Những Vụ Án Trên Thế Giới

hoahongden12

Active Member

Đã 18 năm trôi qua, song vụ thảm sát dã man gia đình 4 người ở thành phố Setagaya, Tokyo, Nhật Bản cho đến nay vẫn gây nhức nhối cơ quan điều tra. Bởi hung thủ gây án vẫn chưa sa lưới pháp luật, dù tại thời điểm gây án tên này đã để lại hiện trường rất nhiều dấu vết và chứng cứ.

Ngày 30/12/2000, 4 thành viên trong gia đình Miyazawa bị giết hại, bao gồm người vợ Yasuko Miyazawa 41 tuổi, làm nghề giáo viên, người chồng là Mikio Miyazawa, 44 tuổi, làm nhân viên công ty tư vấn, cùng hai người con là Rei, 6 tuổi và Nina, 8 tuổi.

Đến khoảng 11 giờ ngày 31/12, mẹ của chị Yasuko sống ở nhà bên cạnh gọi điện cho vợ chồng con gái nhưng mãi không liên lạc được. Nghi ngờ có chuyện chẳng lành xảy ra, bà chạy sang nhà và phát hiện là sự việc kinh hoàng.

Vừa mở cửa, bà phát hiện con rể nằm tắt thở dưới sàn nhà. Lên tầng 2, bà nhìn thấy đứa cháu trai nằm bất động trên giường. Đau đớn lên đến tột cùng khi nhìn nhìn thấy thi thể con gái và cháu gái bị đâm chém đến biến dạng. Gia đình Miyazawa vốn hiền lành, chẳng bao giờ gây thù chuốc oán với ai. Cho tới tận bây giờ, không ai hiểu được tại sao gia đình này lại có kết cục bị thảm như vậy.

Tai họa ập xuống

Ngôi nhà nhỏ của gia đình Miyazawa dựng theo lối kiến trúc điển hình của người dân Nhật Bản, nằm trong khu dân cư thuộc một công viên ở thành phố Setagaya, phía Tây Tokyo.

Khi thành phố lên kế hoạch mở rộng công viên và tiến hành giải tỏa các khu vực xung quanh, hầu hết người dân đã nhận tiền đền bù và dọn đi nơi khác sinh sống. Thời điểm xảy ra vụ án, tại đây chỉ còn đúng 4 gia đình sinh sống bao gồm nhà Miyazawa, nhà chị gái của chị Yasuko ngay sát cạnh bên và 2 gia đình khác nằm gần đó.

Việc xây dựng và hoạt động của khu công viên gây ra khá nhiều ồn ào và khó chịu đối với nhà Miyazawa. Hai vợ chồng vốn đã định chuyển đến nơi khác sinh sống vào đầu năm 2001, nhưng chưa kịp thực hiện ý định tai họa đã ập xuống đầu cả gia đình.

Ngày 30/12/2000, cả gia đình Miyazawa vui vẻ cùng nhau đi mua sắm để chuẩn bị chào đón năm mới. Tuy nhiên đến đêm, một kẻ lạ mặt thủ trong người một con dao, trèo qua hàng rào, leo qua cửa sổ phòng tắm tầng 2 đột nhập vào trong nhà và đến phòng của cậu bé Rei đầu tiên. Song thay vì dùng dao, hắn dùng chiếc gối siết chặt khiến cậu bé ngạt thở mà chết.

Lúc này, anh Mikio đang làm việc ở tầng 1 nghe thấy tiếng động lạ, định lên phòng con trai kiểm tra nhưng bất người gặp tên sát nhân ngay cầu thang. Không chần chừ, thủ phạm ngay lập tức rút dao tấn công.

Hai bên vật lộn, anh Mikio bị đâm liên tiếp nhiều nhát vào cổ, mặt và trên người, sau đó ngã xuống cầu thang tử vong. Tuy nhiên trước khi chết, anh Mikio cũng làm cho hung thủ bị thương nặng ở tay phải, vết thương sâu vào trong xương, con dao hung khí cũng bị gãy.

Hai mẹ con Yasuko và Nina lúc này vẫn ngủ say và không hề biết những chuyện kinh khủng đã xảy ra với chồng và con trai. Sau khi giết xong anh Mikio, sát nhân tiếp tục lên tầng 3 và liên tiếp chém vào người hai mẹ con, nhưng vì con dao đã bị gãy nên những nhát chém chỉ gây thương tích, vì vậy tên này chạy xuống dưới bếp lấy một con dao khác và tiếp tục gây án.

Trong lúc hung thủ xuống bếp, chị Yasuko mặc dù bị thương nặng nhưng vẫn cố gắng lấy vật dụng cầm máu cho con gái Nina. Nhưng sau đó, hai mẹ con cũng không thoát khỏi lưỡi dao của tên sát nhân. Thậm chí, sau khi tắt thở, hung thủ vẫn quay lại chém nhiều lần vào cơ thể khiến thân thể họ bị biến dạng.

Ra tay sát hại dã man cả một gia đình 4 người, nhưng tên sát nhân vẫn không hề sợ hãi bỏ chạy, tên này còn ở lại nhà Miyazawa trong suốt 10 tiếng đồng hồ. Hắn tìm tủ thuốc y tế, tự băng bó vết thương trên cánh tay phải. Sau đó vì đói, hắn lấy từ trong tủ lạnh ra 4 hộp kem, một quả dưa đỏ và 1 bình 2 lít trà lúa mạch để ăn uống.

Hơn nữa trong lúc ăn dưa đỏ, hắn không dùng muỗng ăn mà trực tiếp dùng ngón tay khều lên ăn. Sau đó, hắn còn ngủ nằm trên ghế sofa, sử dụng máy tính truy cập internet, lục lọi đồ đạc. Cuối cùng, sát nhân ra khỏi nhà vào giữa buổi sáng ngày 31/12.

Hung thủ vẫn là điều bí ẩn

Theo cơ quan điều tra, trước khi xảy ra thảm án, có vài điều kỳ lạ đã xảy ra. Anh Mikio từng lời qua tiếng lại với một nhóm thanh niên ồn ào tổ chức đua xe đạp. Còn chị Yasuko từng kể với bố chồng về một chiếc xe hơi lạ đậu trước nhà, Hai ngày sau đó, chị tiếp tục nhìn thấy một người đàn ông khoảng 40 tuổi, lang thang gần ngôi nhà.

Sau khi thảm sát gia đình 4 người và lưu lại nhà trong 10 tiếng đồng hồ, sát nhân cũng để lại rất nhiều bằng chứng và dấu vết. Đầu tiên là những miếng băng y tế có dính máu, từ đó cảnh sát tiến hành xét nghiệm ADN, kết quả cho thấy sát nhân thuộc nhóm máu A, 1/3 khả năng là người Nhật Bản, 1/10 khả năng là người Trung Quốc và 1/5 khả năng là người Hàn Quốc.

Hơn nữa, dấu giày trên sàn nhà cho thấy, hung thủ đi size 28, nhưng mẫu giày đó ở Nhật Bản chỉ có đến size 27,5, còn size 28 chỉ có bán ở Hàn Quốc và nước Anh. Vì vậy, phía cảnh sát suy đoán hung thủ sát hại cả gia đình Miyazawa là một người Hàn Quốc.

Không chỉ vậy, trước khi tẩu thoát, sát nhân còn thay đồ và lấy chiếc áo khoác của anh Mikio để mặc, bỏ lại chiếc áo khoác, một đôi găng tay, chiếc mũ, khăn quàng cổ, khăn tay và một chiếc túi xách, xếp gọn gàng tại hiện trường.

Từ đây, cảnh sát xác định được sát nhân cao khoảng 170cm, dáng vừa vặn, độ tuổi từ 20-30. Đối với chiếc áo khoác hung thủ bỏ lại, cảnh sát điều tra được mẫu áo này được bán theo mùa và có khoảng 130 chiếc áo như vậy từng được bán ra ở Tokyo.

Tuy nhiên họ chỉ truy tìm được 12 người mua trong số đó và tất cả đều có chứng cứ ngoại phạm. Dấu vân tay và ADN của hung thủ tìm được đều vô dụng, bởi trong hệ thống dữ liệu không hề có bất cứ thông tin nào.

Cảnh sát xác định đây không phải là một vụ giết người vì tiền bởi trong nhà nạn nhân có rất nhiều tiền mặt và những vật dụng có giá trị không hề bị mất. Kẻ sát nhân chỉ lấy đi 15.000 yên (khoảng 3 triệu VNĐ), một chiếc áo khoác, toàn bộ số thiệp chúc năm mới của gia đình.

Cảnh sát cũng không thể lý giải được hành động này của tên sát nhân. Nếu không phải vì tiền, vậy gia đình Miyazawa đã “gây thù chuốc oán” gì với sát nhân?

Tính đến 2015, cảnh sát đã nhận được đến 16.000 thông tin cung cấp từ người dân về hung thủ. Khoản treo tiền thưởng lên đến 20 triệu yên dành cho bất cứ ai có thể đưa được thông tin có giá trị giúp cảnh sát bắt được kẻ sát nhân tới nay vẫn chưa ai đạt được.

Thông tin về vụ án đã dịch ra nhiều thứ tiếng, truyền đi khắp nơi nhưng vẫn không thu được bất cứ tung tích gì của hung thủ. Các đội điều tra từ nhiều quốc gia khác cũng gia nhập phối hợp điều tra cùng cảnh sát Nhật Bản nhưng vẫn không đạt được kết quả gì và sự thật cứ như vậy bị chôn vùi trong gần 2 thập kỷ qua.

Hàng năm đến ngày giỗ của gia đình Miyazawa, các nhân viên sở cảnh sát đô thị Nhật Bản đều đến trước nhà nạn nhân để làm lễ và cúi đầu xin lỗi. Mỗi năm họ đều nhắc lại lời hứa rằng họ sẽ làm mọi cách, nỗ lực hết sức để tìm ra kẻ thủ ác, trả lại công bằng cho các nạn nhân.

Họ cũng thành lập một đội riêng gồm 37 người để tiếp tục điều tra và hòng hóa giải vụ án đầy bí ẩn của nhà Miyazawa. Cho đến giờ phút này, những câu hỏi vẫn còn là bí ẩn: Vì sao tên sát thủ lại chọn gia đình ông Miyazawa để giết hại? Hắn ta từ đâu đến? Và tại sao dám ở lại hiện trường gây án 10 tiếng đồng hồ?
 

hoahongden12

Active Member

Cảnh sát mất tới 4 tháng để đưa ra báo cáo khám nghiệm tử thi và kết luận Elisa chết do đuối nước. Tuy nhiên, lý giải này không làm thỏa mãn những người theo dõi vụ việc.

Elisa Lam, nữ sinh gốc Hoa đến từ thành phố Vancouver, Canada, đột nhiên mất tích vào ngày 31/1/2013 khi đi du lịch một mình tới bờ tây nước Mỹ. Theo The Sun, cha mẹ cô sinh viên 21 tuổi đã thông báo cho Sở cảnh sát thành phố Los Angeles sau khi không thấy con gái gọi điện về nhà hằng ngày như thường lệ và nhận thấy con có biểu hiện bất thường.

Vào ngày hôm đó, Elisa dự định làm thủ tục trả phòng khách sạn Cecil, nơi từng nổi tiếng bởi nhiều vụ giết người, tự tử và hiện tượng siêu nhiên.

Katie Orphan, quản lý một cửa hàng sách gần đó, là người cuối cùng nhìn thấy Elisa trước khi cô mất tích. "Đó là một cô gái năng nổ, thân thiện và dễ gần", Katie nói với CNN. Elisa Lam đã tới đây để chọn mua quà mang về tặng gia đình.

Ngay sau khi nhận thông báo, cảnh sát đã tiến hành tìm kiếm và công bố một đoạn video do camera trong thang máy khách sạn Cecil ghi lại. Đoạn video, được xem hàng nghìn lần trên Youtube, cho thấy Elisa bước vào bên trong thang, bấm chọn nhiều nút trên bảng điều khiển, sau đó đứng thu người trong góc. Khi cửa thang mở ra, Elisa nhảy lên và ngó đầu điên cuồng sang hai bên, như thể có người đang đuổi theo mình. Không một ai khác được nhìn thấy trong video này.

Giữa video, Elisa bước ra ngoài hành lang và khoa tay múa chân như thể đang nói chuyện với ai đó rồi biến mất. 19 ngày sau, khách lưu trú ở Cecil phàn nàn rằng nước trong phòng có mùi lạ và màu nâu. Nhân viên khách sạn sau đó tiến hành kiểm tra bể chứa nước trên mái nhà và phát hiện thấy thi thể trần truồng, đã bị phân hủy một phần của cô sinh viên trẻ đang nằm úp mặt xuống. Bộ quần áo mà cô mặc cũng trôi trong bể nước và có dính đầy hạt nhỏ giống như cát. Đồng hồ đeo tay cùng chìa khóa phòng khách sạn cũng ở bên cạnh.

Văn phòng điều tra Los Angeles đã phải mất tới bốn tháng để đưa ra báo cáo xét nghiệm tử thi. Họ kết luận cái chết của Elisa là một tai nạn do đuối nước. Không có một dấu hiệu nào cho thấy Elisa bị đánh, ngoài ra trong người cô cũng không có rượu hay chất lạ.

Trước đó, Elisa bị chẩn đoán mắc chứng trầm cảm, rối loạn lưỡng cực và được kê đơn thuốc uống. Một số người cho rằng rất có thể Elisa vừa trải qua một đợt phấn khích thái quá trước khi chết. Tuy cảnh sát cho rằng cái chết của cô chỉ là tai nạn, lý giải này không làm thỏa mãn những người theo dõi vụ việc.

Nhiều người cho rằng việc Elisa tự trèo vào bên trong bể chứa nước là hoàn toàn không thể, bởi khách sạn đã cài đặt hệ thống báo động kỹ càng, ngoài ra nắp bể nước rất nặng, một mình Elisa khó mà nhấc nổi. Một số khác thì khẳng định đoạn video đã bị làm giả do phần chữ số chỉ thời gian trong clip bị làm mờ, nhiều chỗ bị quay chậm và đã bị cắt đi gần một phút.

Vụ án bí ẩn trên khiến nhiều người liên tưởng đến bộ phim kinh dị Dark Water được sản xuất năm 2005. Phim kể về cái chết của một phụ nữ và thi thể cô được tìm thấy trong bể chứa nước của khách sạn sau khi khách lưu trú phàn nàn nước trong phòng họ có màu đen.

Điều kỳ lạ là trang blog mà Elisa lập ra trước chuyến du lịch vẫn liên tục cập nhật thông tin suốt nhiều tháng liền sau cái chết của cô sinh viên trẻ. Cảnh sát vẫn không tìm được chiếc di động mà cô dùng trước khi chết.

Rất nhiều giả thiết về nguyên nhân cái chết được bàn tán, bao gồm bị ám sát cho tới vô tình ngã đuối nước, do bị một thế lực siêu nhiên hay lời nguyền bí ẩn nào đó chi phối.

Sau vụ việc, khách hàng trú tại Cecil, hiện đã được đổi tên thành Stay on Main, đã kiện khách sạn này. Cuối năm 2013, bố mẹ Elisa cũng đâm đơn kiện nhưng bị bác bỏ vào năm 2015.
 

hoahongden12

Active Member

Vụ án giết người tàn bạo năm 2006 đã khiến cho dư luận Đài Loan phẫn nộ và hoang mang sợ hãi. Rất nhiều tình tiết trong vụ án đến hôm nay cảnh sát vẫn chưa thể giải thích.

Năm 2006, tất cả người dân Đài Loan (Trung Quốc) đều rùng mình sợ hãi trước vụ án mạng 5 đứa con trong một gia đình bị sát hại dã man. Điều đáng nói là xung quanh cái chết tức tưởi của 5 sinh mạng còn tồn tại rất nhiều điểm đáng ngờ mà cảnh sát đến nay cũng không thể giải thích được. Vào thời điểm đó bố mẹ của 5 anh chị em nạn nhân đã biến mất không dấu tích và họ trở thành những kẻ tình nghi số 1 của vụ án. Bí ẩn về bi kịch của một gia đình mãi đến 9 năm sau mới có được một chút manh mối…

Hiện trường vụ thảm án ai thấy cũng phải kinh sợ

Đầu tháng 9 năm 2006, hàng xóm nhận thấy trong căn hộ tại khu Cát An, Hoa Liên, Đài Loan, bốc ra mùi hôi thối nồng nặc. Nhận được tin báo từ người dân, cảnh sát lập tức có mặt tại hiện trường để tìm hiểu nguyên nhân.

Căn hộ im ắng đã bị khóa trái từ bên trong, được biết chủ nhà cũng không thấy xuất hiện trong vòng nhiều ngày. Sau khi lực lượng cảnh sát phá cửa xông vào nhà kiểm tra thì phát hiện một cảnh tượng kinh hãi. Trong nhà tắm là 5 thi thể đang trong tình trạng phân hủy bốc mùi nằm la liệt trên sàn. Tay và chân của các nạn nhân đều bị trói chặt, mắt và miệng bị dán băng keo bịt kín và đầu bị trùm trong túi ni lông.

Các nạn nhân được xác định là 5 đứa con của vợ chồng anh Lưu Chí Cần (48 tuổi) và chị Lâm Chân Mễ (35 tuổi). Trong đó 2 con trai lớn 17 và 18 tuổi và con gái 12 tuổi là từ cuộc hôn nhân đầu tiên của anh Chí Cần, còn 2 con gái nhỏ 8 và 9 tuổi là với vợ sau - Chân Mễ.

