô dưới chân. May mà Hàn Giang phản ứng nhanh nhạy đã lập tức đỡ ngay lấy Đường Phong.

Đường Phong ra sức lắc đầu, nhìn lại đống xác khô xung quanh, chúng không hề sống dậy, vẫn giống như đã chết hàng trăm hàng nghìn năm, lặng lẽ nàm đây. "‘Ở đây cũng xem rồi, chúng ta quay về thôi!” - Hàn Giang đề nghị.

Nhưng Đường Phong lại vùng khỏi tay Hàn Giang, xua tay, nói: "Tôi nghĩ chúng ta có thế phát hiện ra điều gì đó trên những xác khô này!”

"Phát hiện gì cơ? Không phải chỉ là từng cái xác thôi sao, mặt mũi hung tợn!” - Hàn Giang không hiểu.

Đường Phong một mình đi thẳng tới cổng thành hũ phía đông nam, Hàn Giang đành phải đi theo. Đường Phong lật một cái xác khô lên, trước ngực cái xác khô nàv bị vật nhọn đâm thủng một lồ, một cái lỗ vừa to vừa sâu!

‘Từ vết thương cho thấy, đây là bị binh khí dài đâm thấu từ chính diện.” - Hàn Giang bình tĩnh phán đoán. “Binh khí dài? Là cái gì nhỉ?”

Hàn Giang hất cằm: “Ở ngay dưới chân cậu đấy!” Đường Phong vội vàng lùi lại, lúc này anh mới phát hiện ra trong cát vàng lấp ló lộ ra một đoạn cán gỗ đã còng queo, đoạn cán gỗ này to bằng miệng bát. Đường Phong định lấy tay rút cán gỗ từ trong cát lên, nhưng anh đã dốc hết sức, thử mấy lần cũng không rút được nó ỉên.

Hàn Giang cười, nói: “Tôi thấy sức cậu bây giờ rõ ràng không bằng trước đây!”

‘‘Vậy anh rút đi!” - Đường Phong phẩy tay không làm nữa.

“Rút thì rút!" - Hàn Giang cầm lấy đoạn cán gỗ, dốc hêt sức lực, cán gỗ vùi trong cát không chút nhúc nhích. Hàn Giang cảm thấy kỳ lạ, lại dốc hết sức, hét lên một tiếng, lúc này mới rút được thanh cán gỗ từ trong cát ra.

Cả hai đều ngạc nhiên, Đường Phong sững sờ nhìn đoạn cán gỗ to tướng trên tay Hàn Giang một lúc lâu mới lẩm bẩm nói: “Lần... lần đầu tiên tôi trông thấy một cái giáo to và dài thế này!”

Đúng vậy, trên tay Hàn Giang là một thanh giáo có chu vi to bàng miệng bát, dài ba bốn mét. “Thảo nào vết thương trên cái xác khô này vừa rộng vừa sâu, hóa ra... cái giáo dài như vậy, cổ nhân lúc đánh nhau làm sao mà cẩm nổi nhỉ? Trước đây chỉ nhìn thấy trong sách...” - Hàn Giang lắp bắp nói.

Đường Phong nhìn kỳ chiếc giáo, rồi lại ngẩng lên nhìn tường thành xung quanh: "Xem ra cái giáo này là vũ khí từ thời Tây Hạ, nó không phải dùng để độc đấu với kẻ thù, mà là được phóng đi. Những binh sỹ Mông Cổ này bị giáo bắn từ tường ra đâm chết!” 

“Vậy thì những dũng sỹ phóng những chiếc giáo này phải khỏe khủng khiếp!”

“Đúng vậy, tôi rất muốn được biết là sức mạnh nào đã phóng được ra những chiếc giáo vừa nặng vừa dài như thế này?”

"Cậu đừng có nói linh tinh như thế nữa, nếu những cái xác khô này mà sống lại thật thì cậu toi rồi đấy!” - Hàn Giang hạ giọng, cảnh cáo Đường Phong. Điệu bộ của Hàn Giang như thê sợ làm cho những xác khô ngủ say hàng trăm năm nay tinh dậy.

Hai người lại tiến lên phía trước vài bước; Đường Phong lại phát hiện ra vài mũi tên trên những xác khô, rồi chì nhìn qua, Đường Phong liền đoán định: “Nhũng thứ này đều là mũi tên của Tây Hạ, xem ra quả thực nhũng xác khô Mông Cổ này đều chết dưới tay người Đảng Hạng.” “Tôi vẫn không thể tin ràng sau khi Tây Hạ mất nước mà người Đảng Hạng vẫn có sức chiến đấu mạnh mẽ như vậy!” - Hàn Giang lắc đầu, như không thể tin vào những suy đoán của Đường Phong.

4

Hai người như vô thức bước tới phía dưới cống thành hũ, lúc này, mặt trời đã lấp ló phía đông. Tại đây, Đường Phong lại trông thấy cánh tượng không thể tin nổi, cổng thành hũ đã bị đá và đất nén chất thành một bức tường đất đá kín mít.

Hàn Giang rút dao găm ra, dốc sức đâm chọc vào cổng thành đã bị bức tường đất đá bịt kín. Đất đá kiên cố tới nỗi con dao găm sắc nhọn của Hàn Gians cũng không thể cắm vào, khiến cho anh không khỏi cảm thấy kỳ lạ. Đường Phong đón lấy con dao của Hàn Giang, đâm vài nhát xuống chân bức tường bới bới một lúc, rồi chậm rãi nói: “Cả bức tường đất đá này đều đã tưới sắt chảy. Hồi đó sắt chảy sôi sùng sục đã khiến đá và đất dính chặt vào nhau chi trong tích tắc, biến thành một tường sắt kiên cố. Bởi vậy mấy trăm năm sau vẫn kiên cố như xưa.”

“Thảo nào! Hóa ra dây chính là tường đồng vách sắt!” - Hàn Giang lại ngước lên nhìn bức tường trước mặt: “Nhưng cái nàv là do ai xây? Tại sao phải bịt kín cổng thành? Để thủ thành hay là để công thành? Hình như đều không thuyết phục!”

“Đúng vậy! Tôi cũng đang nghĩ tới chuyện này, nếu là phía thủ thành thì để tăng cường phòne ngự họ đã bịt kín cổng thành lại, điều này có thể giải thích; nhưng nếu như vậy thì phía thủ thành không thể liên lạc được với thế giới bên ngoài, vật tư cứu viện cũng không vào trong thành được, trừ khi…

“Trừ khi những người trong thành biết được bên ngoài không thể có thêm viện binh và vật tư cứu viện nữa coi như sẽ chết, nên dứt khoát bịt cổng thành lại.” - Hàn Giang suy đoán.

"Không loại trừ khả năng này, nhưng nếu như vậy thì thê thảm quá, hơn nữa, nếu như phía thủ thành là đại quân Mông cổ thì họ càng không thể tự cô lập mình với quân cứu viện được, nên họ hoàn toàn không nhất thiết phải dùng tới biện pháp này.”

‘Vậy thì là do phía công thành, nhưng tại sao phía công thành lại phải bịt cổng thành lại chứ?” - Hàn Giang không hiểu.

Hàn Giang nhất thời cũng không nghĩ ra, anh ngồi xốm xuống, tỉ mẩn quan sát xung quanh bức tường. Trên mặt đất phía trước bức tường, anh còn phát hiện thấy một lượng lớn cặn sắt trên áo giáp của những xác khô. Nhìn tiếp xung quanh cổng thành hũ, xác khô đày đặc, chi chít chi chít, chồng lên nhau trước cổng thành, hơn nữa, tất cả xác khô đều hướng về phía cổng thành. Đột nhiên, Đường Phong phát hiện thấy cạnh chân mình có một cái xác khô vẫn còn khá nguyên vẹn, nhưng bàn tay và khuỷu tay của cái xác chỉ còn lại những đốt xương trang hếu.

Đường Phone rùng mình, nhìn chằm chầm vào cái xác khô kỳ dị trước mặt. Anh lại phát hiện thấy cặn sắt xung quanh đôi bàn tay và xương cánh tay trắng hếu của xác khô. Lúc này, một bức tranh đẫm máu đáng sợ đang hiện lên trước mắt Đường Phong: những người Đảng Hạng tấn công từ tường thành vào trong thành, đã quây kín hàng trăm binh sỹ của đại quân Mông cổ trong thành hũ. Tướng sỹ Mông cổ ban đầu rút lui về cổng phía nam, nhưng người Đảng Hạng đã hạ rào chắn nặng ngàn cân của cổng nam xuống. Những binh sỳ Mông cổ không thể rút lui vào trong thành, đành phải lao tới công thành hũ, định mở cánh cổng này ra, mở một đường máu để thoát khỏi vòng vây. Nhưng đúng lúc này, người Đảng Hạng vừa mới công chiếm cống thành hũ. đã từ trên thành ném rất nhiều đất đá xuống phía dưới, bịt kín cổng thành lại.

Binh sỹ Mông cổ chạy thục mạng để né tránh đất đá; rồi trong lúc ngàn cân treo sợi róc này, sắt nấu chảy sôi sùng sục đã từ trên thành đố xuống, trong nháy mắt cướp đi dôi tay của những binh sỳ phía trước đang đào bới đất đá.

Những tiếng gào thét xé rách tâm can vang vọng khắp thành, và ngay sau đó, những lưỡi giáo phục hận, những lưỡi mác phục thù đã như mưa trút xuống những binh sỹ Mông Cổ này, cảnh tàn sát đẫm máu bắt đầu như vậy.

5

Hàn Giang ra sức vỗ vào vai Đường Phong đang chìm trong suy tư: “Chúng ta phải đi thôi, Lương Viện còn ở trên xe đấy!”

Lúc này Đường Phong mới định thần lại, đúng vậy, Lương Viện vẫn ở trong xe. Tuy họ đi không xa, nhưng đã bị những cái xác khô này làm tốn mất bao nhiêu thời gian. Chắc là Lương Viện sốt ruột lắm, nghĩ tới đây, Đường Phong cầm lấy một mũi tên Tây Hạ, bước nhanh vài bước, lùi về phía nam. Khi cả hai quay lại phía dưới cống nam, Đường Phong theo phản xạ, đã ngang lên nhìn cái rào chắn cổng thành ngàn cân phía trên. Mũi  

nhọn rào chấn trải qua mấy trăm năm nhưng vẫn ánh lên vẻ sắc nhọn; dưới ánh hừng đông le lói lóe sáng. Thấy vậy. Đường Phong không khói kinh ngạc.

Hai người ra khỏi cổng nam, phía trước có hai con đường, một đường lúc ban đầu tới, còn một đường chéo rộng rãi hơn con đường ban nãy. Hàn Giang đang định theo con đường lúc tới quay về thì bị Đường Phong tóm lại: "Hay là chúng ta đi con đường hẹp này còn hơn, theo như suv đoán của tôi thì con đường chéo này cũng có thể thông tới đường phía nam.”

Hàn Giang do dự một lúc, rồi không phản đối, theo Đường Phong đi vào con đường chéo. Hai người đi được hơn sáu mươi bước thì phía trước xuất hiện một bức tường, con đường chéo bồng rẽ ngoặt, hai người rẽ vào một con ngõ nhỏ, đi tiếp hơn ba mươi bước lại tới ^một ngã rẽ, và vẫn là một rmõ nhỏ. Đường Phong không khỏi có chút hối hận, không nên mạo hiểm đi vào những con đường phức tạp này. Anh lặng lẽ bước nhanh hơn, rồi sau hon bốn mươi bước, phía trước lại xuất hiện một bức tường. Tới khi cả hai đến trước bức tường thì Đường Phong cũng lác cả mắt, đây là một ngõ cụt.

“Đều tại ý kiến hay của cậu cả đấy, giờ thì tốt rồi, đi vào ngõ cụt!” - Hàn Giang oán thán Đường Phong.

“Quay lại!” - Đường Phong nói như đinh đóng cột.

Hàn Giang bó tay lắc đầu, đành phải theo Đường Phong quay lại đường cũ, nhưng điều khiến anh tan nát cõi lòng đã xảy ra, họ đã đi hơn trăm mét trong ngõ cũng không trông thấy con đường chéo lúc đến.

Rồi lại là một cái ngõ cụt, ở cuối ngõ cụt, Hàn Giang vịn vào tường, thở hổn hển, bắt đầu quở trách Đường Phong: “Cậu đúng là tự chui đầu vào rọ, cậu quên mất là I au nói gì trước cửa phía nam rồi à!”

“Tôi không quên, tôi từng nói nơi đây rất có khả năng được dùng để mê dụ kẻ địch tấn công thành, nên cố xây thành như vậy.”

“Cậu nhớ là tốt rồi, bây giờ chúng ta bị lạc trong này rồi đấy!” - Hàn Giang gào lên.

“Tôi cũng không ngờ trong này phức tạp vậy...” - Đường Phong nói xong, cơ thể rã rời tựa vào bức tường sau lưng. Ai ngờ khi người anh vừa tựa vào, bức tường phía sau bỗng thay đổi, cót két một tiếng, rồi cùng với bụi bay mù mịt, một cửa phòng đen sì sì hiện lên phía sau bức tường.

Đường Phong giật mình vội vã lùi lại phía sau vài bước, đợi tới khi bức tường ngừng chuyến động, anh mới hiếu: hóa ra ở đây có cánh cửa ngầm. Đường Phong thu hết can đảm cùng Hàn Giang bước vào căn phòng tối đen. “Xem ra toàn bộ kiến trúc của Thiên Hộ Trấn trước đây đều đã đuợc quy hoạch và thiết kế tỉ mi, bên trong bổ trí họp lý, tầng tầng lớp lớp!” - Hàn Giang khâm phục.

“Đúng vậy! Không biết ai thiết kế nên thị trấn cổ này nhỉ?”

“Không phải cậu từng đoán là thời Tây Hạ không có Thiên Hộ Trấn, mà Thiên Hộ Trấn là do người Mông Cổ xây dựng sao?” - Hàn Giang hỏi lại Đường Phong. 

“Không sai, trước đây tôi đã từng nghĩ như vậy, nhưng bây giờ lại có chút nghi ngờ!”

Hai người đang nói thì đột nhiên, Đường Phong cảm thấy dưới chân bị vướng vào thứ gì đó. Trong căn buồng tối đen, Đường Phong nhìn không rõ dưới chân, đành phải bật đèn pin lên, soi xuống phía dưới. Lại là một xác khô, cái xác này cũng mặc áo giáp cửa binh sỹ Mông cổ, mặt mũi nhăn nhúm vì đau đớn tột độ, nhưng điều khác lạ là người lính Mông cố này không phải bị mũi tên đâm chết, cũng không phải bị giáo mác xuyên thủng, mà chết dưới loạn đao - khắp cơ thể chàng chịt vết thương!

Đường Phong vòng qua cái xác khô nàv, rồi dò dầm tiến lên phía trước. Anh đấy cánh cửa, một chùm ánh sáng mặt trời chiếu thắng vào trong, soi chiếu căn phòng đen tối đã đóne kín mấy trăm năm nay. Đường Phong và Hàn Giang bước ra khỏi cửa phòng, tới một cái giếng trời. Giếng trời không lớn lắm, bên trong là ba cái xác khô của binh sỹ Mông cổ, tất cả đều giống nhau: chết dưới loạn đao.

Hàn Giang nhìn những cái xác trong giếng trời, không khỏi lẩm bấm: “Cậu nói nhũng ngõ nhỏ phức tạp này là đế mê dụ kẻ thù tấn công thành, nhưng những gì chúng ta trông thấy đều là thi thể của binh sỹ Mông cổ canh thành, mà chẳng có lấy một cái xác của người Đảng Hạng, cậu thấy như vậy có bình thường không?”

“Người Đảng Hạng đã gột rửa Thiên Hộ Trấn mà người Mông cổ canh giữ bằng bể máu, giải thích như vậy đủ chưa?” - mặt Đường Phong chán nản nhìn Hàn Giang.

“Dĩ nhiên chưa đủ, lẽ nào ngõ ngách phức tạp như vậy cũng không thể gây khó cho những người Đảng Hạng của Hạn Hải Mật Thành?” - Hàn Giang hỏi lại Đường Phong.

“Có thể họ rất thôrm thạo nơi đây!”

“Nghĩa là sao...”

Hàn Giang vẫn chưa nói xong, bên ngoài giếng trời bỗng có tiếng kêu hét thất thanh. Đường Phong lập tức nhận ra đó là giọng của Lương Viện, anh giật thót tim, rồi ngay sau đó, phía xa xa vọng lại tiếng súng rền vang.

6

Đường Phong và Hàn Giang đẩy mạnh cánh cửa ờ phía bên kia giếng trời, một căn phòng giống hệt ban nãy. bên trong cũng có hai cái xác nằm sõng soài. Đường Phong bất chấp tất cả lao về cửa buồng phía bên kia căn phòng. Hàn Giang tóm ngay Đường Phong lại, ra hiệu cho anh cấn thận. Đường Phong cố gắng giữ bình tĩnh, di rón rén tới sau cửa buồng, anh đã có thể nghe rõ tiếng úm mình đang đập. Phía bên kia cánh cửa vọng lại những tiếng bước chân khe khẽ, Đường Phong nghi ngờ hay là mình nehe lầm. Anh quệt lớp mồ hôi trên trán, dỏng tai nahe nghóng, không sai, những tiếng bước chân phía sau cửa buồng đang từ từ lại gần, đang từ phía đó tiến lại...  