Điều lạ lùng là hai vợ chồng Chí Cần và Chân Mễ đã biến mất không một dấu vết. Vài ngày sau đó, cảnh sát tìm được xe hơi của Chí Cần tại nhà ga xe lửa Cát An. Cảnh sát cho rằng Chí Cần và Chân Mễ chính là hung thủ giết chết các con mình sau đó chạy đến nhà ga đón xe lửa bỏ trốn.

Tuy nhiên câu hỏi được đặt ra là họ bỏ trốn đi đâu và nguyên nhân vì sao họ lại có hành động dã man mất nhân tính đến như thế? Bên cạnh đó, tại hiện trường vụ án, cảnh sát đã tìm được nhiều vật chứng và chi tiết kỳ lạ, khiến cho vụ án trở nên vô cùng rắc rối khó mà lý giải được.

Những tình tiết khiến cảnh sát điên đầu

Lâm Kiệt Long, nhân viên cảnh sát chịu trách nhiệm điều tra vụ án cho biết, tại hiện trường tồn tại nhiều điểm bất thường, đánh đố khả năng suy luận của lực lượng cảnh sát.

Đầu tiên là căn nhà đã bị khóa từ bên trong, cánh cửa đã bị thanh sắt chặn ngang khóa lại. Cửa sổ toàn bộ trong nhà đều được lắp khung sắt, chính vì thế có thể nói rằng hiện trường vụ án này trong tình trạng “nội bất xuất ngoại bất nhập”. Vì sao hung thủ có thể thoát ra ngoài được?

Điểm kỳ lạ thứ hai là ở phương thức và thời gian hạ sát nạn nhân. Tại hiện trường mọi vật dụng trong nhà đều sạch sẽ ngăn nắp, không có dấu vân tay lạ, cơ thể các nạn nhân không có dấu hiệu bị tổn thương, chứng tỏ không hề có bất cứ tranh chấp nào trước khi bi kịch xảy ra. Vì lẽ đó, đội điều tra ban đầu cho là các nạn nhân đã bị chuốc thuốc mê hoặc uống thuốc độc chết. Thế nhưng nhân viên pháp y đã chứng thực rằng cả 5 người con của Chí Cần và Chân Mễ không hề bị dính thuốc mê hay thuốc độc, khả năng là các nạn nhân đã bị làm cho ngạt chết trong tình trạng hoàn toàn tỉnh táo. Giám định pháp y cũng xác định rằng các nạn nhân không bị sát hại trong cùng một ngày.

Bên cạnh đó, cảnh sát tìm thấy 3 đầu thuốc tại hiện trường nhưng kiểm tra ADN cho thấy mẩu thuốc này không phải từ 5 nạn nhân, cũng không phải của Chí Cần và Chân Mễ. Loại thuốc lá này là thuốc dành cho nữ khá nổi tiếng, vì thế cảnh sát có lý do cho rằng người hút có thể là nữ và người này có khả năng là một trong những người tham gia vào vụ giết người dã man.

Ngoài ra, cảnh sát lại tìm thấy hai bức thư trong nhà, một viết trên giấy với nội dung cầu cứu: “Hãy gọi cảnh sát, bọn trẻ đã bị bắt cóc. Chúng tôi đang gặp nguy hiểm. Cứu với!”. Một lời nhắn khác được viết lên tờ tiền 1000 Đài tệ: “Khu phố 285, số nhà 25, đã bị khống chế. Quan trọng, hãy gọi cảnh sát”. Nếu như hai vợ chồng họ muốn tìm sự giúp đỡ thì sao lại để giấy nhắn bên trong nhà mà không tìm cách vứt ra ngoài cửa? Tuy nhiên, khi kiểm tra các camera giám sát trên đường, cảnh sát phát hiện vợ chồng Chí Cần, Chân Mễ xuất hiện tại nhà ga Cát An không lâu sau khi án mạng xảy ra và từ hình ảnh cho thấy họ không hề bị bất cứ sự kiểm soát của ai cả.

Một chiếc máy ảnh được tìm thấy trong nhà các nạn nhân nhưng lại không hề có thẻ nhớ. Phải chăng có điều gì đó quan trọng mà hai vợ chồng Chí Cần, Chân Mễ muốn giấu giếm?

Bi kịch gia đình xuất phát từ nợ nần?

Theo thông tin ghi nhận, Chí Cần và Chân Mễ có một cửa hiệu chụp ảnh, chuyên chụp hình cho khách du lịch tại những địa điểm tham quan nổi tiếng ở Hoa Liên. Vì muốn mở rộng công việc làm ăn, Chí Cần đã vay một khoản tiền lớn, khoảng 3 triệu Đài tệ (hơn 90 nghìn đô la Mỹ). Tuy nhiên việc làm ăn thất bại, Chí Cần không đủ khả năng chi trả nợ nần và có lẽ đây là nguyên nhân khiến cho gia đình họ lâm vào cảnh tang thương.

Hồ sơ của cảnh sát ghi nhận lời khai từ phía họ hàng bà con, bạn bè của Chí Cần rằng anh ta có nhiều biểu hiện bất ổn về mặt tâm lý.

Một nhân vật bị tình nghi khác chính là chủ nợ của Chí Cần. Do mâu thuẫn về tiền bạc người này từng lớn tiếng dọa nạt sẽ giết chết cả nhà Chí Cần. Cuối cùng cảnh sát chứng thực được anh ta đã không có mặt tại Hoa Liên vào thời điểm xảy ra vụ án.

Nhiều năm sau đó, vụ mất tích của 2 vợ chồng Chí Cần, Chân Mễ cũng như cái chết bí ẩn của 5 người con họ vẫn không có bất cứ một tiến triển nào.

Hai bộ hài cốt trong rừng liệu có phải là lời giải đáp?

Tháng 6 năm 2015, một người đàn ông trong lúc đi vào rừng trên núi Hoa Liên, bất ngờ phát hiện được hai chiếc sọ người. Lực lượng cảnh sát được thông báo liền tức tốc đến tìm hiểu sự việc. Đội pháp chứng đã phải làm việc cật lực ngày đêm để thu thập các mảnh xương về xét nghiệm. Do hai bộ hài cốt đã bị ảnh hưởng bởi những điều kiện khí hậu tự nhiên trong nhiều năm trời, nhiều phần xương trở nên giòn, nứt và rất dễ vỡ vụn khiến cho việc tìm lại ADN nạn nhân càng thêm phần khó khăn.

Tại hiện trường họ còn tìm được nhiều vật dụng cá nhân bao gồm quần áo, mắt kính, giày dép cùng với một lọ thuốc trừ sâu. Sau nhiều ngày tỉ mỉ phân tích và xét nghiệm, đội pháp y đã xác định rằng hai bộ hài cốt này thuộc về Lưu Chí Cần và Lâm Chân Mễ. Chính là cặp vợ chồng mất tích sau vụ thảm sát 9 năm trước. Vị trí của hai bộ hài cốt chỉ cách nhà của hai vợ chồng khoảng 2 cây số.

Trong xương của Chí Cần và Chân Mễ tìm được dấu vết của thuốc trừ sâu nên cảnh sát cho rằng hai vợ chồng sau khi giết chết 5 đứa con đã cùng nhau bỏ trốn rồi tự sát. Không lâu sau khi phát hiện hai bộ hài cốt, phía cảnh sát đã công bố 2 trong số những bức ảnh được phục hồi từ bộ nhớ trong của chiếc máy ảnh tại hiện trường năm xưa. Hình ảnh đáng sợ một lần nữa đã làm rúng động toàn dư luận Đài Loan.

Trong bức ảnh cho thấy một người đàn ông đeo bao tay, được chụp từ phía sau đang trói tay chân của một trong số các nạn nhân. Dù không thấy rõ mặt nhưng người ta tin rằng đó là Chí Cần đang chính tay sát hại con mình, và người chụp lại những bức hình này có thể chính là Chân Mễ. Tuy nhiên cảnh sát không có một bằng chứng nào để chứng minh được điều này, cũng như còn quá nhiều điều xung quanh vụ án vẫn không thể giải thích được cho đến ngày hôm nay.
 

hoahongden12

Active Member

Đây là một trong những vụ án giết người nổi tiếng ở Na Uy nhưng do luật pháp nhân đạo của nước này mà danh tính hung thủ được bảo vệ tối đa.

Đó là một buổi chiều tuyết rơi ngày 15/10/1994, Silje Redergard, 5 tuổi, cùng 2 đứa trẻ khác, 6 tuổi, rủ nhau ra ngoài chơi tuyết ở thành phố Trondheim, Na Uy. Dù sống chung một khu nhưng 3 gia đình hầu như không hề quen biết nhau.

Đang chơi rất vui vẻ thì không hiểu sao 2 đứa trẻ lớn hơn đổi thái độ, quay sang đánh, đá và ném đá vào người Silje. Sau khi nạn nhân ngã xuống, chúng tiến đến cởi đồ của cô bé ra rồi bỏ mặc em nằm chết cóng trên nền tuyết trắng xóa.

Nhận được tin báo của cảnh sát, mẹ và bố dượng của Silje, nhanh chóng đến hiện trường. Dù lực lượng y tế nỗ lực cứu chữa nhưng bé gái 5 tuổi vẫn mãi mãi ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng những người ở lại.

Sau đó không lâu, mẹ Silje và chồng tìm đến nhà một người hàng xóm, một trong những người đã cố gắng cứu sống Silje trong những giây phút cuối đời của em trước khi cảnh sát đến nơi, để gửi lời cảm ơn.

Trong lúc đang trò chuyện, đứa con trai nhỏ trong nhà còn thân thiết đến ngồi vào lòng bố dượng Silje. Một lúc sau, mẹ của đứa trẻ mới thay mặt cậu bé thừa nhận tội ác, rằng chính nó và một người bạn nữa đã cùng nhau giết chết Silje.

Ngay lập tức, bố dượng Silje hỏi lại: "Cháu đã làm gì?", thì cậu bé thản nhiên trả lời: "Chúng cháu nhảy lên người bạn ấy, cởi đồ bạn ấy vì nghĩ bạn ấy đang nằm ngủ".

Biết được danh tính hung thủ, mẹ Silje và bố dượng của em tức giận đến điếng người, thậm chí muốn lao đến bóp cổ đứa trẻ trước mặt để trả thù cho con gái nhưng họ quyết định không làm gì cả và rời đi vì muốn giao lại mọi chuyện cho cơ quan chức năng xử lý.

Thế nhưng, sau khi gọi điện báo cáo cho cảnh sát, bố mẹ Silje lại nhận về nỗi thất vọng. Bởi vì pháp luật Na Uy quy định, trường hợp phạm tội dưới 15 tuổi sẽ không phải chịu bất kỳ trách nhiệm hình sự nào.

Vậy là vụ án khép lại với danh tính hung thủ, 2 cái tên mà tất cả người dân địa phương đều biết, được giữ kín hoàn toàn.

Na Uy nổi tiếng là đất nước nhân đạo, họ không dùng biện pháp mạnh đối xử với tù nhân vì tin rằng sẽ có ngày kẻ xấu cũng hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng. Vậy nên phản ứng của người dân trước vụ án của Silje cũng khá ôn hòa.

Bản thân mẹ Silje cũng cho biết bà đã sớm tha thứ cho hung thủ giết chết con gái mình vì dù sao chúng vẫn còn là trẻ con.

Nhiều tin đồn cho rằng 2 đứa trẻ giết người kia vì xem quá nhiều phim viễn tưởng 5 anh em siêu nhân, từ đó bị nghiện bạo lực và ra tay tàn độc với bạn mình. Sau đó, các bậc phụ huynh lên án mạnh mẽ tính chất bạo lực của bộ phim này và kết quả là nó bị ngưng phát sóng ở 3 nước Na Uy, Đan Mạch và Thụy Điển.

Cái chết của Silje để lại nỗi đau to lớn đối với tất cả thành viên trong gia đình em dù sau đó, họ đã chuyển sang thành phố khác sinh sống. Anh trai và em gái của Silje phải đi điều trị tâm lý trong suốt thời gian dài.

Sau này khi trưởng thành, anh trai Silje nhiều lần về lại khu nhà cũ với ý định tìm 2 tên hung thủ, trả thù cho em gái.

Vụ án này khiến người ta không khỏi liên tưởng đến cái chết chấn động nước Anh của cậu bé James Bulger xảy ra vào tháng 2/1993. Khi đó, nạn nhân chỉ mới 3 tuổi đã bị bắt cóc và chết thảm dưới tay 2 đứa trẻ 11 tuổi.

Trước vụ sát hại tàn bạo này, truyền thông và dư luận Anh vô cùng phẫn nộ, yêu cầu cơ quan chức năng xử lý nghiêm.

Cuối cùng, cả 2 nhận về mức án 15 năm tù giam nhưng được thả ra sớm hơn 7 năm nhờ có biểu hiện tốt trong lúc thi hành án. Quyết định này của tòa án vấp phải làn sóng phản đối dữ dội của dư luận trên khắp xứ sở sương mù.

Không biết 2 đứa trẻ sau khi ra tù sống thế nào nhưng đối với 1 trong 2 tên giết chết bé gái Silje, có vẻ như hắn đang phải gánh chịu hậu quả cho việc làm kinh tởm của mình.

Từ sau khi vụ việc xảy ra, đứa trẻ ấy sống không có một ngày yên ổn, lúc nào cũng bị ám ảnh bởi cái chết của Silje. Hắn sống rày đây mai đó, nếu không tá túc nhà bạn thì ra đường ngủ cạnh những kẻ nghiện ngập.

Rượu và chất kích thích không thể thiếu trong sinh hoạt của tên này, chúng giúp hắn tạm thời thoát khỏi thực tại bế tắc, sống vất vưởng qua từng ngày. Đây được cho là những gì hắn đáng phải nhận sau khi nhẫn tâm tước đi quyền được sống của một bé gái chỉ mới 5 tuổi.
 

hoahongden12

Active Member

Nhận được hàng loạt các manh mối có giá trị, nhưng vụ án 5 đứa trẻ nhà Sodder mất tích trong biển lửa vẫn là bí ẩn day dứt người còn sống hơn 70 năm.

Xảy ra cách đây hơn 70 năm, vụ biến mất không dấu vết của 5 đứa trẻ nhà Sodder tại thị trấn Fayetteville, bang Tây Virginia, Mỹ trở thành một trong những bí ẩn hàng đầu của nước Mỹ, gây rúng động thị trấn miền Đông nước này một thời.

Cho đến nay, khi cha mẹ của 5 đứa trẻ đều qua đời trong tuyệt vọng thì số phận của chúng vẫn là điều bí ẩn. Chúng đã chết theo dòng biển lửa vào cái đêm Giáng sinh định mệnh đó hay đang lang bạt sống một cuộc đời khổ cực? Tất cả đều là câu hỏi còn bỏ ngỏ.

Đêm Giáng sinh kinh hoàng

Câu chuyện bắt đầu vào đêm Giáng sinh định mệnh năm 1945 tại gia đình trung lưu Sodder 12* thành viên ở thị trấn Fayetteville.

*Lúc xảy ra vụ hỏa hoạn, trong nhà Sodder chỉ có 11 thành viên, 1 người con trai còn lại đang trong quân đội.

Đêm đó, vì háo hức với các món quà Giáng sinh của người chị Marian (17 tuổi), 5 đứa trẻ nhà Sodder, gồm Maurice (14 tuổi), Martha (12 tuổi), Louis (10 tuổi), Jennie (8 tuổi) và Betty (6 tuổi), đã năn nỉ ba mẹ chúng là George Sodder và Jennie Sodder cho ngủ muộn hơn mọi ngày.

Bà Jennie Sodder miễn cưỡng cho phép các con với điều kiện phải tắt đèn và đóng tất cả các cửa khi chúng chơi xong các móni quà và lên giường đi ngủ.

Sau đó, bà cùng chồng và các con lớn gồm John (23 tuổi), George Jr. (16 tuổi) và cô con gái út Sylvia (2 tuổi) đi ngủ tại phòng riêng.

Nửa đêm, một tiếng nổ lạ khiến Jennie chợt tỉnh giấc. Bà kinh hãi nhìn thấy khói tràn vào phòng. Khi chạy ra, bà thấy phòng khách đang chìm trong biển lửa. Bà gào khóc đánh thức chồng và các con dậy.

Chỉ có 6 người, gồm ông bà Sodder, John (23 tuổi), Marian (17 tuổi), George Jr. (16 tuổi) và Sylvia (2 tuổi) thoát nạn trong biển lửa. Năm đứa trẻ còn lại, chính là 5 đứa trẻ năn nỉ được ngủ muộn, đã hoàn toàn biến mất một cách kỳ lạ.

Điên cuồng tìm các con trong khói lửa ngùn ngụt, ông George Sodder đập cửa kính phòng bọn trẻ để rồi tất cả những gì ông thấy chỉ là lửa cháy, tro tàn.

Vì nghĩ rằng chúng có thể nấp dưới gầm giường và trong tủ quần áo, ông gọi tên các con đến khản đặc cổ vẫn không thấy đứa trẻ nào trả lời.