Đường Phong mở to mắt, vẫn không thể tin rằng trong Thiên Hộ Trấn không một bóng người này..., anh quay lại nhìn Hàn Giang, rõ ràng Hàn Giang cũng nghe thấy tiếng bước chân đó. Đường Phong trông thấy ánh sáng lóe lên từ con dao găm trong tay Hàn Giang, anh biết ràng Hàn Giang đã chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Đường Phong đẩy mạnh cánh cửa buồng trước mặt, một khuôn mặt khủng khiếp nhất cuộc đời anh từng thây hiện lên ngay trước mắt, khuôn mặt hung tợn đó khiên anh không thế kìm chế được nên đã hét toáng lên. Gân như cùng lúc, một giọng phụ nữ cũng kêu lên thảm thiết. Nửa phút sau Đường Phong cảm thấy não mình hơi thiếu oxy nên thôi la hét, và lúc này anh mới nhận ra tiếng thét ban nãy chính là giọng Lương Viện!

Cái xác khô chắn giữa Đường Phong và Lương Viện đổ xuống, tới khi bụi bay tản đi, một khuôn mặt xinh đẹp của Lương Viện hiện lên trước mắt Đường Phong, hai người ôm chặt lẩy nhau.

“Sao em lại chạy lung tung tới đây?” - Đường Phong trách móc Lương Viện.

“Anh lại còn hỏi em, sao các anh để em lại một mình trên xe. bao lâu như vậy mà vẫn không quay về?” - Lương Viện trách móc lại Đường Phong.

“Tại anh, bọn anh lạc đường trong này, nên..,’’ - Đường Phong quay lại nhìn Hàn Giang, Hàn Giang đã cất con dao găm đi.

"Tiếng kêu ban nãy cũng là của cô hả?” - Hàn Giang hỏi Lương Viện. 

Lương Viện mặt đầy tủi thân gật đầu: “Ở đây đáng sợ thật đấy, đến một người sống cũng không có, nhưng lại có bao nhiêu là xác khô!”

“Em cũng trông thấy xác khô rồi ư?” - Đường Phong hỏi.

“Không chỉ một cái thôi đâu!”

Lúc này Đường Phong mới nhìn kĩ lại căn buồng trước mặt, không, không phải là căn buồng, mà là một lối đi. Đầu lối đi bên kia vần còn một căn buồng nữa, hóa ra cái xác khô đáng sợ ban nãy treo trên xà ngang phía trên lối đi.

“Cái xác này không giống một binh sỹ mà giống một tiểu thương nhân hơn. ông ta cũng không phải chết trận mà là treo cổ tự sát!” - Hàn Giang lập tức phán đoán.

“Còn... còn cả đàn bà, trẻ... trẻ emỗ..” - Lương Viện run rẩy nói.

“Đàn bà? Trẻ em?” - Đường Phong ngạc nhiên hỏi.

“Đúng vậy, ban... ban nãy em đụng phải một xác đàn bà nên mới hét toáng lên!” - Lương Viện vẫn hồn xiêu phách lạc, “Họ... họ ở trong buồng bên kia..

Lương Viện chỉ về căn buồng phía đầu bên kia lối đi, rồi vùi đầu vào ngực Đường Phong. Theo hướng Lương Viện chỉ, Hàn Giang bước nhanh về phía căn buồng đó.

Ba người tới căn phòng phía đối diện, một cảnh tượng khó quên trong cuộc đời đã hiện lên trước mắt họ: một người đàn bà treo lơ lửng trên xà nhà, trên lò sưởi phía góc buồng, năm đứa trẻ xếp hàng ngang nằm ngay ngắn, chính xác mà nói, là năm cái xác khô nằm còng queo.

7

Hàn Giang kiểm tra sơ qua một lượt: "Có con trai, có con gái. Khoảng từ ba tới bảy tuổi, chẳc đều do tắc thở mà chết."

“Tắc thở?” - Lrơng Việt khẽ kêu lên.

"Đều bị bóp cổ chết!”

"Ai bóp cổ họ chết chứ?" - Lương Viện mở to đôi mắt hoảng hốt nhìn Hàn Giang.

Hàn Giang liếc nhìn người đàn bà treo trên xà nhà, nói: “Chính là người đàn bà này, mẹ của chúng!”

"Á? Mẹ giết chết con mình?” - Lương Viện không thể tin được.

"Đúng thế, tôi cũng nghĩ vậy!" - Đường Phong vỗ vỗ vai Lương Viện, “Khi vỡ thành, cha và mẹ những đứa trẻ này bóp cố chúng chết trước, sau đó mới treo cố tự tử!”

“Quá... quá tàn khốc!” - Lương Viện không dám nhìn nữa.

Hàn Giang mở cửa căn buồng này ra, ánh sáng chói lóa rọi vào, soi chiếu căn phòng đã phủ bụi vài trăm năin nay. Hàn Giang hít thở từng ngụm lớn không khí trong lành bên ngoài, rồi nhìn lướt qua bên ngoài căn phòng một lượt, đây là một khoảnh sân, còn phía trước hình như là một căn phòng chính. Hàn Giana không vội vã đi tới căn phòng đó, anh quay trở lại vào trong phòng, rồi đột nhiên hỏi Lương Viện: “Ban nãy cô có nghe thấy tiếng súng không?”

“Tiếng súng?” - Lương Viện lắc đầu.

“Sau khi cô hét lên ấy!” - Hàn Giang nhìn Lương Viện.

“Lúc đó tôi... tôi sợ quá, căng thẳng quá nên chẳng nghe thấy tiếng súng nào cả...” - Lương Viện cố sức hồi tưởng lại.

“Vậy thì kỳ lạ thật đấy, tiêna súng ở đâu ra nhỉ?” - Hàn Giang vẫn nhìn Lương Viện chằm chằm.

Lương Viện bị Hàn Giang nhìn cho sởn gai ốc, “đội trưởng Hàn, sao anh lại nhìn tôi như thế? Lẽ nào anh nghi ngờ là do tôi nổ súng? Tôi lấy đâu ra súng?”

Hàn Giang vẫn nhìn Lương Viện, Đường Phong vội vàng giải thích thay Lương Viện: "Chúng ta cùng xuất phát, Lương Viện làm sao có súng được? Anh đừng có nghĩ linh tinh nữa.”

Nehe Đường Phons nói vậy, Hàn Giang mói rời ánh mắt khỏi Lương Viện. Anh tiếp tục nhìn xung quanh phòng, cuối cùng nhìn vào Đường Phong, nói: “Chúng ta đều không có súng, vậy thì tiếng súng ở đâu ra? Lẽ nào hai chúng ta nảy sinh ảo giác?"

“Cái này..- Đường Phong cũng cứng họng.

“Lẽ nào trong thị trấn chết chóc này vẫn còn ai khác?” - Lương Viện bồng ngạc nhiên kêu lên.

Lương Viện nói vậy khiến Đường Phong lạnh cả sống lưng, trong thị trấn kì quái, không một bóng người này, lẽ nào còn có ai khác? Ngược lại, Hàn Giang có vẻ trấn tĩnh hơn: "Hoàn toàn có khả năng này, đừng quên vệt bánh xe của hai chiếc xe trên sa mạc Gobi.”

“Đúng vậy, những neười bạn cũ của chúng ta không thể từ bỏ đâu. Nhưng... nhưng hai vết bánh xe trên sa mạc Gobi sau đó đã biến mất rồi, chúng đâu có vào trong thị trấn!” - Đường Phong nghi ngờ.

“Ai mà biết được, tôi chỉ biết trong tay họ có súng. Tôi đâu có muốn trong cái thị trấn chết chóc này, ngoài những xác khô khiến người ta nôn mửa. lại bỗng.mọc đâu ra một cái xác máu tươi rói!” - Hàn Giang nói xong, bước nhanh ra khỏi phòng, tiến về phía căn phòng chính ở đối diện.

“Xác máu tươi rói?" - Đường Phong vẫn đang nghiền ngẫm câu nói của Hàn Giang, câu nói đó của Hàn Giang khiến anh buồn nôn.

Đường Phong và Lương Viện theo Hàn Giang tới căn phòng chính diện. Lương Viện chỉ vào cửa buồng, nói: “Bên ngoài chính là con đường phía nam, ban nãy em từ đây đi vào mà!”

Đường Phong và Hàn Giang liếc nhìn cánh cửa, bên ngoài quả nhiên chính là con đường phía nam mà họ đi qua. Hàn Giang quay lại nhìn căn phòng chính, nói đùa: "Xem ra gia đình này ở đây cũng khá đấy, sân nhà to thế này!” Nói xong, Hàn Giang lao thẳng vào căn phòng chính, nơi cửa phòng đã lung lay sắp rơi xuống. Dù sao ở đây không có những cái xác khô khiến người ta buồn nôn, trong căn phòng xập xệ trống hơ trống hoác, chỉ còn vài chiếc ghế xiêu vẹo. Hàn Giang đang định bỏ đi thì Đường Phong lại phát hiện ra một cái hộp trong góc trái căn phòng: “Mọi người lại xem, đây là cái gì?”

Hàn Giang tiến đến, nâng chiếc hộp trong góc tường lên. Ai ngờ, chiêc hộp vốn tồn tại hơn bảy trăm năm nên đã vụn nát. Hàn Giang vừa cầm lên, chiếc hộp gỗ liền bung ra, rồi cùng với những mảnh vụn của chiếc hộp, không biết chất bụi hay là bột gì bay ra tứ tung.

Từng được tập huấn phòng tránh chất hóa học, nên Hàn Giang biết ngay không ổn, anh vội vàng quang chiếc hộp trên tay đi, lùi lại phía sau. “Mẹ kiếp, vũ khí hóa học!" Bụi vẫn chưa bay tản đi, Hàn Giang chửi rủa.

Đường Phong bị bụi và chất không biết tên đó bám đầy người, anh vừa phủi bụi, vừa bước đi, nhặt một miếng gỗ lên, khẽ phủi bụi trên đó, một dòng chữ Hán xuất hiện trên mặt gỗ: Hưng Khánh Phủ Trương Công Hùy Nguyên Phủ Chi Linh.

“Đây là cái gì?” - Lương Viện run rẩy hỏi.

"‘Một hộp tro cốt!” - Đường Phong bình tĩnh trả lời.

“Hộp tro cốt! Bào sao bao nhiêu là bột, hóa ra là tro cốt! Ở đây không phải là xác khô thì lại là tro cốt, mẹ kiếp, đúng là đen đủi!” - Hàn Giang oán thán.

"Đen đủi thật, nhưng hộp tro cốt này lại cung cấp cho chúng ta một chút tin tức giá trị đấy!”

“Ồ! Cậu thấy được gì trên cái hộp này vậy?”

Đườne Phong không vội trả lời Hàn Giang, anh lật tiếp một mảnh gồ vụn lên, mảnh gỗ này xem ra giống hệt mảnh gỗ trước đấy. Trên đó Đường Phong cũng phát hiện thấy chữ, chỉ có điều những chữ này rất nhỏ? cũng là chữ Hán thể chữ Khải: Đại Hãn chinh phạt, liên lụy tới tiền bối của ta, giờ đây tiền phụ về Tây phương, không thê trở về quê chôn cất, tạm thời mượn chiếc hộp này để linh hồn cha được yên nghỉ, an ủi lòng con.

“Chỉ có vài câu như vậy thì cậu có thể biết được gì chứ?” - Hàn Giang thúc giục.

“Nếu như tôi suy đoán không nhầm thì gia đình này họ Trương, quê gốc ở Hưng Khánh Phủ, chắc là người Hán. Họ không phải là thương nhân mà là một gia đình công thợ. ‘Đại Hãn" họ nhắc tới ở đây chắc là chỉ Đại Hãn Mông cố. Đại Hãn muốn dùng nhũng người Đảng Hạng kháng cự cuối cùng trong Hạn Hải Mật Thành để xây dựng Thiên Hộ Trấn này, vậy nên đã điều nhà họ Trương tới đây. Cha của ông ta, tức là Trương Nguyên Phủ đã chết ớ đây, nhưng không thể an táng tại quê nhà, nên đành phải tạm thời để tro cốt của ông vào chiếc hộp này.” - Đường Phong nói ra suy đoán của mình.

“Nhưng điều này nói lên điều gì?” - Lương Viện không hiểu.

“Điều này chứng minh cho suy đoán của anh trước đây: thứ nhất, thị trấn này là một thị trấn chiến hào quân sự nên được kiến tạo rất tỉ mỉ. Để xây dựng nơi đây, Đại Hãn Mông cổ đã tập hợp một lượng lớn công thợ, chính những người thợ này đã khéo léo thiết kế xây dựng những neõ neách eiao thoa phức tạp và thành lũy kiên cố; thứ hai, thời gian xây dim g chốn này chắc chắn rất dài, đến nỗi hai đời nhà họ Trương đều đã sinh sống tại đây, mãi cho tới khi Thiên Hộ Trấn bị thảm sát.” - Đường Phong giải thích.

Lương Viện nhìn những căn nhà giống như mê cung phía sau: “Chính những người thợ này đã xây dựng nơi đây...”

“Ừm, nhưng cuối cùng họ cũng chết ở đây!”

“Được rồi, đừng mất công khảo cổ nữa, dù sao chúng ta cũng đã tìm thấy đường ra, mau rời khởi đây thôi!” - Hàn Giang không hứng thú với những bàng chứng khảo cổ của Đường Phong, lòng anh vẫn đang quẩn quanh nghĩ tới tiếng súng bí ẩn.
 

hoahongden12

Active Member

Hàn Giang vừa nói vừa khởi động "con lừa dũng mãnh " đi chẹt qua những xác khô. Lương Viện kêu toáng lên: “Em thấy bảo là nếu bất kính với người chết thì sẽ bị báo ứng đấy! ” - Lương Viện vừa dứt lời, đột nhiên...

1

Ba người rời khỏi nhà họ Trương, tới đường phía nam, chưa đi được bao xa, Hàn Giang đã nhìn thấy "con lừa dũng mãnh"’ của họ. Lúc này trời đã sáng tỏ, gió cùng ngưng thổi. Cả thị trấn cổ tĩnh mịch như tờ, ánh nắng thiêu đốt trên sa mạc soi rọi lên thành cổ, nhiệt độ nhanh chóng tăng cao, nhưng trong lòng Đường Phong vẫn như bị mây đen che phủ.

Đường Phong quay đầu lại nhìn về hướng bắc, thành phía bắc hiện lên một vài nóc nhà của những kiến trúc cao lớn, nhưng đứng trên con đường phía nam thì không trông thấy quảng trường nơi họ xuất phát, cũng không trông thấy đường phía bắc. "Đường đi trong Thiên Hộ Trấn trông thì có vẻ là đường thẳng, nhưng thực ra đều được xây dựng có độ cong nhất định.”

“Bởi vậy nên chúng ta đứng trên đường phía nam mà không trông thấy đường phía bắc!” - Lương Viện rung phát hiện ra manh mối, “Lẽ nào việc này cũng xuất phát từ yêu cầu phòng ngự quân sự?”

“Anh nghĩ là vậy!”

“Được rồi, nghĩ xem tiếp theo chúng ta nên làm gì đi!” - Hàn Giang sốt ruột kêu lên.

“Xem ra chúng ta còn may mắn hơn Misha, hiện giờ chúng ta vẫn bình yên vô sự!” - Đường Phong cũng đang tính toán kế hoạch bước tiếp theo.

“Tôi thấy chúng ta xong rồi thì rút lui thôi, vì Thiên Hộ Trấn vốn không phải là đích đến của chúng ta. Hiện giờ trời sáng rồi, gió cũng đã ngưng, chúng ta có thế tiếp tục lên đường.” - Hàn Giang nói ra kế hoạch của mình.

Đường Phong cũng bị dao động, anh không muốn bị những xác khô đáng sợ này bao vây, nên thà rời khỏi cái nơi quái quỷ này sớm một chút còn hơn... Đường Phong quay ngoắt đầu lại, đột nhiên, anh cảm thấy hình như bên trong cánh cổng có một đôi mắt đang nhìn mình chằm chằm. Anh bước nhanh vài bước, đi đến trước cánh cổng: không có ai! Mọi thứ trông thấy đều giống hệt ban nãy, chẳng có gì cả, thậm chí đến vết chân họ để lại trước cổng vẫn còn in rõ.

Đường Phong thất thần quay trở lại “con lừa dũng mãnh”; sau khi lên xe, Hàn Giang thúc giục: “Cậu đừng có thần hồn nát thần tính nữa. Đây là một thị trấn bỏ hoang, là tử thành. Đội thám hiểm năm đó ngoài Misha ra làm gì có ai vào đây khảo sát. Những người bạn cũ của chúng ta cũng không hứng thú với nơi này đâu, thế nên chúng ta cũng không cần lãng phí thời gian ở đây nữa!”