Những tình tiết kỳ lạ trong thảm kịch đêm Giáng sinh

Vụ biến mất không một dấu vết của 5 đứa trẻ nhà Sodder đã gây rúng động toàn bang Tây Virginia thời bấy giờ. Đến nay, bất cứ ai đi qua tuyến đường gần thị trấn Fayetteville cũng đều thấy một tấm bảng có hình 5 đứa trẻ mất tích kỳ lạ.

Tất cả đều sót thương cho số phận của những đứa trẻ. Sự chia sẻ với gia đình Sodder càng tăng lên khi người dân xung quanh không biết chúng giờ ở đâu, đã chết hay còn sống. Họ đặt tấm bảng thông báo với hi vọng ai đi ngang qua có tình cờ gặp 1 trong 5 đứa trẻ thì báo với chính quyền.

Tuy nhiên, những bí ẩn và câu trả lời về vụ việc kinh hoàng này vẫn cứ mãi chìm trong biển lửa như cái đêm Giáng sinh định mệnh năm 1945.

Trở lại với vụ việc xảy ra đêm 24/12/1945, qua điều tra, vụ hỏa hoạn và mất tích của 5 đứa trẻ nhà Sodder chứa rất nhiều tình tiết kỳ lạ.

Tình tiết kỳ lạ thứ nhất: Lời đe dọa vô tình?

Nhà Sodder được tiếng là gia đình sống ôn hòa nhất trong vùng. Vậy mà, chỉ vài tháng trước khi xảy ra vụ việc đau lòng, một người đàn ông gõ cửa tận nhà Sodder, thuyết phục chủ nhà mua bảo hiểm cho cả gia đình.

Sau khi bị từ chối, người đàn ông này tức giận một cách vô cớ và buông lời cảnh cáo: "Sẽ sớm thôi, căn nhà này và những đứa trẻ của ông sẽ bị lửa thiêu tan thành mây khói".

Tình tiết kỳ lạ thứ hai: Cuộc điện thoại lạ lúc nửa đêm

Sau khi dặn dò 5 đứa nhỏ, bà Jennie trở về phòng riêng cùng chồng và cô con gái út đi ngủ. Mọi chuyện vẫn bình thường cho đến khi bà chủ nhà bị thức giấc bằng một cuộc gọi của người lạ lúc nửa đêm. Người lạ yêu cầu được nói chuyện với một người mà bà Jennie không quen biết.

Vì nghĩ có người gọi nhầm số, bà lịch sự từ chối và cúp điện thoại. Đúng lúc này, bà trông thấy ánh đèn ở tầng dưới vẫn còn bật. Khi đi xuống, bà ngạc nhiên khi thấy không chỉ có đèn mà rèm và cửa trước mở toang.

Cho rằng bọn trẻ quên không làm theo lời mình dặn, bà lặng lẽ đóng cửa, rèm và tắt đèn trước khi vào lại giường đi ngủ. Lúc đó là 12h30 sáng.

Tình tiết kỳ lạ thứ ba: Sự hững hờ của... số phận

Trong khi ba mẹ tìm cách giải cứu các em trong biển lửa, cô con gái Marian (17 tuổi) đã chạy sang nhà hàng xóm để gọi cứu giúp và điện cho trung tâm cứu hỏa Fayetteville cách nhà Sodder chỉ 4km.

Thế nhưng, không một ai trả lời điện thoại của cô bé. Tất cả những gì mà Marian nhận được là tiếng tút tút kéo dài. Mãi cho đến khi trời sáng, khi căn nhà của gia đình Sodder chỉ còn là đống tàn tro, đội cứu hỏa mới đến nơi.

Tình tiết kỳ lạ thứ tư: Nếu chết cháy, thì hài cốt của 5 đứa trẻ đâu?

Sau vụ việc kinh hoàng xảy ra đêm Giáng sinh, hàng loạt các cuộc điều tra mở ra nhằm đi tìm câu trả lời cuối cùng cho số phận 5 đứa trẻ.

Kết luận điều tra bất ngờ cho biết, 5 đứa trẻ đã bị chết cháy. Nguyên nhân vụ cháy là do chập điện. Nếu vậy, hài cốt của 5 đứa trẻ ở đâu?

Theo nhân viên ở bộ phận hỏa táng của nhà tang lễ, nếu 5 đứa trẻ bị chết cháy như kết luận của ban điều tra, điều đó là không thể.

Vì, xương người vẫn có thể còn nguyên hình khi bị thiêu tại nhiệt độ 2.000 độ C trong thời gian 2 giờ đồng hồ. Trong khi, vụ hỏa hoạn tại nhà Sodder chỉ xảy ra vỏn vẹn 45 phút!

Những chi tiết khác

Sau vụ hỏa hoạn, 1 nhân chứng khẳng định ông thấy 1 người đàn ông lảng vảng quanh hiện trường vụ cháy. Rất có thể người đàn ông này tìm cách phá hoại động cơ ô tô khiến cho George Sodder không thể sử dụng chiếc xe của mình để gọi cứu hỏa trong đêm đó.

Một chi tiết quan trọng khác đó là, một người phụ nữ đã thấy mặt của 5 đứa trẻ trên một chiếc xe đi ngang qua trong đêm khi ngọn lửa vẫn đang thiêu hủy căn nhà Sodder.

Nhiều năm sau vụ hỏa hoạn, thành viên còn lại của gia đình Sodder trở lại nơi gắn với những ký ức kinh hoàng. Tại đây, họ nhặt được một vật thể được xác định là bom dứa (loại bom được dùng trong chiến tranh).

20 năm sau, gia đình Sodder lại nhận được bức hình của 1 trong 5 đứa trẻ được cho là mất tích với lời nhắn vô cùng khó hiểu.

Louis Sodder

I love brother Frankie

Ilil boys

A90132 or 35

(Tạm dịch: Louis Sodder. Em yêu anh trai Frankie. Ilil boys. A90132 hoặc 35)

Chưa một phút từ bỏ hi vọng tìm lại con

Biển lửa càn quét đã thiêu trụi cả tòa nhà nhưng không thiêu trụi được hi vọng tìm kiếm các con của ông bà nhà Sodder.

Mặc dù nhận được kết quả của cơ quan điều tra về cái chết của 5 đứa con, gia đình Sodder vẫn không tin những đứa trẻ của mình đã vĩnh viễn ra đi cùng biển lửa trong đêm Giáng sinh năm 1945.

Họ chưa một phút từ bỏ hi vọng và nỗ lực tìm con. 5.000 đôla Mỹ là mức thưởng gia đình đưa ra cho bất cứ ai cung cấp thông tin về các con của họ. Sau này, mức thưởng tăng gấp đôi, nhưng gia đình họ vẫn không thu được bất cứ tin tức nào có giá trị.

Năm 1947, nhà Sodder gửi một bức thư cho Cục Điều tra Liên bang FBI với mong muốn cơ quan này điều tra vụ mất tích của các con. Tuy nhiên, do không có thẩm quyền, đại diện FBI đành phải từ chối nhà Sodder.

Họ lại tìm đến thám tử tư để điều tra vụ việc cũng như địa chỉ người gửi bức ảnh giống cậu con trai Louis Sodder. Nhưng, dường như càng có nhiều manh mối, sự việc lại càng trở nên bí ẩn.

Cuối cùng, họ đã chết mà không biết điều gì đã thực sự xảy ra với 5 đứa con thân yêu của mình.

Năm 2015, cô con gái út của gia đình Sodder là Sylvia đã 72 tuổi, nhưng chưa phút nào bà nghĩ các anh, chị mình đã chết trong đêm hỏa hoạn năm 1945.

Mặc dù phải đối mặt với nhiều điều bí ẩn, bà vẫn tin rằng, các anh, chị vẫn còn sống đâu đó trên thế giới này. Đối với bà, ký ức về vụ hỏa hoạn sẽ còn mãi đến cuối đời.
 

hoahongden12

Active Member

Dù đã 40 năm trôi qua nhưng mỗi khi nhắc đến vụ thảm án 4 đứa trẻ nhà họ Tan, nhiều người dân Singapore không khỏi rùng mình trước độ máu lạnh của hung thủ.

Vào thời điểm này 40 năm trước, toàn thể người dân Singapore chấn động trước vụ giết người dã man mà nạn nhân là 4 em bé đáng thương nhà họ Tan gồm 3 bé trai Tan Kok Peng (10 tuổi), Tan Kok Hin (8 tuổi), Tan Kok Soon (6 tuổi) và 1 bé gái Tan Chin Nee (5 tuổi).

Mặc cho mọi nỗ lực phá án của cảnh sát đảo quốc sư tử, danh tính hung thủ đến nay vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải đáp.

Đôi vợ chồng Tan Kuen Chai và Lee Mei Ying xuất thân từ tầng lớp thấp, cả nhà 6 người sống trong căn hộ ở khu Geylang Bahru. Sau thời gian tích góp được một số vốn nho nhỏ, anh Tan mua chiếc xe buýt rồi thầu dịch vụ đưa đón trẻ. Anh làm tài xế trong khi chị Lee đảm nhận vai trò trông giữ lũ trẻ trên xe.

Như thường lệ vào lúc 6h35 ngày 6/1/1979, vợ chồng anh Tan rời nhà để đi đón học sinh. Vì còn khá sớm nên cả hai thống nhất không đánh thức lũ trẻ. Sợ các con thức muộn giờ học nên nửa tiếng sau, là khoảng 7h10, chị Lee gọi điện về nhà nhưng không ai bắt máy.

Chị liên lạc nhờ một người hàng xóm bên cạnh sang đánh thức 4 đứa trẻ song khi sang gõ cửa nhà, người này lại không nghe thấy động tĩnh gì.

Sau khi kết thúc công việc trở về lúc 10h, vợ chồng anh Tan vừa bước vào nhà đã phát hiện cảnh tượng kinh hoàng, thi thể 4 đứa trẻ chất chồng lên nhau trong phòng tắm, xung quanh chúng là một màu đỏ tươi của máu.

Theo ghi nhận của cảnh sát, tất cả nạn nhân tử vong do bị chém vào đầu, mặt và tay, mỗi bé ít nhất 20 vết thương trên người.

Con trai cả là Tan Kok Peng bị thương nặng nhất, có thể là do cậu bé đã chống trả với hung thủ để bảo vệ các em khiến cánh tay của đứa trẻ này bị chặt gần như đứt lìa khỏi cơ thể. Thời điểm bị sát hại, các bé vẫn mặc nguyên bộ đồ ngủ trên người.

Dựa vào bằng chứng trong nhà, cảnh sát xác định đây là vụ giết người được lên kế hoạch tỉ mỉ từ trước.

Có rất nhiều vết máu vương vãi khắp nơi trong nhà song nhân viên điều tra lại không tìm thấy bất cứ dấu vết gì tên hung thủ để lại. Duy chỉ có vết máu trên bồn rửa chén đã bị kẻ thủ ác nhanh chóng rửa sạch trước khi rời đi.

Chính phủ Singapore chỉ định thành lập một đội đặc nhiệm phụ trách vụ án nhưng công cuộc điều tra không mang lại kết quả khả quan.

Dù không thể xác định chính xác động cơ gây án nhưng cảnh sát phần nhiều cho rằng đây là vụ giết người với mục đích trả thù.

2 tuần sau khi xảy ra vụ thảm án, vợ chồng anh Tan nhận được một tấm thiệp chúc mừng năm mới với lời nhắn: "Thế là bây giờ nhà mày sẽ không còn người nối dõi nữa rồi nhé haha".

Câu nói này ám chỉ người này biết rõ việc chị Lee đã tiến hành triệt sản sau khi sinh con gái út. Phía dưới tấm thiệp là ký tên "Kẻ sát nhân" được viết bằng tiếng Hán. Ngoài ra, người gửi gọi anh chị Tan là "Ah Chai" và "Ah Eng", tên thân mật của 2 vợ chồng mà chỉ những người thân thiết mới biết.

Từ đây, cảnh sát xác định hung thủ chắc chắn là người quen biết với vợ chồng Tan và những đứa trẻ. Giả thiết này có thể giải thích được vì sao hắn có thể dễ dàng vào nhà, nhiều khả năng được chính nạn nhân mở cửa.

Trong thời gian thu thập lời khai của mọi người xung quanh, cảnh sát cũng nhận được rất nhiều thông tin hữu ích.

Đơn cử như một người hàng xóm sống ở tòa nhà khác khẳng định đã nhìn thấy nhìn thấy bé Chin Nee đang vật lộn chống lại một người đàn ông nhưng danh tính của người này thì không ai biết.

Một tài xế taxi chạy ngang khu Geylang Bahru từng nhìn thấy một người đàn ông tầm 20 tuổi lảo đảo vẫy tay gọi xe.

Khi đó, một bên mạng sườn của người này dính máu. Lúc trả khách, người tài xế còn nghe thấy âm thanh một vật bằng sắt đập vào cửa. Sau khi nghe tin tức 4 đứa trẻ bị giết, ông mới cho rằng nhiều khả năng đó là tên hung thủ bỏ trốn cùng với hung khí.

Dựa theo miêu tả của tài xế, vợ chồng anh Tan nghĩ ngay đến một người bạn thân mà bọn trẻ thường hay gọi là "chú". Người này sau đó được cảnh sát triệu tập để lấy lời khai nhưng cuối cùng cũng phải tha bổng vì không đủ bằng chứng buộc tội.

Sau cái chết của các con, vợ chồng Tan chuyển nhà đến nơi khác rồi xin vào làm ở một nhà máy sản xuất nhựa. Năm 1983, cả hai hạnh phúc chào đón một cậu con trai kháu khỉnh sau khi chị Lee trải qua ca phẫu thuật phục hồi chức năng sinh sản thành công.

Vụ án bí ẩn bậc nhất Singapore cũng thu hút sự quan tâm của dân mạng trên diễn đàn Reddit. Một tài khoản tự xưng là người Singapore, mẹ anh từng sống ở khu Geylang Bahru kể lại rằng, vợ chồng Tan và mọi người khu vực này thực chất đều biết nhân vật "chú" là hung thủ nhưng không ai đủ can đảm vạch trần.

Thù hằn xảy ra khi người này nhờ anh chị Tan mua giúp vé số. Kết quả xổ số xác định đấy là tấm vé trúng thưởng nhưng khi người này đến nhà Tan thì vợ chồng anh nói rằng quên không mua giúp. Tức giận và không tin lời Tan nên người này đã lên kế hoạch trả thù bằng cách giết hại 4 đứa trẻ.

Nguyên nhân khiến vợ chồng Tan và tất cả hàng xóm đều không dám hó hé về danh tính của "chú" là do người này thuộc băng đảng xã hội đen khét tiếng. Vậy nên chẳng ai dám động đến hắn nếu như không muốn bản thân trở thành nạn nhân tiếp theo.

Một trong số sự trùng hợp khó tin là lời khai của cụ bà Yam Yin Tin, 68 tuổi. Bà cho biết mỗi ngày đều ngồi ở hành lang chung của tòa nhà để trông chừng lũ trẻ chơi đùa, nếu người lạ xuất hiện ở khu này, chắc chắn bà sẽ nhận ra.

Chẳng hiểu thế nào mà vào ngày 6/1 định mệnh, bà lại trở vào nhà gội đầu vào đúng thời điểm nạn nhân bị sát hại. Tài khoản Reddit cho biết đây chỉ là cái cớ của bà Yam vì không dám khai ra sự thật đã nhìn thấy "chú".

Câu chuyện này nhận được nhiều phản hồi, hầu hết mọi người đều chọn tin vào nó. Song dù có phải là sự thật hay không thì hung thủ của vụ án 4 đứa trẻ nhà họ Tan bị sát hại dã man đến nay sau 40 năm, vẫn chưa bị bắt và trừng phạt cho tội ác của mình.
 

hoahongden12

Active Member

Sau vụ mất tích đầy bí ẩn và kỳ lạ của cả gia đình 4 người cùng chó cưng và xe hơi, không ai tìm ra dấu vết gì. 1 năm sau cảnh sát mới phát hiện tung tích của họ nhưng tất cả các câu hỏi cho đến nay vẫn không được giải thích thỏa đáng.

Ngày 4 tháng 6 năm 2001, bà Junko Yamagami (52 tuổi) dự kiến có chuyến công tác tại thành phố Đại Liên (Trung Quốc).

Trước khi lên máy bay bà còn có một cuộc họp tại công ty du lịch mà bà đang làm việc. Tuy nhiên, suốt cả buổi sáng hôm đó, đồng nghiệp trong công ty không hề thấy bóng dáng của bà Junko xuất hiện, bà không đi họp cũng không lên máy bay đi công tác nước ngoài.

Đến trưa hôm đó, vì lo lắng có chuyện chẳng lành nên đồng nghiệp của bà Junko đến tận nhà hỏi thăm, bà Junko sống cùng chồng tên Masahiro và mẹ chồng Saegus, nhưng nhân viên công ty không thấy ai ở nhà, cả con chó cưng của gia đình và chiếc xe hơi thường đậu trước cửa cũng không còn ở đó.

Con gái của bà Junlo, một giáo viên tiểu học 26 tuổi tên Chie cũng bị mất tích khó hiểu. Cô Chie vốn sống một mình trong một căn hộ ở gần thành phố Takehara. Được biết, buổi tối trước hôm xảy ra sự việc, cô Chie có đến thăm bố mẹ và ngủ lại ở đó.