"‘Vậy tiếng súng ban nãy thì sao?” - Đường Phong vần chần chừ.

"Mặc kệ tiếng súng đó đi, kể cả chúng ta muốn biết rõ tiếng súng đó từ đâu ra, thì cũng phải ra khỏi đây trước đã.”

"Tại sao?” - Đường Phong không hiểu.

Hàn Giang vỗ mạnh xuống vô lăng một cái: “Bởi vì tôi có cảm giác rất không ổn, trên sa mạc mênh mông kia, bất cứ vết tích nào cũng không lọt qua dược mắt tôi. Nhưng ở trong này... tôi luôn cảm thấy như mình chui đầu vào rọ, bị thị trấn chết chóc này làm cho lạc đường, giống như chui vào một tòa thành hũ. Cũng có thề đang có người theo dõi chúng ta, nhưng chúng ta không hề hay biết.”

"Anh cũng có cảm giác này sao?” - Đường Phong ngạc nhiên.

Hàn Giang im lặng, ba người chìm trong suy tư, mãi lâu sau, Đường Phong mới hạ quyết tâm: “Vậy chúng ta ra ngoài trước đã, nhưng đi từ đâu đây? Cong phía nam bị bịt kín rồi, lẽ nào lại bay qua bức tường thấp phía đông?’"

"Không cần, chúng ta có thể đi xuyên qua từ con đường nhỏ ngách phía tây, tới phía đông thử xem. Nếu ở đó có cổng thì chúng ta có thế từ đó ra ngoài, còn nếu không có cổng thì chúng ta sẽ đi theo con đường nhỏ men thành, để xem ở đâu có cửa ra thì ra từ chỗ đó!” - Hàn Giang nói lên ý kiến của mình.

Đường Phong và Lương Viện gật gù, ra điều đồng ý. Vậy là, Hàn Giang khởi động “con lừa dũng mãnh”, chui vào con đường hẹp phía tây, cổng phía nam ở ngách phía tây áp sát tường, rất hẹp, chỉ có thể đi lọt một chiếc xe, nên chỉ cần phía trước xuất hiện một chướng ngại vật nào thì họ sẽ phải lùi lại.

2

Hàn Giang cẩn thận từng chút một nên xe đi cũng chậm rồi chốc chốc anh lại quay đầu lại nhìn. Lương Viện ngồi phía sau bị Hàn Giang nhìn cho thấy ớn liền nổi cáu: “Đội trưởng Hàn, tại sao anh cứ quay lại nhìn tôi thế?”

“Ai bảo tôi đang nhìn cô?"

“Vậy anh nhìn cái gì?”

Hàn Giang lại quay lại nhìn rồi mới nói: "Tôi luôn cảm thấy đằng sau có ngưòi đang bám theo chúng ta.” “Á...” - Lương Viện nghe thấy vậy giật bắn mình, “Anh đừng có dọa người khác như thế!”

“Tôi đâu có dọa cô, đấy là tôi dựa vào kinh nghiệm đề phòng bám đuôi mấy chục năm nav của tôi...”

Hàn Giang vừa dứt lời, Đường Phong đột nhiên kêu toáng lên: “Cẩn thận!" - Hàn Giang chỉ kịp thấy trước mặt tối sầm, đầu xe xuất hiện một vật thể lạ đen sì, rơi bịch xuống kính chắn gió phía trước của “con lừa dũng mãnh’".

Lương Viện kêu rú lên, Hàn Giang vội vàng phanh xe lại. Đường Phong vẫn chưa hoàn hồn, anh thấy vật thể màu đen đó rơi trên kính chắn gió phía trước ghế phụ. Đó là cái gì? Đường Phong căng thẳng gí mặt vào cửa kính đã bị nứt thành một vệt dài, -‘Á…”, lại là một khuôn mặt khủng khiếp. Đường Phong theo phản xạ bật lùi lại; phía sau lại vang lên tiếng kêu thảm thiết của Lương Viện, bởi vì cô cũng đã nhận ra đấy là một cái xác khô từ trên trời rơi xuống.

‘Thôi nào, đừng gào rú nữa, gào nữa là những cái xác khác sẽ lại đến đấy!” - Hàn Giang ra vẻ trấn tĩnh.

Vừa nghe thấy “gào nữa là những cái xác khác sẽ lại đến” là Lương Viện lập tức im bặt, cô sợ hãi không dám quay đầu lại, cũng không dám nhìn phía trước. Hàn Giang quay lại nhìn đàng sau, phía sau xe chẳng có gì cả, anh liền lùi xe về phía sau, sau đó nhấn ga tăng tốc. Cái xác khô nằm trên mũi xe theo quán tính rơi xuống đất.

“Cái xác này ở đâu ra vậy? Không phải từ trên trời rơi xuống thật đấy chứ?” - Hàn Giang kêu lên.

Đường Phong thò đầu ra ngoài cửa sổ, nhìn lên bức tường thành phía trên: “Chỉ có thể rơi từ trên tường thành xuống thôi.”

“Trời ơi sao chuẩn vậy, rơi đúng vào xe chúng ta!” “Đúng vậy, "con lừa dũng mãnh" bị cái xác rơi xuống làm hỏng rồi đấy!” 

"‘Được rôi, đừng tiếc rẻ ‘con lừa dũng mãnh’ của cậu nữa.” - Nói xong, Hàn Giang liền khởi động lại "con lừa dũng mãnh” và lao đi tiếp. Đường Phong vội vàng kêu lên: “Anh định chẹt qua cái xác khô này sao?”

“Có sao không vậy?”

“Như vậy không tốt!” - Đường Phong cũng không nghĩ ra lý do gì để nsăn Hàn Giang lại.

“Đừng có lải nhải nữa, hiện giờ chỉ có thể làm vậy thôi!” - Hàn Giang nói xong liền khởi động “con lừa dũng mãnh”, chẹt qua cái xác khô trước mặt. Lương Viện bị xóc nảy người, cô kêu toáng lên: “Em nghe nói là nếu bất kính với người chết sẽ bị báo ứng đó!”

Lương Viện vừa dút lời, đột nhiên tai họa báo ứng đã ập xuống đầu họ, lại một vật thể lạ từ trên trời rơi xuống. Hàn Giang nhanh tay nhanh mắt, nhấn ga tăng tốc, nên vật thể lạ đó rơi xuống phía đuôi “con lừa dũng mãnh’". “Mẹ kiếp, xác khô nổi loạn rồi!” - Hàn Giang chửi rủa.

Khi lái được chiếc xe ra khỏi con đường hẹp, tới cuối đường phía tây thì Hàn Giang bỗng phanh khựng xe lại, rồi nhảy xuống xe rút dao găm ra, lao lên tuờng thành ở đoạn sụp đổ. Đường Phong và Lương Viện cũng lập tức làm theo, nhảy xuống xe, họ trông thấy Hàn Giang cầm dao găm, mặt mũi hung tợn, đứng sừng sững trên tường thành một lúc lâu mới hầm hầm đi xuống dưới. 

3

“Sao thế? Anh nghi ngờ trên tường thành có người?’ - Đường Phong hỏi Hàn Giang đang hầm hầm quay xuống.’

"Vậy cậu nói xem thế là thế nào?”

Đường Phong chống nạnh, nhìn tường thành cách đó không xa, lắc đầu: "Tôi không biết, anh đã phát hiện thấy gì trên tường thành vậy?”

“Mẹ kiếp, toàn là xác khô! Đúng là ám khí!” - Hàn Giang càu nhàu.

"Có ai không?”

"Chẳng thấy ai cả!” - Hàn Giang vẫn lắc đầu.

"Bên ngoài thì sao?"” - Đường Phong hỏi.

"Hoang vu, không có lấy một bóng người hay xe cộ, chúng ta đã tới một ngóc ngách bị thế giới lãng quên!” - Hàn Giang than thở.

"Không! Chắc chắn chúng ta không bị lãng quên, ít nhất những cái xác khô này đã không lãng quên chúng ta, khà khà!” - Đường Phong tự giải thích rồi cười cợt.

“Thôi đi, nhanh chóng ra khỏi đây thôi! Nhưng...” - Hàn Giang nhìn tường thành trước mặt rồi lại đứng ngây ra, "Nhưng ở đây hình như không có cổng thành!”

‘Hơn nữa tường thành cũng cao hơn, dày hơn mặt phía đông và phía nam, càng về hướng bắc càng cao to hơn!” - Hàn Giang chỉ tay về phía tường thành nói.