Đồng nghiệp của Chie cho biết vào khoảng 9h30 tối, cô nhặt một ít đồ trang điểm từ một đồng nghiệp và sau đó đi về nhà của cha mẹ cô ở thị trấn nhỏ Sera.

Hàng xóm của gia đình bà Junko cho biết họ đã nghe thấy tiếng đóng cửa xe rất mạnh vào khoảng 10h 50' tối hôm đó nhưng không ai chắc chắn đó là tiếng đóng cửa xe của cô Chie hay là tiếng đóng cửa xe của gia đình này trước khi rời đi.

Còn người giao báo của gia đình thì cho biết vào khoảng 4h đến 5h sáng, anh ta đến và đã không thấy chiếc xe đậu ở đó.

Một điều kỳ lạ nữa là cửa trước ngôi nhà của bà Junko có khóa cẩn thận nhưng cửa sau lại mở, tuy nhiên mọi đồ đạc trong nhà đều vẫn y nguyên và không có dấu hiệu bị kẻ trộm đột nhập. Đèn bếp vẫn được bật sáng trưng, thậm chí đồ ăn sáng cũng đã được chuẩn bị.

Mọi đồ vật trong ngôi nhà đều bình thường nhưng có chi tiết lạ là bộ đồ ngủ của bà Junko biến mất, đôi giày vẫn ở đó nhưng đôi dép thì không.

Hành lý của bà Junko và 150.000 yên mà bà đã chuẩn bị sẵn cho chuyến đi vẫn ở trong nhà, máy nhắn tin của ông Masahiro cũng vậy. Từ đó, cảnh sát suy luận rằng mọi sinh hoạt của gia đình này vẫn bình thường nhưng đột ngột có chuyện gì đó khiến họ lên xe gấp mà không kịp mang theo bất cứ thứ gì ngoài chú chó cưng.

Sau 1 năm miệt mài tìm kiếm nhưng cảnh sát vẫn không có được kết quả như mong muốn. Điều tra các mối quan hệ của gia đình, cảnh sát được biết họ không hề có mâu thuẫn hay thù hằn gì với ai. Mặc dù ông Masahiro có nợ một ít tiền nhưng nó không quá nhiều đến mức cả gia đình phải chạy trốn như vậy.

Khi vụ án đang chìm dần vào bế tắc thì đột nhiên, vào ngày 7 tháng 9 năm 2002 cảnh sát tìm thấy một chiếc xe hơi bị chìm dưới hồ nước gần nhà bà Junko. Chiếc xe chứa hài cốt của cả 4 người nhà bà Junko và chú chó của họ, phần thịt gần như đã bị phân hủy chỉ còn lại những bộ xương.

Cả 4 người đều thắt dây an toàn, quần áo trên người nạn nhân dường như là đồ ngủ, mặc dù đã bị phân hủy gần hết. Không có dấu hiệu xô xát ở trong xe hoặc bất kỳ tác động nào từ bên ngoài vào chiếc xe. Kết quả giám định không xác định được nguyên nhân cái chết của họ, cũng không có dấu hiệu cho thấy bị tấn công.

Cảnh tượng bên trong chiếc gây sốc cho cảnh sát và mang đến những câu hỏi mà đến nay vẫn chưa có lời giải thích thỏa đáng rằng: Vì sao gia đình họ lại vội vàng đi ra ngoài trong đêm tối? Họ muốn đi đâu hay chạy trốn điều gì? Tại sao chiếc xe lại bị đâm xuống hồ nước?

Vì ông Masahiro ngồi ở ghế lái nên cảnh sát nghi ngờ rằng đó là một vụ giết người và tự sát hoặc tự tử tập thể.

Việc gia đình bà Junko đột ngột rời đi khiến nhiều người nghi ngờ. Nếu ông Masahiro thực sự đã giết tất cả mọi người thì làm thế nào ông ta lại có thể thuyết phục (hoặc đe dọa) để các thành viên khác trong gia đình lên xe, đặc biệt là khi họ đã chuẩn bị bữa ăn sáng tươm tất? Hay ai đó đã buộc họ rời đi? Có lẽ họ đã cố gắng tránh xa ai đó và Masahiro vô tình lái xe xuống nước?

Hàng loạt câu hỏi được đưa ra nhưng không một ai có lời giải thích thỏa đáng và cho đến nay nó vẫn là vụ mất tích kỳ lạ gây ám ảnh Nhật Bản.
 

hoahongden12

Active Member

Tính đến dịp lễ Tạ Ơn năm nay, 3 anh em nhà Skelton đã mất tích được 8 năm. Người duy nhất biết được sự thật câu chuyện này chính là bố bọn trẻ, hắn ta dù nhận án tù 15 năm nhưng vẫn nhất quyết giữ kín, không khai ra tung tích của các con.

Vào dịp lễ Tạ Ơn năm 2010, 3 anh em Tanner Skelton (5 tuổi), Alexander William Skelton (7 tuổi) và Andrew Skelton (9 tuổi) được mẹ cho đến thăm nhà bố John Skelton ở thành phố Morenci, Michigan, Mỹ.

Theo kế hoạch, John sẽ giao các con trở lại cho vợ cũ vào ngày 26/11 nhưng việc này không bao giờ xảy ra và tung tích của các bé đến nay vẫn còn là một bí ẩn chưa có lời giải đáp.

Theo lời kể của John, trong đêm cuối cùng các con ở lại nhà, anh ta đã nấu món ăn mà chúng thích nhất, cả nhà cùng ăn gà tây và thổi nến ăn mừng sinh nhật của Andrew.

Sáng hôm 26/11, thay vì đưa bọn trẻ đến nhà mẹ thì John lại lái xe đến một ngôi nhà nằm gần ranh giới 2 tiểu bang Indiana và Ohio, giao con cho vợ chồng một người phụ nữ tên Joann Taylor đang sống tại đây bằng nghề làm trang trại.

Khi ấy, John đã nói với các con rằng chúng sẽ có cuộc sống tốt hơn ở gia đình mới trước khi bỏ đi.

John cho biết sở dĩ anh ta làm vậy là để bảo vệ các con tránh khỏi sự bạo hành của vợ cũ, Tanya Zuvers.

Thế nhưng, mẹ của những đứa trẻ sau đó đã lên tiếng phủ nhận đánh đập những đứa trẻ, khẳng định chị vô cùng tận hưởng thiên chức được làm mẹ nên chắc chắn không hề có chuyện chị đối xử tệ bạc với chúng.

Tối ngày 26/11, John cố ý tự tử nhưng không thành. Sau khi được đưa đến bệnh viện cấp cứu, ông bố 3 con được chuyển đến một trung tâm y tế để điều trị vấn đề tâm lý.

Ngay sau khi được xuất hiện vào tháng 12, John lập tức bị cảnh sát bắt giữ để điều tra vụ án mất tích của 3 anh em nhà Skelton.

Theo điều tra của phía cảnh sát, danh sách người quen biết của John không hề có người phụ nữ tên Joann Taylor. Thậm chí, nhiều khả năng người này còn không hề tồn tại.

Khi đến nhà John để thu thập bằng chứng, nhân viên điều tra mô tả đó là một nơi hỗn độn khi nội thất bị xáo trộn, đĩa ăn bị vỡ vương vãi trên sàn nhà, drap giường bị dao rọc nát tươm và tất nhiên, nơi đây không hề sót lại dấu vết gì của 3 đứa trẻ.

Lật về quá khứ, năm 2007, John từng viết một bài thơ đặt tên là "Dumpster" (tạm dịch: bãi rác) với nội dung nói về một đứa trẻ chết trong một bãi rác.

Chưa hết, khoảng 1 tuần trước khi các con mất tích, John đã lên mạng tìm kiếm với từ khóa "Làm cách nào để bẻ gãy cổ". Nhiều người cho rằng đấy có thể là những manh mối nhỏ nhoi giúp tìm được bọn trẻ nhưng đáng tiếc, các cuộc điều tra sau đó đều đi vào ngõ cụt.

Trong thời gian bị bắt, John cũng nhiều lần thay đổi lời khai. Hắn nói đã giao con cho người Amish, cộng đồng người sống biệt lập ở một số các tiểu bang như Michigan, Ohio, Indiana và Pennsylvania.

Người Amish chủ trương sống dựa vào những giá trị cũ xưa, họ không sử dụng điện và xe ô tô nhưng luôn giữ liên lạc với các thành viên khác trong cộng đồng.

Theo lời một người Amish, cộng đồng này luôn dang tay đón nhận những đứa trẻ bị bỏ rơi nhưng họ luôn yêu cầu được biết thông tin về nhân thân của các bé.

Vậy nên không có khả năng 3 đứa trẻ được nhận nuôi mà không ai hay biết. Cuối cùng, John bị tuyên án 15 năm tù giam vì tội bắt cóc và giam giữ bất hợp pháp.

Dù vụ án khép lại nhưng phía cảnh sát vẫn tiếp tục tiến hành điều tra. Trong cuộc họp báo tổ chức vào năm 2011, cảnh sát trưởng Larry Weeks cho biết ông sẽ chuyển hướng điều tra từ vụ mất tích sang vụ giết người mà hung thủ không ai khác chính là bố của 3 nạn nhân.

Larry không muốn mọi người đặt quá nhiều hy vọng vào việc những đứa trẻ còn sống và yêu cầu người dân phối hợp tìm kiếm thi thể hoặc đồ vật liên quan đến nạn nhân.

Tháng 9 năm ngoái, nhân viên lao công trong lúc dọn dẹp ngôi nhà ở thành phố Missoula, Montana để cho thuê lại thì phát hiện một chiếc thùng cạc tông có chứa xương người lẫn đất đá.

Sau khi lực lượng chức năng có mặt và đem về phân tích thì kết quả xác định xương trong thùng thuộc về 3 đứa trẻ trong độ tuổi từ 5 đến 8, 6 đến 10 và 2 đến 4.

Trong khi cảnh sát địa phương không thể xác định mối liên quan đến các vụ án quá khứ thì cảnh sát thành phố Morenci lại đánh giá đây là một manh mối quan trọng của vụ án mất tích của 3 đứa trẻ nhà Skelton nhiều năm về trước. Đáng tiếc, ADN tìm thấy lại thuộc về những người đã qua đời cách đây gần 1 thế kỷ.

Đến nay đã 8 năm trôi qua, tung tích của 3 bé trai Tanner, Alexander và Andrew vẫn tồn tại như một bí ẩn mùa lễ Tạ Ơn mãi vẫn chưa có lời giải đáp.
 

hoahongden12

Active Member

Hộp sọ nằm lẫn trong đám lá cây mục rỗng đã là một thách thức lớn với các nhà điều tra. Cuối cùng, phải mất đến vài năm mọi chuyện mới được sáng tỏ.

Vào tháng 11 năm 1987, một chuyên gia lập bản đồ phát hiện ra một chiếc sọ người nằm lẫn trong đám lá cây ở trang trại S Bar F Scout gần Farmington, Missouri.

Do quá sợ hãi nên người đàn ông này đã lặng lẽ trở về Phần Lan, đến khi lấy lại bình tĩnh, ông đã gọi điện đến Missouri để báo cáo với cảnh sát về những gì mình thấy.

Sau đó, các điều tra viên đã thu thập thêm được nhiều khúc xương vụn khác cùng vài lọn tóc rải rác, một chiếc quần jean, áo sơ mi đã hỏng và một chiếc cúc có chữ "Texwood" quanh chỗ phát hiện ra hộp sọ.

Qua những gì thu nhận được, các chuyên gia pháp y đã dựa vào xương chậu của nạn nhân để phỏng đoán đây là một người phụ nữ đã sinh từ 2 đứa con trở lên.

Ngoài ra, chiếc quần jeans được tìm thấy đã được cảnh sát xác nhận là một sản phẩm được sản xuất tại Hồng Kông. Vì vậy, cảnh sát nghi ngờ nạn nhân có thể là một người Châu Á.

Qua nhiều ngày dò xét các hồ sơ mất tích nhưng không đem lại kết quả khả quan.

Cuối cùng, các chuyên gia pháp y đã sử dụng hộp sọ và các mảnh xương được tìm thấy để cố gắng phục chế lại khuôn mặt của nạn nhân. Sau đó họ cung cấp hình ảnh cho các trang báo đài để mong có người nhận diện được khuôn mặt này.

3 ngày sau, một người có tên Wilaiporn Cox đã xem TV và nhận ra khuôn mặt đó chính là người bạn mất tích Bunchee Nyhuis của cô. Theo lời Cox, đã không có ai nhìn thấy Bunchee kể từ tháng 12 năm 1983.

Lần theo manh mối đó, cảnh sát tìm đến Richard Nyhuis, chồng của Bunchee để lấy lời khai.

Được biết, Bunchee sinh ra ở thành phố Chonburi, Thái Lan vào khoảng năm 1950, đến năm 1970, cô gặp Richard Nyhuis lúc đó đang phục vụ trong Không quân ở Thái Lan và đem lòng cảm mến. Sau đó, Bunchee rời bỏ quê hương và theo Richard đến Mỹ sinh sống và họ đã có với nhau 2 người con.

Richard được hàng xóm xung quanh miêu tả rằng ông là một người chồng, người cha lý tưởng và đáng kính. Chẳng có điều gì có thể chê được ở ông.

Suốt quá trình điều tra, Richard khai rằng Bunchee nói nhớ nhà và muốn trở về Thái Lan. Sau đó, ông đã tiễn vợ ra sân bay St. Louis để cô về quê nhưng sau đó không còn nghe thấy bất kì tin tức nào từ cô nữa.

Ngoài ra, bạn bè của Bunchee cũng nói rằng, cô đã tâm sự với họ rằng cô cảm thấy nhớ quê hương và muốn quay trở lại thăm người thân ở Thái Lan.

Vì không thể xác định chính xác đó là xương cốt của Bunchee nên cảnh sát không thể làm được gì. Tuy nhiên, các nhà điều tra không tin Richard hoàn toàn trong sạch.

Mãi đến vài năm sau, nhờ kĩ thuật phân tích ADN mà cuối cùng cảnh sát mới khẳng định được bộ xương được tìm thấy năm xưa đó chính xác là của Bunchee.

Cuối cùng, do không thể trốn tránh mãi được, Richard đã thừa nhận tội lỗi của mình.

Y khai vào tháng 11 năm 1983, y và Bunchee có một trận cãi vã lớn và trong cơn nóng giận, y đã đánh vào đầu Bunchee bằng một vật sắc nhọn ở ngay dưới tầng hầm căn nhà họ đang sống, sau đó bịt mũi và miệng cho cô ngạt thở rồi nhét cô vào tủ đá.

Đến mùa xuân, Richard đã đem xác vợ mình đến trang trại Boy Scout để chôn cất, trang trại đó là nơi y đang làm việc với tư cách là một giám đốc điều hành. Đồng thời, y cũng đổ thêm vôi vào ngôi mộ tạm của vợ mình để đẩy nhanh quá trình phân hủy xác.

Trước tòa án, luật sư bào chữa của Richard đã nói rằng y là một người hiền lành và ôn hòa, chính cô vợ của y mới là người sa lầy và gây sự trước.

Bunchee trước đó đã yêu cầu Richard xây một ngôi nhà lớn và khang trang hơn, nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của y.

Thấy nhu cầu không được đáp ứng, Bunchee đã đe dọa sẽ ly dị và đem 2 đứa con trở về Thái Lan. Quá tức giận nên Richard mới có hành động giết vợ mình như vậy.

Tuy nhiên, tòa án và bồi thẩm đoàn đã không nhân nhượng trước hành vi sai trái của Richard. Y bị kết án 50 năm tù.

Richard đã được giới truyền thông đặt cho cái tên là "kẻ giết người" nhưng có thể thấy y đã là một người cha rất tốt khi một mình nuôi dạy hai đứa trẻ trong nhiều năm trời.

Đứa con đầu của y và Bunchee, Steve Nyhuis đã được xuất hiện trong danh sách vinh danh của St. Charles High năm 1990 và đã có một sự nghiệp thành công trong quân đội, còn đứa con thứ Michael đã trở thành một người thợ mộc và hiện đang có một gia đình nhỏ.
 

hoahongden12

Active Member

Miyuki Ishikawa được xem là bà đỡ tàn độc nhất Nhật Bản khi đã ra tay giết hại và giấu xác hàng trăm đứa trẻ sơ sinh chỉ vì bố mẹ chúng không đủ điều kiện để nuôi con.

Sáng 12/1/1948, hai sĩ quan cảnh sát đồn Waseda đi tuần tra, thấy một chiếc túi bỏ không và phát hiện trong đó chứa thi thể của 5 đứa bé. Kết quả khám nghiệm hiện trường cho thấy, những đứa trẻ không chết một cách tự nhiên và cuộc điều tra của họ dẫn tới việc phát hiện ra nữ sát thủ hàng loạt tàn độc nhất Nhật bản là Miyuki Ishikawa.

Ngay sau đó, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Kotobuki là Miyuki Ishikawa và chồng là Takeshi Ishikawa, đã bị bắt ngày 15/1/1948 vì nghi ngờ liên quan đến vụ việc.

Quá trình điều tra cho thấy, nạn nhân của vợ chồng Ishikawa không chỉ dừng lại ở con số 5 mà là đến gần 200 sinh linh bé bỏng. Những đứa bé sơ sinh đã bị bức chết một cách tức tưởi dưới sự bỏ mặc, ngược đãi. Trên thực tế, con số nạn nhân chính xác của cặp vợ chồng này là không thể xác định được.