Đường Phong cũng nhận ra manh môi: “Quả thực như vậy, nhưng điều này cũng dễ giải thích, xây dựng tòa thành này là để phòng chống kẻ thù từ phía tây bắc tới, bởi vậy nên phía tây bắc được xâv dựng cao to hơn bình thường.”

“Tạm thời khoan hãy vội vàng kết luận, cứ xem sao đã!”

Đường Phong và Hàn Giang lục soát một hồi cuối dường phía tây, quả nhiên, không phát hiện thấy cổng thành. “Xem ra hai phía đông, tây Thiên Hộ Trấn không có cổng thành, thảo nào lúc chúng ta tiến vào con đường phía đông cũng không trông thấy cống thành đâu cả"" - Đường Phong nói.

“Được rồi, vì ở đây không ra ngoài được, nên chúng ta hãy quay về đường phía đông thôi!”

“Lại từ đó bay ra ngoài?” - Đường Phong nhớ lại cảnh tượng lúc sáng sớm bay vào đây mà vẫn run cầm cập.

“Vậy thì còn cách nào nữa?”

Đường Phong không có lý do gì đế phản bác lại Hàn Giang nên đành phải đồng ý. Ba người quay trỏ lại xe, Hàn Giang lái về con đườns phía đông, nhưng khi “con lừa dũng mãnh” đi tới quảng trường chính giữa thị trấn, Hàn Giana bỗng đột ngột quay mạnh vô lăng, rẽ vào con đường phía bắc.

“Ớ! Không phải anh định bay qua đoạn tường thấp lè tè phía đông sao?” - Đường Phong hỏi.

“Tôi thay đổi ý định rồi, vì chúng ta đều đã đi hết các hướng đông, nam. tây rồi, vậy tại sao không tới hướng bắc xem sao, không biết chừng cổng bắc lại ra được neoài!”

“Anh bây giờ thay đổi như chong chóng ấy nhì!" “Cái nàv gọi là tùy cơ ứng biến!”.

Trong lúc hai người nói chuyện thì “con lừa dũng mãnh” đã tới cuối đường phía bấc. Hàn Giang dừng xe, trước mặt họ xuất hiện một bậc thềm cao bằng đất nện, trên đó là một kiến trúc to lớn mang tính quan cách.

“Có vấn đề, con đường phía bắc đáng nhẽ phải dài nhất, sao bây giờ đã cụt đường rồi?” - Hàn Giang nghi ngờ hỏi.

“Bởi vì tòa kiến trúc trước mặt chúng ta đấy!” - Đường Phong giải thích.

“Đây là kiến trúc gì vậy?” - Hàn Giang hỏi.

"Đây là kiến trúc theo quan cách Hán đệ điền hình, tôi nghĩ ớ đây chính là nơi triều Nguyên quản lý Thiên Hộ Trấn và cả ngọ môn cách đây hơn trăm dặm, và chính xác mà nói: đây không phải là ngọ môn bình thường mà chắc là bộ thống soái của nhánh quân đội này.”

“Trông cũng rất chất lượng đấy chứ! Hơn nữa lại còn bảo tồn rất tốt.” - Lương Viện ngạc nhiên thốt lên.

"Đúng vậy, đây chắc là tòa kiến trúc lớn nhất thị trấn!” - Đường Phong nhìn kiến trúc trước mặt nói.

“Đừng để ý đến mấy chuyện vô ích đó, gần đây cũng không trông thấy ngã rẽ nào cả, con đường phía bắc lại bị cổng ngọ môn này cắt ngang rồi, vậy thì Thiên Hộ Trấn không có cổng bắc ư?” - Hàn Giang chất vấn.

Đường Phong nhảy xuống xe, quan sát xung quanh một lượt, rồi gật gù: “E rằng đúng như vậy, cả tòa lô cốt này chỉ có phía nam mở một cống thành, ba phía còn lại đều không mở cổng thành.”

Hàn Giang cũng xuống xe nhìn xung quanh hồi lâu, đột nhiên, anh vỗ mạnh lên nắp “con lừa dũng mãnh" một cái, rồi lớn tiếng hét lên: “Không ổn, không ổn rồi!”.

“Nghĩa là sao?”

“Ba mặt đông, tây, bắc của tòa thành này không có cổng, chỉ duy nhất mặt phía nam có cổng, nhưng hiện giờ cổng phía nam đã bị thép chảy bịt chết, đây quả là một tử thành thực thụ! Hiện giờ chúng ta đang bị kẹt trong tử thành này, không ổn, không ổn rồi” - Hàn Giang nói rất nghiêm túc.

“Đừng dọa dẫm nữa, tường thành ở cổng đông thấp lè tè, lại còn sụp đổ, chúng ta có thể ra khỏi đây bất cứ lúc nào!” - Đường Phong ngẫm nghĩ rồi nói tiếp: “Nhưng sợ rằng đúng như những gì anh nói, đại quân Mông cổ canh giữ vùng đất này hồi đó bị người Đảng Hạng ở Hạn Hải Mật Thành bao vây, trở thành cá chậu chim lồng, cuối cùng bị thảm sát chết sạch.”

4

Lúc này, Hàn Giang đã đi tới trước một cánh cổng hướng đông của con đường phía bắc, đang định chui vào thì Đường Phong kéo anh lại hỏi: “Sao bây giờ anh không cuống lên ra khỏi đây vậy?”

"Dù sao cũng đã tới đây rồi thì thử vào trong xem sao còn hơn, tôi lại muốn vào xem bên trong vẫn còn thứ gì đáng sợ nữa, chúng ta đã thấy bao nhiêu là xác khô rồi!” - Lúc này Hàn Giang lại trở nên hứng thú.

Đường Phong và Lương Viện đi theo anh vào cánh cổng to đó. Sân trước không có gì đặc biệt, vòng qua sân, phía sau lại là một khoảng trống bằng phẳng. Trên khoảnh trống này là từng đống gì đó chất cao ngất ngưởng. Đường Phong bước tới đống gần nhất, phủi lớp cát vàng trên bề mặt đi, dùng tay nhặt vài hạt gì đó lên, ngắm nghía một hồi, rồi ngạc nhiên kêu lên: “Là hạt thóc!”

“Hạt thóc? Hạt thóc từ triều Nguyên?" - Hàn Giang và Lương Viện cũne rất ngạc nhiên.

Đường Phong lại kiểm tra vài đổng khác, đều là những hạt thóc đã khô cong. ”Xem ra đây là kho lương thực của thị trấn. Ngày vỡ thành, trong thị trấn vẫn còn nhiều lương thực như vậy, đủ để thấy Thiên Hộ Trấn là một lô cốt quân sự quan trọng cua đại quân Mông cổ.” - Đường Phong phân tích.

“Nó còn chứng minh rằng, rốt cuộc đại thảm sát Thiên Hộ Trấn là do người Đảng Hạng đột kích, chứ chăc chắn không phải do trận chiến kéo dài sau khi vây thành.” - Hàn Giang suy đoán.

“Không sai, chắc chắn là như vậy, bởi thế nên trong kho chứa mới còn lại bao nhiêu là lương thực như vậy, còn người Đảng Hạng ở Hạn Hải Mật Thành cũng không thể bao vây Thiên Hộ Trấn quá lâu, bởi vì thời gian mà kéo dài thì viện quân Mông cổ chắc chắn sẽ kéo tới. Người Đảng Hạng của Hạn Hải Mật Thành chỉ có thể đến đột kích Thiên Hộ Trấn vào lúc họ không để ý, tấn công không kịp phòng bị thì mới có thể nhấn chìm toàn quân Mông cố được trang bị lương thực dồi dào như vậy.” - Đường Phong khẳng định.

Ba người kiểm tra xong kho lương thực rồi đi tới quan sở ở ngách tây con đưòng phía bắc, có kiến trúc cũng rất giống kho lương thực; chỉ có điều trong nhà kho ở đây cất giữ các loại vũ khí khác nhau. Những thứ vũ khí này tuy đã trải qua hơn bảy trăm năm, nhưng khi Đường Phong vuốt hết lớp bụi trên cán thì chúng vẫn lấp lánh ánh sáng sắc lạnh bắt mắt.

“Xem ra đây là kho vũ khí của Thiên Hộ Trấn” - Đường Phong suy đoán.

“Ừm, nhìn này, ở đây có bao nhiêu là mũi tên!" - Hàn Giang chỉ một căn phòng; chất đầy mũi tên nói.

“Điều này lại một lần nữa chứng minh cho suy đoán của chúng ta trước đây, lúc cuối cùng khi Thiên Hộ Trấn bị thảm sát, đại quân Mông cố vẫn không kịp phản ứng, họ không tố chức phòng ngự hiệu quả nên đã bị giết sạch, bởi vậy bao nhiêu là vũ khí thế này vần chưa kịp sử dụng.”