Miyuki Ishikawa sinh năm 1897 tại Kinitomi, tỉnh Miyazaki. Cuộc đời trước đây của bà ta là một bí ẩn, chỉ có thông tin bà ta tốt nghiệp từ đại học Tokyo, sau đó về làm Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Kotobuki. Sau này, Miyuki kết hôn với Takeshi Ishikawa nhưng cả hai đều không sinh được người con nào.

Miyuki được xem là một bà đỡ lành nghề, mặc dù lúc bấy giờ tại Nhật, nghề này chưa được xem là một công việc chính thức, cũng không được ban hành giấy phép hành nghề. Miyuki có một tuổi thơ bất hạnh khi thường xuyên bị người cha độc ác bỏ đói và đánh đập dã man. Nỗi ám ảnh kinh hoàng đó chính là nguyên nhân khiến bà ta ra tay giết hại 169 đứa trẻ theo cách thức tương tự mà chẳng cần suy nghĩ.

Trước đây, khi khoa học chưa phát triển đầy đủ như hiện nay, hầu hết trẻ sơ sinh đều được sinh ra bằng biện pháp tự nhiên, đi kèm nhiều biến chứng nguy hiểm và đau đớn khủng khiếp. Vào thời điểm đó, vai trò của các bà đỡ là vô cùng quan trọng vì họ có tác động trực tiếp đến sự an toàn của sản phụ và em bé.

Những năm 1940, khoảng thời gian sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, cả nước Nhật rơi vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về mặt kinh tế. Đây cũng là thời kỳ bùng nổ dân số của Nhật với con số ước tính khoảng 2,6 triệu đứa trẻ chào đời mỗi năm trong giai đoạn từ 1947-1949. Sự gia tăng một cách đột biến về tỷ lệ trẻ em đã gây ra tình trạng khó khăn, ách tắc tại các bệnh viện phụ sản. Bệnh viện Kotobuki của Miyuki cũng không tránh khỏi gánh nặng quá tải đó.

Hầu hết sản phụ đến sinh nở tại bệnh viện Kotobuki đều thuộc tầng lớp lao động nghèo, kinh tế không ổn định. Thời điểm đó, nạo phá thai là một việc trái pháp luật. Chính vì thế, các gia đình nghèo lỡ có con không còn cách nào khác là phải sinh chúng ra, rồi họ tiếp tục đối mặt với bi kịch khác khi không thể đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng chúng.

Trước thực trạng tàn nhẫn của cuộc sống, Miyuki đã nghĩ ra một cách mà bà ta xem là vô cùng hoàn mỹ, vừa cứu rỗi được cho đứa trẻ không phải sống một cuộc đời khổ sở mà ngay cả cha mẹ chúng cũng không phải mang gánh nặng suốt cuộc đời. Cách thức của bà ta chính là giết đứa trẻ ngay sau khi chào đời bằng cách bỏ đói cho đến khi chúng chết đi rồi đem giấu xác rải rác khắp thành phố. Điều kinh khủng hơn là rất nhiều phụ huynh của những đứa trẻ kia cũng tự nguyện nhờ vả đến Miyuki để bà ta giúp giải quyết “gánh nặng” bằng một cách tàn độc đến không thể ngờ.

Trục lợi từ tội ác khó dung tha

Để hợp thức hóa cho việc làm của mình, Miyuki đã rủ thêm chồng, đồng thời tuyển một bác sĩ khác là Shiro Nakayama để làm giả mạo giấy chứng tử của những đứa bé. Sau một thời gian, Miyuki bắt đầu nghĩ ra cách vòi tiền từ những cặp bố mẹ muốn bỏ con của mình với lý do là chi phí này còn rẻ hơn rất nhiều so với việc phải nuôi một đứa trẻ thành người.

Việc trục lợi trên thân thể của trẻ sơ sinh vô tội đã mang về cho vợ chồng Miyuki một khoản thu khổng lồ. Rất nhiều y tá làm việc tại bệnh viện phụ sản Kotobuki không thể chấp nhận cách làm khủng khiếp của Miyuki nên đã xin nghỉ việc. Dù cho việc làm dã man của Miyuki được thực hiện bán công khai nhưng quan chức tại Shinjuku, vì lý do nào đó vẫn nhắm mắt làm ngơ, xem như chưa biết chuyện gì cả.

Sau khi việc làm tày trời của Miyuki và đồng bọn bị phanh phui, cảnh sát tiếp tục tìm được khoảng 40 hài cốt của trẻ sơ sinh tại nhà của một người hộ tang và 30 bộ hài cốt khác được tìm thấy trong một ngôi đền.

Ngoài ra, rất nhiều bộ hài cốt trẻ sơ sinh cũng được tìm thấy rải rác khắp thành phố trong khoảng thời gian dài sau khi vụ án xảy ra nên cho đến nay, cảnh sát cũng không thể xác định nổi số lượng nạn nhân chính xác của bà đỡ ác quỷ Miyuki là bao nhiêu. Chỉ biết rằng bà ta đã giết 169 đứa bé sơ sinh còn đỏ hỏn.

Trong phiên xét xử diễn ra tại tòa án quận Tokyo, Miyuki bị kết án ngộ sát với 8 năm tù giam, tên Takeshi và Shiro chịu án 4 năm tù giam. Đến 1952, vợ chồng bọn chúng kháng án thành công, cuối cùng được giảm án xuống, Miyuki chỉ còn 4 năm tù, Takeshi chỉ còn 2 năm tù.

Trên thực tế, cơ quan điều tra không thể làm rõ được động cơ phía sau của bà đỡ ác quỷ Miyuki. Bà ta chỉ hoàn toàn vì tiền hay muốn giết hại các em bé bởi 2 vợ chồng không có con, hoặc chỉ đơn giản là bà ta muốn ra tay sát hại những sinh mạng yếu ớt không có khả năng kháng cự.

Vụ giết người hàng loạt dã man của vợ chồng Miyuki được xem là nguyên nhân làm cho Chính phủ Nhật phải xem xét lại việc hợp pháp hóa phá thai vì nhiều người cho rằng, sở dĩ Miyuki có cơ hội thực hiện tội ác và trục lợi được là do việc mang thai ngoài ý muốn tăng đột biến nhưng không có giải pháp nào khác để giải quyết. Ngày 13/7/1948, Luật bảo vệ sơ sinh được ban hành.

Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật đã thông qua hệ thống kiểm tra quốc gia dành cho các nhân viên hộ sinh. Ngày 24/6/1949, luật phá thai vì lý do kinh tế cũng được Chính phủ Nhật hợp pháp hóa theo Luật bảo vệ ưu sinh.
 

hoahongden12

Active Member

"Tôi đã chứng kiến một vụ giết người rất dã man"- David Smit, 17 tuổi đã khai như vậy với cảnh sát sau khi chứng kiến cảnh chị dâu của mình - Myra Hindley cùng bạn trai - Ian Brady giết người không ghê tay ngay tại phòng khách nhà họ.

Sau khi ra tay giết người, Ian Brady và Myra Hindkey cảm thấy rất vui vẻ. Họ uống trà với David và kể về những vụ giết người đó như đang kể một câu chuyện hình sự.

Đêm kinh hoàng

Giám đốc sở cảnh sát Talbot bất ngờ nhận được cuộc điện thoại khẩn từ thám tử Wills ngay trong kỳ nghỉ của mình. Wills thông báo có một vụ án quan trọng cần ý kiến chỉ đạo của Talbot.

Ngồi trong phòng chờ của sở cảnh sát Hyde là David Smith, 17 tuổi và cô vợ trẻ của anh. Họ đã gọi ngay cho cảnh sát vào sáng sớm ngày hôm sau khi David trở về nhà và kể câu chuyện “kinh dị” cho vợ mình nghe.

Giám đốc sở cảnh sát Hyde kết thúc ngay kỳ nghỉ của mình và bắt tay vào vụ án này, một trong những vụ án hình sự khét tiếng của nước Anh. Hôm đó là ngày 7/10/1965.

Talbot có mặt tại sở cảnh sát để gặp vợ chồng David. Ông chăm chú nghe những lời khai của nhân chứng.

Theo lời khai của David, đêm hôm đó, chị dâu của anh - Myra Hindley đến thăm nhà anh. David sống cùng vợ và mẹ vợ trong một căn nhà mới. Myda nói với David rằng cô sợ đi về nhà một mình trong đêm tối nên David đã đồng ý đưa chị mình về.

Khi đến nhà Myda tại số 16 đường Wardle Brook, Manchester, Myda mời David vào thăm nhà, cô sống cùng bạn trai mình là Ian Brady. Cả hai mời David vài ly rượu vang trong phòng ăn.

Khi David còn lại một mình trong phòng ăn, bất chợt anh nghe thấy một tiếng hét lớn. Tiếng của Myda gọi anh. David chạy vội ra phòng khách, cảnh tượng đầu tiên anh thấy là Myda đang túm chặt tay một người đàn ông trông dáng vẻ nhỏ con. Thoạt đầu David nghĩ đó là một con búp bê vải. Người đàn ông đó nằm sấp dưới sàn. Hai tay bị túm ngược ra phía sau. Ian Brady tay cầm một chiếc rìu, chân dạng ra đứng ngay trên người đàn ông đó.

Người đàn ông rên rỉ xin tha. Ian nhấc cao chiếc rìu trong tay và lạnh lùng phang một nhát mạnh vào đầu người đàn ông đó. Thêm một nhát thứ hai để chấm dứt tiếng rên rỉ. Tiếng rên ngừng hẳn. Trong đêm, David nghe thấy cả tiếng máu đang chảy ra không ngừng.

Sau đó Ian lấy một tấm bìa dày che phần trên của nạn nhân rồi thì thầm với Myda: “cuối cùng đã giải quyết được tên này.”

Myda rời khỏi phòng khách đi pha trà. Họ cười nói với David như chưa có chuyện gì xảy ra. Họ kể cho David nghe chuyện Ian đã từng giết một vài người trên bãi hoang gần nhà, thậm chí họ gặp cả cảnh sát khi đang cố chôn một cái xác tại bãi hoang Saddleworth.

David nghĩ mình đang nghe một câu chuyện ảo tưởng, nhưng nghĩ đến những gì mình vừa chứng kiến, anh bắt đầu lo cho tính mạng của mình nếu còn ở trong ngôi nhà này. Điều tốt nhất bây giờ David nghĩ mình nên làm lúc này là giữ bình tĩnh và hưởng ứng câu chuyện của họ.

Đã quá khuya, David rời khỏi ngôi nhà sau khi hứa sẽ quay lại vào sáng mai để giúp Ian và Myda thủ tiêu cái xác. Cảm thấy như mình như vừa thoát khỏi địa ngục, David vội vàng lao về nhà, kể câu chuyện cho Maureen - vợ mình nghe. Cả hai quyết định tìm đến cảnh sát ngay sáng hôm sau.

Đôi tình nhân độc ác

Sau khi nghe xong câu chuyện, Talbot và thám tử Carr vội vã tới ngôi nhà tại số 16 đường Wardle Brook cùng với hơn 20 cảnh sát nữa.

Khám xét ngôi nhà của Myda, cảnh sát phát hiện xác một người đàn ông được bọc một chiếc chăn màu xám tại phòng ngủ. Một chiếc rìu dính máu cũng được tìm thấy trong căn phòng đó.

Ian Brady bị bắt ngay tại chỗ. Nạn nhân là Edward Evans, 17 tuổi.

Tại sở cảnh sát, Ian Brady khai với cảnh sát rằng, tối hôm đó đã xảy ra một cuộc tranh luận tại nhà hắn giữa hắn, David Smith và Edward Evans. Edward đã không kiềm chế được mình nên xô xát với hắn và David. Tiện có chiếc rìu đặt ngay trong phòng, Ivan đã cầm lên tự vệ và vô tình giết chết Edward. Myda không hề liên quan đế vụ việc này.

Khi được hỏi, Myda cũng đồng ý với cậu chuyện của Ian, cô còn nói thêm mình đã sợ hãi như thế nào khi chứng kiến vụ việc.

4 ngày sau đó, cảnh sát tìm thất một vài tờ giấy được kẹp thành tập trong xe của Myda có nhắc đến việc hai người lên kế hoạch thực hiện các vụ giết người. Myda bị cảnh sát bắt để điều tra.

Theo lời khai của David cùng với những bằng chứng không thể chối cãi được tìm thấy tại nhà, Ian Brady và Myra Hindley đã bị bắt để điều tra.

Cuộc điều tra sẽ dừng lại ở cái chết của Edward nếu như Ian đã từng khoe khoang với David về vụ thủ tiêu xác người trên bãi hoang Saddleworth.

Pat Hodge, 20 tuổi, sống gần nhà Myra cho biết, cô cùng Ian và Myra hay đến những khu bãi hoang vào dịp cuối tuần. Trong nhà của Myra có rất nhiều những bức ảnh chụp ở những khu bãi hoang.

Khi xác định được vị trí mà có thể Ian và Myra thủ tiêu xác nạn nhân, cảnh sát bắt đầu đào bới để tìm kiếm bằng chứng. Cảnh sát nghĩ rằng biết đâu họ lại tìm thấy xác của 4 đứa trẻ đã từng biến mất một cách bí ẩn trong khu vực khi đào bới những khu bãi hoang. Và họ đã đúng.

Ngày 10/10/1965, xác cô bé Lesley Anne Downey, 10 tuổi được tìm thấy. Lesley được gia đình thông báo mất tích ngày 26/12/1964.

Mười một ngày sau, xác cậu bé 12 tuổi - John Kibride được tìm thấy. John biến mất không một dấu tích để lại vào ngày 11/11/1963.

Tính cho tới năm 1965, trong lịch sử tội phạm nước Anh, lần đầu tiên một người phụ nữ có tham gia vào những vụ giết người hàng loạt như Myra trong vụ án này. Người dân nước Anh không thể hiểu được tại sao một người phụ nữ lại có thể tham gia vào tội ác khủng khiếp như vậy. Đó là một việc làm không thể tha thứ được đối với họ.
 

hoahongden12

Active Member

Điều gì đã đẩy một cặp tình nhân trẻ như Ian và Myra đến tận cùng tội ác, lạm dụng tình dục và giết hại trẻ em như vậy?

Lý lịch về Myra

Sinh ngày 23/7/1942 tại Gorton, một khu công nghiệp nổi tiếng ở Manchester, Myra là con đầu của vợ chồng Nellie và Bob Hindley. Bob Hindley đang phục vụ trong quân đội khi Nellie sinh Myra. Myra lớn lên bên bà ngoại của mình là Ellen Maybury.

Khi rời khỏi quân đội, Bob mua một căn nhà riêng gần với nhà mẹ vợ của mình. Ông gặp khó khắn với cuộc sống “dân sự” và không biết nên bắt đầu kiếm sống bằng nghề gì. Khi đứa con thứ hai sinh ra, Bob và Hellie đều quá bận rộn với việc kiếm sống, Myra lại được gửi về với bà ngoại.

Myra được bà ngoại đặc biệt chăm sóc, bà Elllen muốn bù đặp sự thiều thốn tình cảm và sự dạy dỗ của người cha cho Myra. Bob không phải là một người tình cảm, sự vắng mặt của ông trong nhưng năm đầu đời của Myra đã tạo ra cho cô bé một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy được.

Lên 5 tuổi, Myra bắt đầu đi học tại trường tiểu học Peacock. Cô bé tỏ ra già dặn hơn trước tuổi.

Vài năm sau đó, Myra bắt đầu nổi trội và thể hiện khả năng sáng tác thơ của mình. Myra thích thích thể thao và bơi khá giỏi. Nhưng những điều này không khiến Myra hết tự ti, cô luôn bị bạn bè trêu chọc vì cái mũi bất thường của mình.

15 tuổi, Myra kết bạn với Michael Higgins, một cậu bé 13 tuổi, nhút nhát và tính cách như con gái. Myra rất quan tâm tới Michael và bảo vệ cậu như bảo vệ em trai mình.

Một ngày đẹp trời, Michael được tìm thấy trong một bể bơi địa phương. Cậu bé đã chết đuối trước khi được phát hiện. Đó là một điều kinh khủng đối với Myra. Cô đã cho đó là lỗi của mình vì ngày hôm đó cô đã từ chối đi bơi cùng Micheal. Myra trở nên suy sụp.

Myra trở nên trầm cảm và đôi lúc cuồng loạn không kiểm soát được. Cô thường mặc đồ đen, đến nhà thờ vào ban đêm và thắp một ngọn nến cho Michael.

Không lâu sao đó, Myra bỏ học khi kết quả học của cô tại trường rất khá.

Công việc đầu tiên của Myra là nhân viên bàn giấy tại một công ty kỹ thuật điện. Tâm lý của cô đã khá hơn. Myra thường đến những quán bar nhảy nhót, nghe nhạc và bắt đầu hút thuôc. Sự xuất hiện của Myra luôn thu hút mọi người. Cô bắt đầu làm tóc, trang điểm đậm và thay đổi hoàn toàn.

Sinh nhật lần thứ 17, Myra đính hôn với Ronnie Sinclair - một thanh niên làm việc trong nhà máy ép trái cây. Sau một thời gian cặp kè với nhau, Myra bắt đầu nghĩ khác về cuộc sống sau này với Ronnie, cô sợ ràng buộc với Ronnie về cuộc sống gia đình nên đã chủ động hủy bỏ việc đính hôn.