“Con dao này khá ổn đấy chứ!” - Hàn Giang lôi một con dao găm Mông cổ từ trong đống dao bày đầy 

trên đất lên, ném cho Đường Phong: "Cậu cầm lấy cái này phòng thân đi!”

"Cái này có ổn không đấy? Mấy trăm năm rồi!” - Đường Phong có chút nghi ngờ.

"Yên tâm đi, đủ để cho cậu dùng!"

Ba người quay trở lại đường phía bắc, Đường Phong đột nhiên nói: “Mọi người có chú ý thấy không, trên đường còn cả kho lương thực, kho vũ khí chúng ta tìm thấy ban nãy đều không phát hiện thấy xác khô. Hầu hết xác khô đều tập trung gần tường thành và cả trong những nhà dân trong ngõ của thị trấn.”

"Điều này cho thấy vào năm đó những nơi đấy đều là nơi đánh nhau ác liệt.” - Lương Viện nói.

"Xem ra ở đây tạm thời sẽ không còn trông thấy những xác khô chết tiệt đó nữa!’ - Hàn Giang thở phào một cái.

"Đừng có vui mừng vội, lô cốt do đại quân Mông Cổ dốc tâm xây dựng, lẽ nào bên trong chỉ có vài trăm cái xác khô mà chúng ta trông thấy thôi sao?” - Đường Phong hỏi lại Hàn Giang.

“Ý cậu là chúng ta sẽ vẫn còn phát hiện thấy rất nhiều xác khô?”

“Căn cứ theo suy đoán của tôi thì Thiên Hộ Trấn ít nhất cũng phải có tới vài nghìn binh lính đóng quân tại đây, nếu không thì không thể có lô cốt kiên cố thế này, cũng không thể lưu trừ nhiều lương thực và binh khí thế này được!”

“Mẹ ơi! Cậu đừng có dọa tôi, theo như cậu tính toán thì trong thành vẫn còn vài nghìn cái xác đang đợi chúng ta sao?”

“Tôi không biết! Nhưng hãy cứ cẩn thận cho chắc.”

Trong lúc Đường Phong nói, anh cũng đã đi tới trước cánh cổng có kiến trúc cao to quan cách, một bên cánh cổng đã đổ nghiêng ngả ra đất còn một bên cổng vẫn đang đóng chặt. Đường Phong đưa tay ra, khẽ đẩy nhẹ, “cót két” một tiếng, nửa cánh cổng còn lại cũng mở ra.

5

Khi Đường Phong bước vào tòa kiến trúc mang tính quan cách đồ sộ này, một cảm giác kỳ lạ lập tức bao trùm lấy anh. Trong này là một cái sân, phía sau sân là một tòa nhà rất rộng lớn. Đường Phong nhìn lướt qua một cái: "mái nhà dáng đỉnh núi, mặt tiền năm gian, chiều sâu... chiều sâu ít nhất cũng có ba gian, đây hoàn toàn là kiểu kiến trúc cung đình, thật không ngờ trong sa mạc mà lại có một tòa kiến trúc cung đình chuẩn mực thế này!”

"Không biết chừng năm đó thống lĩnh quân đội Mông Cổ đóng quân ở đây lại là một vị hoàng thân quốc thích cũng nên!” - Lương Viện đoán mò.

Đường Phong đẩy mở hẳn cổng của tòa kiến trúc cung đình này, đi thẳng vào trong. Bên trong rộng rãi thênh thang, tiếng bước chân Đường Phong vang vọng từng hồi. Đường Phong phát hiện phía sau căn phòng rộng lớn là một bức tường. Khi tiến lại gần, Đường Phong mới hiểu ra, đây là một bức tường giả. Vòng qua bức tường giả, theo như kiểu dáng kiến trúc truyền thống của Trung Quốc. Đường Phong tưởng rằng phía sau là cửa, đẩv cửa ra chắc là một cái sân khác. Thế nhưng mọi thứ đều nằm ngoài dự đoán của Đường Phong, phía sau bức tường giả chỉ có độc một cánh cửa nhỏ, không thế so sánh được với cánh cổng hoàng cung vĩ đại trong tưởng tượng của Đường Phong; và điều khiến Đưòng Phong càng cảm thấy bất ngờ hơn là khi anh đẩy cánh cửa nhỏ này ra, phía sau hóa ra vẫn là một căn phòng, mà không phải là một khoảnh sân khác.

Ba người đi vào trong phòng, Đường Phong thấy căn phòng này hình vuông, diện tích chừng bảy tám chục mét vuông. Trong phòng trống trơn không có bất cứ thứ gì, hai phía đông tây là hai bức tường phủ đầy bụi bặm. Ngoài cánh cứa nhò phía nam ra, phía bắc vẫn còn một cánh cửa nhỏ, lẽ nào đây là một đại điện hình chữ u? Đường Phong suy nghĩ rối bời và bước tới trước cánh cửa nhỏ phía băc. Vừa đẩy một cái, cánh cửa nhỏ mở ra, Đường Phong lại bước vào một căn phòng khác, căn phòng này gần như giống hệt căn phòng ban nãy, cũng là hình vuông, rộng bảy tám chục mét vuông, và điều này đã phủ định cho suy đoán đại điện hình chữ u của Đường Phong trước đó.

Đường Phong càng cảm thấy nghi ngờ, tại sao phía sau đại điện lại có hai căn phòng giống nhau liền kề, hơn nữa trong phòng đều trống trơn? Và cũng giống hệt như vậy, phía đông và phía tây của căn phòng không có cửa, còn phía bắc có một cánh cửa nhỏ. Đường Phong lại đẩy cánh cửa nhỏ ra, bước vào một căn phòng mới. Căn phòng này nho hơn rất nhiều so với hai căn phòng trước, xem ra chỉ rộng ba bốn chục mét vuông, hình dạng cũng cỏ chút thay đổi, căn phòng rày hình chữ nhật, và điểm khác biệt lớn nhất là ở trên tường, phía bắc và phía tây căn phòng này đều không có cửa, nhưng ngoài cánh cửa phía nam lúc Đường Phong đi vào thi một cánh cửa khác xuất hiện trên bức tường phía đông. Đường Phong có chút do dự, nhưng vẫn đẩy cánh cửa đó ra, và hiện lên trước mặt anh là một căn phòng hình chữ nhật giống hệt như căn phòng ban nãy, phía đông cũng có một cánh cửa. Đường Phong hơi bực tức, anh mở ngay cánh cửa phía đông ra. thì lại là một căn phòng y hệt, và liên tiếp mấy căn phòng như vậy, đều giống hệt nhau! Hàn Giang có cảm giác không ổn, đang định kéo Đường Phong lại thì lúc đó đã muộn, cả ba người đều không nhớ họ đã đi qua tổng cộng bao nhiêu căn phòng như vậy.

“Tôi thấy rất không ổn, mau quay về thôi, nếu không chúng ta sẽ lại bị kẹt trong mê cung này đấy!” - Hán Giang thúc giục.

Đường Phong bó tay, đành phải rút lui theo Hàn Giang. Nhưng điều khiến họ hoảng sợ đã xảy ra, họ thật sự đã lạc đường. Hàn Giang đi loanh quanh trong các căn phòng trong hoàng cung hơn nửa tiếng đồng hồ nhưng cũng không thể tìm thấy căn phòng lúc tới. Mọi thứ xung quanh dường như đều giống hệt nhau, họ đã rơi vào một mê trận không có điểm kết.

6

Đường Phong không biết họ đã đi qua bao nhiêu căn phòng giống nhau như vậy, rồi trong một căn phòng trong số đó, rốt cuộc ba người cũng dừng lại. Đường Phong lập tức hồi tưởng lại họ đã tiến vào mê cung như thế nào. Tất cả những căn phòng, ngoài diện tích to nhỏ khác nhau, thì kiểu dáng giống hệt, và trong phòng đều không có bất cứ vật gì. “Những căn phòng này dùng để làm gì vậy?” - Cuối cùng Đường Phong không thể chịu nối đã hét toáng lên.

‘Dùng để mê dụ người khác!” - Lương Viện kêu lên.

“Ngoài việc để mê dụ người khác, chắc chắn vẫn còn công dụng thực tế của nó, nếu không thì cổ nhân sẽ không xây dựng bao nhiêu là căn phòng giống nhau như vậy! Giống như những con ngõ nhỏ giao nhau rối rắm ở phía nam thị trấn, ngoài mục đích để mê hoặc kẻ thù ra còn là để ở nữa!” - Đường Phong nói.

“Vậy ở đây cũng để ở!” - Hàn Giang bồng nói.

“Ồ? Ai ở đây vậy?” - Đường Phong tò mò nhìn Hàn Giang.

“Cậu ngu thế, phía nam thị trấn đều có dân thường ở, vậy thì những quân lính trong tòa lô cốt quân sự này sẽ ở đâu?”

“Ý anh là thực ra ở đây là một doanh trại quân đội rộng lớn?” - Đường Phong hiểu ý Hàn Giang.

“Không phải cậu đoán rằng trong thành có vài nghìn binh lính sao? Nếu quả thực như vậy thì quân số quân đội trong thành vượt xa so với thường dân, chác là họ phải có một nơi rộng lớn hơn để ở!” - Đầu óc Hàn Giang vẫn giữ được tỉnh táo.

Đường Phong gật gù: “Đúng, bởi vậy phía băc thị trấn rộng lớn hơn nhiều phía nam thị trấn, ngoài quan sở, kho lương thực, kho vũ khí ra còn có cả doanh trại rộng lớn.”

“Hơn nữa chúng ta có thể nhìn thấy họ đã xây luôn doanh trại phía sau quan sở, phòng nọ liền sát phòng kia, gắn kết như vậy. Tôi nghĩ ban đầu lúc xây dựng tòa lô cốt này, chắc không như vậy đâu!” - Hàn Giang nói.

“Tôi cũng để ý thấy rồi.”

“Điều này cho thấy rất nhiều doanh trại sau này mới xây thêm, nên mới thành như bây giờ!” - Hàn Giang suy đoán.

“Xem ra sau mấy chục năm bị diệt vong, uy hiếp của người Tây Hạ ở Hạn Hải Mật Thành đối với người Mông Cổ chỉ tăng mà không giảm, đến nỗi quân đội Mông Cổ đóng quân ở đây đã không ngừng gia tăng quân số.”

Đường Phong kinh ngạc trước sự suy đoán và kết luận của Hàn Giang: ”Nhưng... nhưng điều này không phù hợp với lẽ thường, sau khi Tây Hạ diệt vong, kể cả người Đảng Hạng ở Hạn Hải Mật Thành không bị tiêu diệt đi chăng nữa, thậm chí vẫn tiếp tục đấu tranh với người Mông cổ, nhưng họ đã bị người Mông cổ phong tỏa thì thực lực đáng lẽ ra phải càng ngày càng yếu mới đúng. Nếu như người Mông cổ không ngừng tăng số quân tới Thiên Hộ Trấn, thì lẽ nào điều này cho thấy người Đảng Hạng ở Hạn Hải Mật Thành càng ngày càng mạnh?”

“Bởi vậy mới có trận thảm sát Thiên Hộ Trấn sau này!" - Hàn Giang chậm rãi nói.

‘Được rồi, hai anh tạm thời đừng nghiên cứu nữa, chúng ta hãy mau xem giờ phải ra ngoài bằng cách nào đây?” - Lương Viện nói.

Đúng vậy! Hiện giờ nhiệm vụ hàng đầu là phải tìm thấy lối ra, Đường Phong nghĩ tới đây liền lấy lại tinh thần: "Nếu đã là doanh trại quân đội thì chắc chắn phải có đường ra, thậm chí không chỉ có một đường.’"

Hàn Giang gật đầu. Vậy là, ba người tiếp tục tìm kiếm đường ra trong từng căn phòng một, nhưng họ càng đi càng lạc, rồi đã nửa tiếng nữa qua đi nhưng họ vẫn chưa tìm thấy lối ra.

7

Ba người đã đi lung tung trong doanh trại không khác gì mê cung hơn một tiếng đồng hồ. Lương Viện thực sự không thể đi được nữa, cô ngồi bệt ra đất. Đường Phong cũng sức cùng lực kiệt, ngồi bệt xuống, thở hốn hển. Hàn Giang nhìn xung quanh căn phòng, anh đột nhiên kêu lên: “Tôi dám khắng định chúng ta đã từng đi qua căn phòng này.”

“Làm sao biết được?” - Đường Phong hỏi lại Hàn Giang.

Hàn Giang chỉ lên một vết tích trên tường, đó là một vệt giống như bị vật sắc nhọn gì đó cào xước: "Đây là vết tôi dùng dao găm đánh dấu!”

“Toi rồi, chúng ta thực sự lạc đường rồi, không ra ngoài được rồi..- Lương Viện nói xong khóc toáng lên.

“Giờ thì tôi đã hiểu tại sao trong thư Misha lại nói ràng đây là một thị trấn đáng sợ, hơn nữa đến ngày thứ ba ông mới ra được khỏi thị trấn này!” - Đường Phong bắt đầu hồi tưởng lại những gì Misha viết trong thư.

“Tôi cũng hiểu ra rồi, chắc chắn Misha cũng giống chúng ta, bị kẹt trong này, lại còn bị kẹt lại những một ngày hai đêm.” - Hàn Giang nhấn mạnh.

“Nhưng... nhưng rốt cuộc Misha vẫn thoát được ra ngoài..- Đường Phong chống tay đứng dậy, “Bởi vậy tôi tin rằng chúng ta cũng có thể ra được bên ngoài.”

“Lẽ nào chúng ta lại giống ban nãy, đi lung tung loạn cả lên?”

Hàn Giang vừa dứt lời, đột nhiên một âm thanh nặng trịch từ nơi không xa lắm vọng lại. “Ai?!” - Đưòng Phong lớn tiếng hỏi. 

Hàn Giang và Lương Viện cũng đều nghe thấy, hai người đứng sát vào nhau, ba người nhìn nhau, rồi nhìn chằm chàm về phía âm thanh vọng ra. "Giống tiếng đóng cửa nặng nề!” - Đường Phong đoán. Lúc này, trong mê cung không một bóng người, từng sợi lông, tóc trên người anh đều dựng ngược cả lên, từng lỗ chân lông cũng đều giãn nở.

Hàn Gieng tay cầm dao găm, chỉ về phía cánh cửa lúc ban nãy họ tới. Ba người càng rón rén thận trọng bước tới mở cánh cửa này ra, quay trở lại căn phòng vừa đi qua ban nãy. Hàn Giang cố gắng hồi tưởng lại âm thanh ban nãy, sau đó lại chỉ vào cánh cửa nhỏ ngách phía đông trong căn phòng, rồi đẩy cánh cứa ra, lại là một căn phòng giống hệt, liền kề đó vẫn lại là một căn phòng nữa.

Khi ba người tới trước cửa căn phòng thứ tư, Hàn Giang lấy tay ra hiệu cho Đường Phong. Đường Phong hiểu ý: đằng sau cánh cửa này chắc chắn có vấn đề. Đường Phong đạp mạnh cánh cửa gỗ, Hàn Giang nắm chặt con dao găm, lao như chớp vào phòng. Trong phòng không có ai, hình như đều giống hệt những căn phòng họ từng đi qua trước đó, chỉ có điều căn phòng hình vuông này rộng hơn mội chút, sáng hơn một chút.

Đường Phong và Hàn Giang đều lập tức nhận ra điều gì đó, căn phòng này sáng hơn tất cả những căn phòng họ từng đi qua trước đây. Cả hai người, không ai bảo ai, cùng ngẩng đầu nhìn về phía bắc căn phòng. Hóa ra trên nóc phía bắc căn phòng này có một cái lỗ, ánh sáng từ đây rọi thẳng xuống.

Ánh mắt Đường Phong từ từ di chuyển từ miệng lỗ lên bức tường phía bắc, trên tường có một dãy rãnh lõm vào hiện lên mồn một trước mặt Đường Phong, hai người đều nhìn thấy tia hy vọng mới.

Hàn Giang giẫm lên những rãnh lõm, leo tới miệng lỗ hở. Anh quan sát một lúc rồi nói: ‘‘Xem ra cái lỗ này có từ lúc mới xây thành rồi.”

Ba người bò lên mái căn phòng; khi đứng trên đó nhìn ra xa, họ đều đã hiểu ra ý nghĩa của miệng lỗ này. Bởi vì đứng trên đó, họ không chỉ nhìn rõ tình hình cua doanh trại phía sau quan sở, mà còn nhìn rõ toàn bộ tình hình của Thiên Hộ Trấn! Trên bậc thềm dưới chân núi cách đó không xa, có một tòa tháp Lạt Ma đang đứng sừng sững. Tuy tháp đã rất cũ nát, nhưng dưới ánh nắng mặt trời, đỉnh tháp dát vàng vẫn phát ra ánh sáng lấp lánh bắt mắt.
 
Bên trên