Myra rời tới Luân Đôn để tìm kiếm một cuộc sống mới mẻ hơn. Tháng 1/1961, Myra gặp Ian Brady....

Lý lịch của Iran Brady

Ian Brady sinh ngày 2/1/1938 tại Gorbals, một trong những khu ổ chuột nhiều tệ nạn ở Glasgow vào thời điểm đó. Mẹ Ian là Margerat Peggy - một cô hầu bàn tại một khách sạn bậc trung. Peggy không bao giờ tiết lộ bố của Ian là ai. Thời điểm đó, một bà mẹ đơn thân như Peggy đã phải chịu rất nhiều những điều tiếng từ xã hội.

Năm Ian được 12 tuổi, bà Peggy chuyển tới sống với Patrick Brady. Patrick là chồng hợp pháp của Peggy.

Hồi đi học, Ian được nhận xét là cậu bé thông mình, nhưng khá nhút nhát. Ian không tham gia bất cứ môn thể thao nào và bị bạn bè coi là yếu đuối như con gái.

Lớn hơn một chút, Ian bắt đầu hút thuốc và dính phải những rắc rối với cảnh sát. Từ 13 đến 16 tuổi, Ian đã bị bắt 3 lần về tội trộm cắp.

Những năm tháng sau này của Ian cũng gắn liền với những lần bị bắt như vậy.

Sau nhiều năm phiêu bạt khắp các vùng để kiếm sống, năm 1959, Ian bắt đầu làm nhân viên kinh doanh cổ phiếu tại một công ty nhỏ. Hơn một năm sau đó, công ty có một cô thư ký mới chuyển đến. Đó chính là Myra Hindley.

Ian đã thu hút Myra ngay từ lần đầu gặp gỡ. Myra cảm thấy được sự khác biệt với những người đàn ông khác ở người lạnh lùng như Ian, Myra quyết tâm theo đuổi bằng được người đàn ông này.

Sau một thời gian dài lên kế hoạch theo đuổi Ian, Myra đã thành công. Ian chính thức trở thành bạn trai của cô. Myra hoàn toàn chìm đắm trong tình yêu đó và luôn cố gắng làm hài lòng bạn trai. Myra thay đổi cách ăn mặc theo phong cách Đức mà Ian muốn, đồng ý cho hắn chụp những bức ảnh nhạy cảm.

Gia đình, bạn bè là người thấy được rõ nhất sự thay đổi của Myra.

Tại nơi làm việc, Myra là người hay cáu kỉnh, độc đoán và thích ra lệnh. Em gái cô - Maureen sau này khi ra tòa làm chứng đã cho biết: “Sau khi gặp Ian, Myra không còn sống cuộc sống bình thường nữa. Chị tôi trở nên bí hiểm hơn, và thậm chí đã tuyên bố ghét trẻ em và muốn giết chúng.”

Đầu năm 1963, Ian lên kế hoạch cho việc cướp ngân hàng. Hắn cần Myra tham gia phi vụ này. Myra sẽ làm lái xe cho hắn. Ngay lập tức, Myra bắt đầu học lái xe, tham gia các câu lạc bộ đua xe và mua súng.

Kế hoạch sau đó không được thực hiện, nhưng Ian đã thực hiện được mục đích điều khiển Myra của mình.

Đêm 12/7/1963, Ian Brady và Myra Hindley đã ra tay với nạn nhân đầu tiên của chúng là Pauline Reade, 16 tuổi.

Hôm Pauline bị mất tích, người nhà cô bé thông báo Pauline đến một câu lạc bộ nhảy. Pauline đã lên kế hoạch đến đây cùng với 3 người bạn của mình là Linda, Barbara và Pat. Nhưng vào phút cuối cả ba đã hủy cuộc hẹn, Pauline quyết định đến câu lạc bộ một mình.

8h tối, Pauline diện một bộ váy màu hồng và rời khỏi nhà. Bạn bè Pauline đợi cô ở câu lạc bộ hôm đó đã không thấy cô xuất hiện.

Nửa đêm, khi không thấy con gái trở về nhà. Cha mẹ Pauline, Joan và Amos đã vội vã ra ngoài tìm kiến, họ cũng đã thông báo cho cảnh sát, nhưng không có bất cứ dấu vết nào được tìm thấy.

Đứa trẻ thứ hai biến mất vào ngày 11/11/1963

Jonh Kibride, 12 tuổi, cùng bạn của mình là John Ryan đến rạp chiếu phim vào buổi chiều. Bộ phim kết thúc lúc 5h, cả hai cùng nhau ra bến xe bus đợi xe. Đây là lần cuối cùng Ryan và mọi người trông thấy Kibride. Cha mẹ Kibride đã thông báo với cảnh sát để tìm kiếm nhưng cũng không có manh mối nào được để lại.

Sáu tháng sau đó, ngày 16/6/1964, một đứa trẻ khác lại mất tích.

Hôm đó vào thứ 3, cậu bé mười 13 tuổi - Keith Bennett sẽ đến nhà bà ngoại như thường lệ. Cậu bé mất tích trên đường đến nhà bà.

Nửa năm sau, ngày 26/12/1964, đứa trẻ thứ 4 được gia đình thông báo mất tích

Lesley Ann Downey, 10 tuổi. Lesley đã đi cùng bạn bè đến hội chợ địa phương. Chiều muộn hôm đó, tất cả trở về nhà trừ Lesley. Một cậu bạn nhìn thấy Lesley đứng một mình tại bãi để xe.

Khắp mọi nơi trong khu thị trấn, ảnh thông báo mất tích được dán. Cảnh sát đã cố gắng tìm kiếm nhưng đều không tìm thấy dấu vết nào. Không ai biết chuyện gì đã xảy ra.

Hơn 10 tháng sau đó, sự thật kinh khủng mới bắt đầu được phát hiện.

Xác cô bé Lesley trong tình trạng không mảnh vải trên người được tìm thấy trong một hố nông trên bãi hoang. Quần áo của cô bé vứt dưới chân.

Sau vụ khám xét nhà Myra và Ian tại số 16 đường Wardle Brook ngày 15/10, cảnh sát đã cố gắng kết nối những vụ việc với nhau.

Trong số những bức ảnh nóng của Myra mà cảnh sát tìm thấy, có lẫn cả những bức ảnh chụp Lesley Ann Downey trong tình trạng khỏa thân, bị trói và bị bịt miệng được chụp tại phòng ngủ của Myra.

Một cuộn băng ghi âm cũng được tìm thấy. Nó ghi lại tiếng la hét cầu xin được sống của một cô gái trẻ, hai giọng nói khác của một nam, một nữ đang đe dọa nạn nhân. Cảnh sát xác minh được đó là giọng của Ian và Myra.

Người mẹ tội nghiệp của Lesley đã phải lắng nghe cuốn băng để xác nhận liệu có phải tiếng kêu cứu của con gái mình. Ngay khi giọng nói cất lên, mẹ Lesley đã nhận ra giọng con gái mình rồi bật khóc. Chứng cứ quá rõ ràng, nhưng Ian và Myra vẫn không nhận tội giết Lesley.

Giống như trong vụ án của Edward Evans, cặp đôi này đã cố gắng lôi David Smith vào vụ giết Lesley. Chúng khai chính David đã mang Lesley đến nhà chúng để thuyết phục cô bé chụp những bức ảnh nhạy cảm đó. Theo lời khai của Ian, Lesley đã rời khỏi nhà chúng mà không hề hấn gì, có thể David đã giết hại cô bé sau đó.

Cảnh sát cũng tìm thấy cái tên “John Kibride” trong một văn bản ở máy tính xách tay của Ian, một bức ảnh Myra chụp bên cạnh cái hố trôn xác John trên bãi hoang.

Vào hôm John Kibride mất tích, Myra đã thuê một chiếc xe hơi và cuối ngày trả lại nó trong tình trạng dính đầy bùn đất. Theo chị gái của Myra cho biết, Ian và Myra tới khu chợ Ashton hàng tuần.

Bất chấp mọi nỗ lực, cảnh sát vẫn không thể tìm thấy thi thể của hai đứa trẻ còn lại để kết luận Ian và Myra có liên quan đến việc chúng biến mất không. Họ buộc phải chấp nhận việc khởi tố Ian và Myra cho tội danh giết 3 người: Edward Evans, Lesley Ann Downey và John Kilbride.

Ngày 27/4/1966, Ian Mrady và Myra Hindley bị đưa ra xét xử công khai tại Chester Assizes.
 

hoahongden12

Active Member

Phiên tòa xét xử Ian Brady và Myra Hindley được mở công khai ngày 27/4/1966.

Suốt phiên tòa, cả hai không thừa nhận gây nên cái chết của tất cả các nạn nhân mà cảnh sát nghi ngờ. Chúng cố gắng đỗ lỗi cho David Smith liên quan đến những vụ giết người đó.

Ian và Myra lạnh lùng khi nghe bất cứ bằng chứng. Chúng không hề có bất cứ thái độ ăn năn nào với những tội ác mà mình gây nên. Gia đình của các nạn nhân và những người có mặt tại phiên tòa đều cảm thấy tức giận vì điều đó.

Phiên tòa kết thúc với lời kết tội Ian Brady là hung thủ gây nên cái chết của Lesley Ann Downey, John Kilbride, và Edward Evans. Myra bị kết tội giết Lesley Ann Downey, Edward Evans và bao che cho Ian trong vụ giết John Kilbride.

Một điều luật được ban hành năm 1965 đã xóa án tử hình tại Chester Assizes. Điều luật này có hiệu lực 4 tháng trước khi cả hai bị đem ra xét xử. Điều này có nghĩa Ian và Myra sẽ thoát án tử hình.

Tòa tuyên án cao nhất đối với Ian và Myra, chung thân không có khả năng phóng thích.

Thời gian đầu trong tù, Ian và Myra thường xuyên viết thư cho nhau, thậm chí cả hai còn có ý định sẽ kết hôn trong thời gian này. Ý định này sau đó đã không được thực hiện khi Ian và Myra bắt đầu có mâu thuẫn.

Ian chấp nhận bản án của mình và bắt đầu an phận với cuộc sống trong tù, hắn nghĩ mình không bao giờ có thể rời khỏi được đây. Nhưng Myra thì không, cô luôn khẳng định mình vô tội và một mực đổ lỗi cho David Smith, theo Myra, David cũng phải chịu trách nhiệm cho những tội ác đó.

Ngay sau khi tòa tuyên án, Myra đã bắt đầu việc kháng cáo. Tòa phúc thẩm đã nhận đơn kháng cáo và vẫn tuyên y án trung thân với Myra.

Năm 1970, Myra cắt đứt mọi liên lạc với Ian. Hôn ước của họ bị hủy. Myra không có ý định sẽ gặp lại Ian.

Bảy năm sau đó, hơn 10 năm ngồi tù, Myra bắt đầu lên kế hoạch cho chiến dịch đòi lại tự do của mình. Myra tin rằng chắc chắn sẽ có ngày mình được tự do.

Trong vòng hai năm tiếp theo, Myra đã viết một đơn kháng án với hơn 20.000 từ, trong đó Myra “đóng vai” một nạn nhân vô tội, cô bị lôi kéo bởi Ian. Theo lời Myra, Ian chính là hung thủ của tất cả các vụ giết người, và đồng phạm của Ian là David Smith.

Trước khi hồ sơ kháng cáo của Myra được hoàn thành, năm 1978, Ian đã tuyên bố mình không hề có ý định kháng cáo. Ian thừa nhận tội lỗi của mình và chấp nhận thi hành bản án. Cái tên Ian Brady không còn được nhắc đến.

Toàn bộ hồ sơ kháng cáo được gửi tới Bộ Nội vụ để xét duyệt lệnh tạm tha. Bộ trưởng Merlyn Rees đã thành lập một ủy ban riêng để xem xét trường hợp này của Myra.

Đơn kháng cáo của Myra bị trì hoãn thêm ba năm bởi sự thay đổi Bộ trưởng.

Năm 1985, đơn kháng cáo của Myra chính thức bị bác bỏ. Bộ tưởng bộ Nội vụ quyết định Myra không được nộp đơn kháng cáo và đơn xin được tạm tha trong vòng ít nhất 5 năm tới. Myra sẽ phải chịu án ít nhất là 15 năm cho tội danh của mình.

Năm 1986, Tòa án Nhân quyền của châu Âu tuyên bố việc xin được phóng thích của Myra Hindley là không thể. Lời khai Myra không liên quan đến các vụ giết người là hoàn toàn không hợp lý.

Cuối năm 1986, mẹ của Keith Bennett đã viết một bức thư cho Myra, bà tha thiết mong được nghe những gì đã xảy ra với con trai mình. Bức thư đã khiến Myra phải khóc.

Điều này có lẽ đã tác động mạnh mẽ tới Myra. Đầu năm 1987, Myra Hindley công khai thú nhận mọi tội lỗi của mình. Myra thừa nhận có tham gia vào 5 vụ giết người, bao gồm cả việc giết Pauline Reade và Keith Bennett. Tuy nhiên, Myra vẫn không thừa nhận mình là hung thủ trực tiếp.

Về phía Ian Brady, hắn từ chối cung cập thêm bất kỳ thông tin nào về vụ án.

Cảnh sát tin rằng xác của Pauline Reade và Keith Bennett được chôn đâu đó trên bãi hoang. Ian và Myra không khai nhận thông tin này. Ngày 1/7/1987, một phần xác của Pauline được tìm thấy. Cảnh sát xác định đó chính là xác của Pauline bởi bộ váy màu hồng nạn nhân mặc.

Xác của Pauline đã được tìm thấy, vẫn trên khu bãi hoang nơi Ian và Myra thủ tiêu các nạn nhân khác.

Theo lời khai của Myra sau này, cô đã lừa Pauline đến khu bãi hoang Saddleworth khi hứa hẹn với Pauline sẽ cho cô bé rất nhiều những đĩa hát nếu cô bé giúp mình tìm chiếc găng tay làm rơi.

Khi vào khu bãi hoang, Ian bất ngờ xuất hiện trên chiếc xe máy của mình, hắn cùng Pauline tìm găng tay cho Myra, Myra ngồi đợi trong ô tô. Ian đã hãm hiếp Pauline và dùng dao cứa ngang cổ cô bé trước khi quạy lại xe đề nghị Myra giúp hắn chôn cái xác.

Xác của cậu bé Keith Bennett không bao giờ được tìm thấy mặc dù trong lời thú tội của mình, Myra có đề cập đến cái chết của Keith.

Myra đã lừa Keith vào trong xe của mình sau đó mang đến khu bãi hoang Saddleworth, Ian đã kéo Keith xuống một rãnh nước gần đó và hãm hiếp Keith. Sau khi bóp cổ cậu bé cho đến chết, Ian chôn cậu bé ở gần đó.

Trong vụ giết Lesley Downey, Myra khai rằng cô không có mặt chứng kiến cảnh Lesley chết. Khi Ian hãm hiếp và bóp cổ Lesley, Myra đang trong phòng tắm. Nhưng theo lời khai của Ian, Myra cũng trực tiếp tham gia vụ này. Cuốn băng ghi âm còn lưu lại giọng Ian và Myra tại thời điểm Lesley bị giết.

Tại thời điểm Myra thú tội, luật sư của cô hi vọng sự hối hận và thành khẩn trong lời khai của Myra có thể giúp cô giảm án đến 10 năm.

Bất chấp quyết định không cho phép Myra nộp đơn xin khoan hồng trong vòng 5 năm năm 1985, đến năm 1986, Myra lại tiếp tục nộp đơn kháng cáo xin được khoan hồng. Điều này khiến dư luận và phía người nhà các nạn nhân vô cùng bức xúc. Phía bộ trưởng Bộ Nội vụ Michael Howard tuyên bố rằng Myra Hindley sẽ không bao giờ được phóng thích. Quyết định này được tuyên bố cho 23 trường hợp đang chịu án chung thân khác, trong đó có Ian Brady.

Năm 1988, trong khi Ian Brady “mòn mỏi” với cuộc sống trong tù, dân chúng Anh vẫn không đồng ý với việc tha thứ cho tội ác của Myra Hindely.

Thật khó có thể tưởng được rằng sẽ có một vị Bộ trưởng nào đó sẽ ký quyết định phóng thích Myra. Tính tới thời điểm này, Myra đã nộp tới 1997 đơn kháng cáo.

Myra vẫn kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi mình chịu án tròn 30 năm để đủ điều kiện phóng thích. Myra hi vọng dân chúng Anh sẽ không gây áp lực lên chính phủ để yêu cầu họ phản đối điều đó.

Myra không biết rằng, bức hình của mình với ánh mắt trừng trừng đã để lại ấn tượng không tốt đối với mọi người. “Cô ấy, ánh mắt ấy là hiện thân của cái ác.”

Tháng 9/1999, Myra bắt đầu có dấu hiệu đau thắt ngực. Kết quả của việc nghiện thuốc lá.

Cuối năm 1999, lúc đó Myra 57 tuổi, đang chịu án tại nhà tù Highpoint ở Suffolk, cô được tạm tha vì tình hình sức khỏe có vấn đề. Myra được chuyển tới bệnh viện West Suffolk để điều trị. Bác sĩ lo ngại Myra có thể bị đột quỵ trong tù. “Cô ấy hút thuốc lá quá nhiều, bị đau thắt ngực và cao huyết áp.”

Nghe tin sức khỏe của Myra không được tốt, bà Winnie Johnson - mẹ của Keith Bennett đã cố gắng liên lạc với Myra với hi vọng được biết thêm về cái chết của con trai mình trước khi đã quá muộn.

Thứ 6 ngày 7/1/2000, tình trạng sức khỏe của Myra rất nghiệm trọng. Myra cần được chuyển tới bệnh viện để điều trị, cần phải phẫu thuật ngay lập tức. Ba ngày sau cuộc phẫu thuật, tình trạng sức khỏe của Myra vẫn rất xấu. Myra yêu cầu gặp luật sư của mình.

Thứ 3 ngày 29/2/200, kênh truyền hình BBC thông báo sẽ phát sóng một bộ phim tài liệu nói về Myra và khoảnh khắc Myra nói muốn được treo cổ tự tử vì những tội ác mà mình gây ra.

Myra có viết một bức thư kể lại cuộc gặp gỡ của mình với Ian Brady, kể về những ngày tháng day dứt của cô. Nội dung bức thư cũng đã được công bố rộng rãi. Phía gia đình nạn nhân phản đối gay gắt chương trình này của đài BBC.

Thứ 2 ngày 23/4/2001, một số phương tiện đưa tin ở nước Anh đưa tin Myra Hindley bị ung thư phổi giai đoạn cuối và cuộc sống chỉ kéo dài được vài tháng.

Myra Hindley chết ngày 15/11/2002 ở tuổi 60.
 

hoahongden12

Active Member

Khi nhắc đến nước Đức thời phát xít, người ta không chỉ nhớ tới cuộc thảm sát chủng tộc do những tên trùm sò phát xít Đức khởi xướng, mà còn cảm thấy bàng hoàng khi có không ít phụ nữ Đức xinh đẹp thời đó đã bị mê hoặc bởi Đế chế thứ ba để trở thành công cụ giết người ghê rợn của chế độ phát xít. Tên tuổi họ cho dù "nổi tiếng", nhưng lại là sự nhơ nhuốc trong lịch sử.

Và một trong những người phụ nữ xinh đẹp đó chính là “nữ bạo chúa” hay “sói cái” Ilse Koch.

Kurt Glass, một nạn nhân sống sót từ trại tập trung Buchenwald, từng có thời gian may mắn được Ilse lôi về phục dịch trong biệt thự riêng của gia đình, nhớ lại: “Ilse là một phụ nữ đẹp, có mái tóc rất dài. Bất cứ tù nhân nào dám “chiêm ngưỡng” mà để mụ chộp được ánh mắt đều có thể phải trả giá đắt bằng chính tính mạng của mình”.

Nhưng, điều làm mọi người không khỏi rùng mình ớn lạnh là việc Ilse sử dụng thuật xăm hình để phân loại tù nhân. Một ngày kia, khi vết xăm đã liền sẹo và lên mầu, Ilse ra lệnh cho tất cả tù nhân cởi hết áo. Những tù nhân có hình xăm lọt vào mắt Ilse sẽ được chọn ra và người ta mãi mãi không bao giờ thấy họ trở về nữa. Trong số đó, thanh thản nhất là những tù nhân được “vinh dự” đem đi bắn. Xấu số hơn là những ai bị tống vào phòng hơi độc bởi trước khi lên thiên đường họ phải quằn quại trong đau đớn. Ilse giết họ để lột da lấy những hình xăm đẹp, đem đi thuộc rồi làm chao đèn, găng tay và bọc sách. Ilse còn có một sở thích quái đản khác là sưu tập đầu lâu người và sấy khô ngón tay cái của các tù nhân sau khi bị giết dùng làm công tắc điện.

Ilse sinh ngày 22/9/1906 tại Dresden (Đức), là con của một đốc công. Cả thời niên thiếu, Ilse sống trong sung sướng và hạnh phúc. Ngã rẽ tội lỗi trong cuộc đời của Ilse bắt đầu từ khi ả gia nhập đảng phát xít của Adolf Hitler (Đảng Công nhân Quốc Xã Đức - NSDAP) năm 1932. Được nhồi nhét mớ lý luận phản động xem người Do Thái, người Xlavơ, người La Mã, người theo chủ nghĩa cộng sản và cả những người Đức đồng tính luyến ái, thiểu năng thần kinh... là kẻ thù lớn nhất của nước Đức, cần loại bỏ, Ilse dần trở thành tay sai đắc lực cho những kẻ bệnh hoạn tư tưởng ở Béclin thời đó: Muốn có sự “thuần khiết chủng tộc của người Đức”.

Năm 1934, Ilse gặp, yêu và hai năm sau thì cưới Karl Otto Koch, Trưởng trại tập trung Buchenwald. Từ vị trí một thư ký quèn ở trại tập trung Sachsenhausen, chuyển sang trại tập trung Buchenwald, dưới sự nâng đỡ của chồng, Ilse nhanh chóng trở thành Giám thị và tới năm 1941 được thăng chức Giám thị chính. Nắm quyền sinh quyền sát trong tay, Ilse thỏa sức tung hoành. Không chỉ tra tấn dã man, cùng với chồng, Ilse còn tìm mọi cách vét nốt những đồng tiền cuối cùng mà những tù nhân trong trại còn giấu được. Năm 1940, hai vợ chồng Ilse đã cho xây một đấu trường thể thao trong nhà, trị giá hơn 250.000 mác mà người ta tin rằng phần lớn có được từ việc “trấn lột” tù nhân.

Năm 1941, Karl chuyển sang làm Trưởng trại tập trung Majdanek. Hai năm sau, cả Karl và Ilse bị đặc vụ Gestapo bắt vì tội biển thủ và giết hại tù nhân. Những cáo buộc của tòa án cho thấy Karl đã moi tiền bất hợp pháp từ tù nhân và ra lệnh giết hai tù nhân để bịt đầu mối. Theo báo cáo về trại tập trung Buchenwald của quân đội Mỹ, Karl bị bệnh giang mai. Nhằm che giấu bí mật đó, Karl đã cho thủ tiêu hai nhân viên y tế của trại tập trung Buchenwald. Đầu năm 1945, Karl bị tòa án quân sự Đức tuyên án tử hình, sau đó bị xử tử vào tháng 4/1945.

Về phần Ilse, sau hơn 2 năm bị tạm giam, cuối cùng, ả được trả tự do vì phía tòa án không đủ chứng cứ kết tội. Sống với gia đình ở thành phố Ludwigsburg một thời gian, tháng 6/1945, Ilse bị nhà chức trách Mỹ bắt và đưa ra xét xử trong một phiên tòa về tội phạm chiến tranh diễn ra năm 1947. Chung thân là mức án ban đầu dành cho Ilse, nhưng sau đó lại được giảm xuống còn 4 năm tù giam vì “không đủ chứng cứ”. Năm 1951, Ilse được trả tự do, nhưng lại bị các cơ quan chức năng Đức (Cộng hòa Liên bang Đức) bắt lại ngay lập tức. Vì những cáo buộc liên quan tới việc sát hại nhiều người Đức vô tội, Ilse nhận mức án chung thân. Ngày 1/9/1967, Ilse treo cổ tự vẫn trong nhà tù ở Bavaria, sau khi hoàn thành bức thư tuyệt mệnh gửi cho con trai, Uwe. Trong bức thư này, Ilse đã viết: “Mẹ không thể làm bất cứ điều gì khác. Chỉ có cái chết mới là sự giải thoát”.
 

hoahongden12

Active Member

Irma Grese là con của Alfred Grese là một công nhân chăn nuôi bò sữa và là một thành viên của Đảng Quốc xã từ năm 1937 với Berta Grese. Irma Grese có bốn anh chị em. Năm 1936, mẹ cô tự tử.

Grese rời trường học vào năm 1938 khi mới chỉ 14 tuổi, do không có năng khiếu học tập, bị bắt nạt bởi các bạn cùng lớp, và một mối bận tâm cuồng tín với Liên đoàn các cô gái Đức (Bund Deutscher madel), một tổ chức phong trào nữ thanh niên của Đức Quốc xã, nhưng không được sự chấp thuận của cha cô. Trong số những công việc bình thường khác, cô đã làm việc như một trợ lý y tá trong viện điều dưỡng của SS trong 2 năm và đã cố gắng tìm học nghề y tá nhưng không thành công, sau đó làm việc như một người trợ giúp về sữa.

Trích dẫn dưới đây là bằng chứng về cuộc sống ban đầu của Irma Grese được kiểm tra trực tiếp về gia cảnh:

"Tôi sinh ra vào ngày 7 tháng 10 năm 1923. Năm 1938, tôi rời trường tiểu học và làm việc trong sáu tháng tại một trang trại nông nghiệp, sau đó tôi đã làm việc trong một cửa hàng ở Luchen trong sáu tháng tiếp theo. Khi tôi 15 tuổi tôi đã tới một bệnh viện ở Hohenluchen, nơi mà tôi đã ở đó trong hai năm. Tôi cố gắng để trở thành một y tá nhưng Sở Giao dịch Lao động đã không cho phép điều đó và đưa tôi đến làm việc trong một nhà máy sữa ở Fürstenburg. Vào tháng 7 năm 1942, tôi đã cố gắng một lần nữa để trở thành một y tá, nhưng Sở Giao dịch lao động gửi tôi đến Trại tập trung Ravensbruck, mặc dù tôi đã phản đối diều này. Tôi ở đó cho đến tháng 3 năm 1943, khi tôi đến trại Birkenau ở Auschwitz. Tôi vẫn ở Auschwitz cho đến tháng 1 năm 1945."

Hoàn thành khóa đào tạo của mình vào tháng 3 năm 1943, Grese được chuyển đến Auschwitz như là một nữ bảo vệ, và vào cuối năm đó cô đã là giám sát cao cấp, người phụ nữ xếp hạng cao thứ hai tại trại, phụ trách khoảng 30.000 nữ tù nhân Do Thái được chính quyền phát xít Đức trao tặng huân chương khi mới 19 tuổi. Cũng từ đó, cô nàng vốn học nghề y tá, nhưng lại chết mê chết mệt vai trò nữ quản giáo này càng muốn thể hiện mình.

Vào tháng 1 năm 1945, Grese có quãng thời gian ngắn ngủi trở lại Ravensbruck trước khi kết thúc sự nghiệp của mình ở Bergen-Belsen như một quản lý tù nhân tại đây từ tháng 3 đến tháng 4. Cô đã bị bắt bởi người Anh vào ngày 17 tháng 4 năm 1945, cùng với các nhân viên SS khác, những người đã không bỏ chạy.

Khi bị tòa án quân sự của quân Đồng minh tuyên án tử hình, thị vừa bước sang tuổi 22. Nhưng điều đó không có nghĩa Irma tỏ ra kém chị kém anh trong việc hành xác các nữ tù nhân trong trại tập trung phát xít Đức. Thậm chí, Irma còn tỏ ra "xuất chúng" trong việc tìm ra những cách thức ngược đãi, dày vò tai quái đối với các nữ tù nhân, đặc biệt là những nữ tù nhân Do Thái.

Ngược với vẻ ngoài xinh đẹp, Irma nói năng thô lỗ, tính tình phóng đãng. Mặc dù vậy, Irma lại rất ghen. Phát hiện chồng, bác sĩ đồ tể Josef Mengele, không chung thủy, thậm chí còn tư thông với những phụ nữ Do Thái xinh đẹp ở trong trại tập trung, Irma đã nổi đóa, cương quyết đoạn tình với Josef.

Cơn thịnh nộ của nữ đồ tể được trút hết lên đầu nữ tù nhân, đặc biệt với những phụ nữ có chút nhan sắc. Vì thế, các nữ tù nhân trong trại tập trung Birkenan thường rỉ tai nhau câu nói: "Mỹ nhân gặp Irma chỉ còn cách xuất sinh nhập tử".

Theo thống kê không đầy đủ, dưới sự đày đọa của Irma, hàng ngàn phụ nữ trong các trại tập trung Ravensbruck, Auschwitz, Belsen và Birkenan, nơi Irma từng làm quản giáo, đã vĩnh viễn không có ngày về.

Ngược lại với Irma, Josef rất háo sắc và nhờ đó, nhiều nữ tù nhân xinh đẹp sau khi được Josef để mắt tới đã thoát khỏi phòng hơi độc, tạm thời "chia tay" tử thần. Chuyện kể rằng vào một buổi chiều mùa thu năm 1943, chuyến tàu chở hơn 3.000 phụ nữ Do Thái từ Hà Lan đến trại Birkenan. Vẫn như thường lệ, Josef đứng ở cửa làm nhiệm vụ phân loại tù nhân. Đột nhiên, một nữ tù nhân tóc dài, da trắng như tuyết, thân hình tuyệt đẹp chạy đến quỳ xuống, ôm giầy Josef, thổn thức: "Cứu lấy em, ngài bác sĩ nhân từ. Em chỉ mới 23 tuổi". Josef cúi xuống. Tim hắn đập mạnh. Hồn hắn hoàn toàn bị hút.

Nữ tù nhân ấy có đôi mắt to, tròn, sâu thăm thẳm và trông còn trẻ hơn nhiều so với tuổi 23. Đôi gò bồng đảo của cô căng đầy, nhấp nhô cùng hơi thở làm Josef cảm thấy phừng phừng. Ra vẻ anh hùng cứu mỹ nhân, Josef nghiêm trang: "Hãy yên tâm, cô gái. Tôi đảm bảo sẽ dành cho cô một công việc như ý". "Thật vậy ư, ngài bác sĩ?", nữ tù nhân xinh đẹp tỏ vẻ nghi ngờ. "Đương nhiên, ta đâu có nói đùa. Hãy đợi ta làm nốt công việc rồi sẽ sắp xếp cho nàng", nói xong, Josef bảo nữ tù nhân nọ đứng ra sau mình.

Đứng cách đó hơn chục mét, Irma đã nghe và nhìn thấy tất cả. Ả lao đến: "Giỏi cho con miêu nữ này! Đến cả ngài bác sĩ đây, nhà ngươi cũng định quyến rũ. Hôm nay, bà sẽ cho mày biết thế nào là sự 'thoải mái'!" Josef vội vàng phân bua: "Lẽ nào cô ấy đã đắc tội với em? Hãy để anh giam cô ta lại". "Hừ, anh có thể trừng phạt cô ta? Chỉ có quỷ mới tin điều đó". Josef nóng mặt: "Em ăn nói phải biết kiềm chế chứ. Anh và em đều là những người có chức phận lại còn bao nhiêu tù nhân đang ở trước mặt...”. Irma vẫn chẳng nể mặt chồng, xông tới dùng roi da vút thẳng vào mặt nữ tù nhân nọ. Chẳng mấy chốc khuôn mặt xinh đẹp của nữ tù nhân trở nên vằn ngang vệt dọc, trông như quả cà tím, nát bươm, máu nhỏ thành dòng. Vẫn chưa dừng lại, Irma còn ra lệnh cho hai nhân viên dưới quyền xé áo nữ tù nhân, dùng roi da quất không thương tiếc vào ngực. Đến khi bộ ngực căng tròn kia không còn hình dạng nữa, Irma lại ra lệnh mang gương lại cho nữ tù nhân soi. Dã man hơn, Irma còn bắt nữ tù nhân nằm xuống, dạng hai chân ra, dùng báng súng đánh thẳng vào vùng kín tới khi không thấy động đậy mới dừng.

Một "tuyệt kĩ" tra tấn khác mà Irma thường áp dụng là dùng roi da buộc vào đầu nhũ hoa của nữ tù nhân, sau đó bất ngờ dùng lực giật đứt. Irma cũng rất ghét những phụ nữ Do Thái mang thai, vì lo rằng họ sẽ sinh ra những bé gái xinh hơn mình. Phát hiện bất cứ phụ nữ Do Thái nào bụng lùm lùm bất thường là Irma ra lệnh tống họ vào phòng hơi độc để trừ hậu họa hoặc tra tấn đến lúc nào cái thai bật ra mới thôi.

Sau khi chính quyền phát xít Đức sụp đổ, Irma đã bị bắt và đưa ra xét xử tại tòa án binh. Cuối cùng, nữ đồ tể khét tiếng này đã phải trả giá cho những tội ác dã man gây ra.
 

hoahongden12

Active Member

Nữ y tá Beverley Allitt - kẻ giết người hàng loạt ở Anh với biệt danh "Thần chết". Tòa án kết tội ả giết 4 đứa trẻ, âm mưu sát hại 3 trẻ em khác và gây thương tích thêm 6 đứa bé nữa.

Tội ác của Allitt diễn ra trong vòng 59 ngày (từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1991) tại bệnh viện Grantham và Kesteven ở Lincolnshire, miền trung nước Anh nơi có dân số gần 100.000 người, một phần ba trong số đó là trẻ em. Mỗi năm có hơn 2.000 bé chào đời và phần lớn được sinh ra ở bệnh viện Kesteven.

Mặc dù, Allitt liên tục thi trượt kỳ thi y tá, nhưng cô ta vẫn được nhận vào bệnh viện Grantham amp; Kesteven với hợp đồng tạm thời sáu tháng do nơi này thiếu nhân viên.

Trong hai ngày nhận việc tại khu nhi thuộc BV Grantham amp; Kesteven, nữ y tá 23 tuổi này thể hiện mình rất nhiệt tình với công việc. Không ai hay biết về quá khứ của cô ta hay cân nhắc kĩ khi quyết định để Allitt tiếp cận những đứa trẻ mong manh đó.

Cô ta dường như rất chú ý đến các bệnh nhi mặc dù có điều kỳ quặc là cô ta không bao giờ bế các bệnh nhi đang kêu khóc và cũng không biểu hiện cảm xúc gì khi các bé qua đời.

Vào ngày 21/2/1991, bé Liam Taylor mới 7 tuần tuổi được bố mẹ đưa vào viện do bị sung huyết phổi. Khi gặp bố mẹ Liam, Allitt trấn an họ rằng cậu bé sẽ được những bàn tay tốt chăm sóc và khuyên họ về nhà nghỉ ngơi. Khi họ quay lại viện, Allitt thông báo tình trạng của Liam đã nặng hơn, bé đã được đưa đi cấp cứu và đã hồi phục.

Khi sức khỏe Liam khá hơn, Allitt một lần nữa đảm bảo với bố mẹ bé rằng cô ta sẽ chăm sóc và theo dõi bé cẩn thận. Cô ta thậm chí còn tình nguyện làm thêm giờ vào đêm thứ hai bé Liam nằm viện. Bố mẹ Liam quyết định ở lại viện và ngủ ở một phòng cạnh phòng của cậu bé.

Lúc nửa đêm, Liam lên cơn khó thở nhưng các bác sĩ tại bệnh viện đều cho rằng bé sẽ ổn và để Allitt một mình với cậu bé. Mọi chuyện sau đó diễn biến thực sự tồi tệ. Allitt bảo hai y tá lấy cho cô ta một số thứ.

Khi một nữ y tá quay lại, cô này nhìn thấy Allitt đứng cạnh Liam, mặt trắng bệch như xác chết. Những vết sưng đỏ xuất hiện trên mặt Liam, tim cậu bé đã ngừng đập. Allitt kêu to gọi cấp cứu.

Nữ y tá trực cùng Allitt thực sự bối rối. Nếu Liam ngừng thở, chuông báo động lẽ ra phải kêu lên. Các bác sĩ lao tới làm mọi thứ để Liam thở trở lại nhưng họ đã thất bại. Họ phải dùng máy trợ thở cho cậu bé. Liam tội nghiệp đã bị tổn thương não nghiêm trọng và không còn gì có thể cứu vãn.

Bố mẹ Liam đã phải dằn lòng quyết định bỏ máy trợ thở để bé ra đi. Vốn không có tiền sử bệnh tim nhưng Liam đã bị suy tim một cách khó hiểu.

Beverly Allitt chứng kiến toàn bộ quá trình cấp cứu Liam, không nói một lời rồi lẳng lặng mặc áo khoác và về nhà. Không ai hỏi cô ta điều gì dù cô ta luôn ở bên Liam. Sau đó, Allitt lại đi làm như chưa có chuyện gì xảy ra.

Allitt đã giết người và tin rằng không ai biết đến tội ác ghê tởm của mình. Trong vòng 2 tháng sau đó, Allitt đã tấn công 9 đứa trẻ và 4 trong số đó đã chết.

Tuy nhiên, đối với gia đình các nạn nhân, Allitt lại chẳng khác nào một thiên thần nhân từ, người luôn có mặt khi họ cần. Làm thế nào một người hay quan tâm đến người khác lại có thể điên cuồng phạm tội ác đến vậy? Mọi chuyện bắt đầu trở nên tệ hại hơn.

Ngày 5/3/1991, hai tuần sau khi Liam Taylor qua đời, khu số 4 khoa Nhi lại tiếp nhận một bệnh nhi khác. Timothy Hardwick, 11 tuổi, bị chứng bại não và lên cơn động kinh. Allitt nhanh chóng nhận nhiệm vụ chăm sóc cậu bé. Cô ta khá quan tâm tới Timothy nhưng chỉ vài phút sau khi ở một mình bên cậu bé, cô ta đã lao đi gọi cấp cứu, hô lên rằng tim bệnh nhân ngừng đập.

Bác sĩ vội vàng đến chỗ Timothy, thấy cậu đã tím tái và không thể cứu nổi. Cái chết của Timothy là điều hoàn toàn bất ngờ. Ngay cả sau khi khám nghiệm tử thi, người ta vẫn không thể tìm ra chính xác nguyên nhân tử vong mặc dù theo giấy tờ, nguyên nhân được ghi là do động kinh.

Năm ngày sau, bé Kayley Desmond, hơn 1 tuổi, đã nhập viện do ngực bị sung huyết. Rõ ràng ai cũng thấy bé hồi phục khá trong mấy ngày được Allitt chăm sóc. Nhưng tại đúng cái giường mà Liam qua đời, bé Kayley cũng rơi vào tình trạng tim ngừng đập.

Kayley được hồi sức và chuyển tới một bệnh viện ở Nottingham. Sau khi kiểm tra kỹ càng, bác sĩ ở đây phát hiện ra một vết châm bất thường dưới nách bé. Nhưng tất cả chỉ dừng ở đó, mà không có cuộc điều tra nào.

Tại bệnh viện Grantham amp; Kesteven, chỉ trong 4 ngày đã có thêm 3 bệnh nhi diễn biến bất thường về tình trạng sức khỏe khi đang được Allitt trông coi.

Sau bé Kayley Desmond, lại tới nạn nhân tiếp theo là bé Paul Crampton, 5 tháng tuổi, bé bị viêm phổi và đã khỏi. Nhưng chỉ ngay trước khi xuất viện, bé bị sốc insulin và ba lần gần như rơi vào tình trạng hôn mê. Mỗi lần cứu bé thoát cơn nguy hiểm, các bác sĩ lại không hiểu tại sau lượng đường huyết của bé tiếp tục bị hạ.

Ngay sau đó, Paul được chuyển lên xe cấp cứu đến Nottingham cùng Allitt và một lần nữa, bé lại bị sốc insulin. Nhưng Paul may mắn thoát chết dù đã chạm vào cánh cửa của tử thần.

Tương tự bé Paul, bé Bradley Gibson, 5 tuổi, sau khi ở cùng Allitt cũng có lượng insulin trong máu quá cao và bị lên cơn đau tim. Bé cũng được đưa tới Nottingham và may mắn hồi phục.

Và lần này là bé Claire Peck bị bệnh hen, được trợ thở trong phòng điều trị. Như thường lệ, Allitt vẫn ở một mình với bệnh nhi. Nhưng chỉ vài phút sau, Claire lên cơn đau tim.

Các bác sĩ nhanh chóng ập vào phòng và sau khi hồi sức thành công cho Claire, họ để bé một mình với Allitt. Một lần nữa, Allitt lại thất thanh gọi bác sĩ. Nhưng lần này, họ đã không thể cứu được Claire. Khi bé tắt thở, một bác sĩ nói: “Điều này lẽ ra không bao giờ xảy ra”.

Đến lúc này, các bác sĩ tại bệnh viện bắt đầu nghi ngờ rằng có gì đó không ổn, tại sao lại có quá nhiều bệnh nhi chết hoặc rơi vào tình trạng tính mạng bị đe dọa chỉ trong một thời gian ngắn như vậy? Và điều quan trọng là các bệnh nhi đều do cùng một y tá chăm sóc.

Họ tiến hành khám nghiệm tử thi của Claire, và kết quả là Claire tử vong do nguyên nhân tự nhiên. Tuy nhiên, bệnh viện đã mở cuộc điều tra về số bệnh nhi gặp tình trạng tim ngừng đập cao bất thường ở khu số 4 khoa nhi trong suốt hai tháng qua.

Họ kiểm tra xem có virus trong không khí không nhưng không tìm thấy gì. Xét nghiệm cho thấy có 1 lượng kali cao bất thường trong máu nạn nhân cuối cùng, khiến cuộc điều tra trở nên cấp bách hơn.

Tuy nhiên, mãi đến ngày 2/5/1991, bệnh viện mới gọi cảnh sát vào cuộc. Cảnh sát đã khai quật xác Claire để xét nghiệm thêm và phát hiện dấu vết thuốc gây tê trong các mô, một chất được dùng trong trường hợp tim bị ngừng đập nhưng chỉ dùng với người lớn. Sĩ quan cảnh sát Stuart Clifton cho rằng có bàn tay kẻ sát nhân ở bệnh viện.

Ông kiểm tra các trường hợp khác và phát hiện nhiều bé có lượng insulin cao bất thường trong cơ thể. Ông cũng biết rằng chính y tá Allitt là người báo tủ lạnh chứa insulin bị mất chìa khóa. Ông đã kiểm tra mọi thông tin, trò chuyện với bố mẹ các nạn nhân và lắp camera an ninh ở khu vực số 4.

Trong khi rà soát nhật ký chăm sóc bệnh nhi hàng ngày của bệnh viện, các thám tử phát hiện một số trang bị mất. Đó chính là những trang tương ứng với thời gian bé Paul Crampton vào khu vực số 4. Thấy khả nghi, họ tiếp tục xem xét 25 trang ghi lại nhật ký chăm sóc 13 bệnh nhi, trong đó 4 bệnh nhi đã tử vong, để tìm kiếm manh mối.

Điểm chung của các trang hiện ra rõ ràng: Beverly Allitt là người duy nhất có mặt trong lịch chăm sóc tất cả 13 bệnh nhi. Và ngày 21/5/1991, nữ y tá “tử thần” đã bị bắt.

Allitt phủ nhận dính líu vào các vụ giết hại và làm bị thương 13 bệnh nhi, cô ta khăng khăng chỉ làm mỗi việc là chăm sóc các bé. Cô ta không tỏ thái độ hồi hộp khi bị thẩm vấn. Tuy nhiên, khi lục soát nhà của Allitt, cảnh sát phát hiện một số trang ghi chép lịch chăm sóc bệnh nhi bị mất.

Allitt được bảo lãnh nhưng sau đó đã bị bắt lại và đưa ra xét xử với cáo buộc giết 4 bệnh nhi và 22 tội danh cố ý giết người và gây thương tích nghiêm trọng.

Phiên tòa xét xử “thiên thần báo tử” đặc biệt thu hút dư luận Anh. Hơn 200 phóng viên đã đăng ký dự phiên tòa, bốn bộ phim tài liệu, ba cuốn sách và vô số bài viết xoáy sâu vào vụ việc.

Trong những ngày Allitt còn đang bị điều tra, phóng viên báo lá cải đã tìm mọi cách để săn tin về vụ giết người hàng loạt đặc biệt nghiêm trọng này. Họ đóng giả thám tử thu thập thông tin, giả vờ làm người mua nhà… để tìm cách tiếp cận với một trong những gia đình nạn nhân của Allitt.

Vụ Allitt thu hút dư luận không chỉ bởi tính chất nghiêm trọng của sự việc mà nó còn phản ánh thực trạng quá tải đến mức tắc trách của hệ thống y tế Anh lúc bấy giờ.
 

hoahongden12

Active Member

Trong quá trình điều tra, cảnh sát phát hiện ra rằng, kẻ sát nhân bị mắc tới hai chứng rối loạn tính cách rất nghiêm trọng.

Vậy nữ y tá “tử thần” Allitt đã mắc phải hội chứng gì? Do liên quan đến khoa học y học, nên phía cảnh sát đã phải mời chuyên gia giỏi từ khắp nơi trên thế giới đến để giải thích, phân tích vụ việc dưới góc độ chuyên môn.

Và kết luận cuối cùng là Allitt mắc cả hội chứng Munchausen và Munchausen by Proxy. Đây có thể là lý do tại sao Allitt có thể hành động không ghê tay với các bệnh nhi yếu ớt.

Người mắc hội chứng Munchausen là những người giả vờ ốm đau để được chăm sóc y tế. Họ thường làm cho mình mắc những triệu chứng kinh khủng bằng cách tự gây thương tích cho bản thân hoặc tự tiêm chất độc vào cơ thể để liên tục đến bệnh viện chữa trị.

Họ làm tất cả điều đó để muốn gây sự chú ý và chăm sóc. Nếu bác sĩ ở nơi này nghi ngờ họ giả vờ bệnh, họ sẽ tìm đến bác sĩ khác.

Phần lớn bệnh nhân Munchausen là nam giới và những người mắc hội chứng này có thể là một cậu bé hay một ông già, nhưng hội chứng nặng nhất khi ở tuổi trung niên. Bệnh nhân luôn tìm cách nói dối và che giấu hành động của mình.

Lật lại quá khứ, ngay từ khi còn là một đứa trẻ, Allitt lúc nào cũng quấn băng quanh các vết thương để được mọi người chú ý nhưng không cho ai kiểm tra. Khi ở tuổi mới lớn, Allitt bắt đầu to béo, tính khí thất thường, thích gây gổ với người khác và hay kêu ca mình bị đau ốm.

Nào là đau túi mật, đau đầu, đau ruột thừa, viêm nhiễm tiết niệu, nôn mửa không kiểm soát được, thị lực kém, đau lưng chỉ để được đến bệnh viện.

Có lần, cô ta còn thuyết phục bác sĩ cắt ruột thừa trong khi không bị làm sao rồi sau đó vết mổ không thể lành vì cô ta liên tục chọc vào sẹo phẫu thuật. Allitt còn làm mình bị thương bằng búa và thủy tinh. Khi bị phát hiện, cô ta đã chuyển sang bệnh viện khác.

Lúc Allitt thành y tá và làm việc trong một bệnh xá, cô ta luôn làm những điều kỳ quặc để được chú ý. Cô ta bị nghi là đã trát phân lên tường và bỏ phân vào tủ lạnh. Khi có bạn trai, cô ta hay giả vờ mang thai.

Khi biết rằng trò giả ốm không còn có tác dụng làm người khác chú ý, Allitt tìm cách khác đó là lạm dụng trẻ em. Hành vi này của cô ta chính là hội chứng Munchausen by Proxy (MHBP).

MHBP lần đầu tiên được xác định năm 1977 với đặc điểm điển hình là một người mẹ thường xuyên đưa con gặp bác sĩ để chữa những chứng bệnh bí hiểm do chính bà ta gây ra cho đứa con nhưng lại chối biến. Bà mẹ này có thể cho con ăn uống mất vệ sinh để gây đau bụng, làm những vết thương của con trầm trọng hơn, làm con ngạt thở hoặc làm gẫy xương của con.

Nói cách khác, người mắc MHBP thường làm đau người khác để mình được chú ý. Người này cảm thấy mình có tầm quan trọng khi “cứu” đứa trẻ bằng cách đưa nó đến bệnh viện. Nếu đứa trẻ vẫn đau ốm, họ sẽ yên tâm. Còn nếu đứa trẻ hồi phục, họ sẽ nổi giận.

Những bác sĩ tâm thần học đến thăm và tiếp xúc với Allitt trong tù đều cho rằng cô ta bị hai hội chứng nói trên. Tuy nhiên, không ai có thể khiến Allitt thừa nhận những gì cô ta đã làm. Khi chờ phiên tòa xét xử, cô ta lại mắc một chứng rối loạn tâm lý khác là nhịn ăn thường xuyên do sợ béo, hậu quả là sụt cân nhanh chóng.

Sau vô số lần trì hoãn vì những căn bệnh quái gở của Allitt, cuối cùng thì phiên tòa xét xử cũng diễn ra. Bồi thẩm đoàn chỉ rõ vai trò của Allitt trong từng trường hợp. Cô ta bị cáo buộc làm bệnh nhi thiếu oxy bằng cách làm bệnh nhi nghẹt thở hoặc can thiệp vào máy tiếp oxy.

Tại phiên tòa, chuyên gia nhi khoa Roy Meadow đã giải thích về hai triệu chứng Munchausen và MHBP rồi kết luận Allitt có cả hai triệu chứng trên. Với kinh nghiệm của mình, ông Meadow cho rằng, những người như Allitt là không thể cứu chữa và là một mối nguy hiểm rõ ràng đối với người khác.

Cuối cùng, Allitt cũng chịu thừa nhận gây ra ba vụ giết người và sáu vụ tấn công. Ngày 24/5/1993, Allitt bị kết án 13 năm tù giam vì tội giết người và cố ý giết người.
 

hoahongden12

Active Member

Vào tháng 1 năm 1964, Catalina Ortega đến phòng cảnh sát tư pháp ở Leon, Guanajuato khai báo trong tình trạng bị đánh đập nặng và suy dinh dưỡng. Qua lời khai của cô, một câu chuyện đen tối và vô cùng kinh khủng về các chị em nhà Gonzalez, người đã giam giữ cô trong nhà thổ và buộc cô trở thành nô lệ tình dục, đã bị phát hiện ra. Sau đó, câu chuyện đã gây sốc cho toàn bộ người dân và cũng là vụ án lớn nhất trong biên niên sử của lịch sử tội phạm Mexico.

Delfina, Maria de Jesus, Carmen và Maria Luisa Gonzalez Valenzuela sinh ra ở El Salto de Juanacatlan, Jalisco trong nghèo đói. Cha của họ, ông Isidro Torres là người đàn ông bạo lực, độc đoán và bảo thủ. Ông là một thành viên trong đội trật tự của Porfirio Diaz, phụ trách việc đảm bảo an ninh cho thị trấn nhưng với bản tính bạo lực, ông thường xuyên lạm dụng quyền lực của mình để đánh người. Có một lần, ông đã bắn và giết một người đàn ông trong một lần tranh cãi, và khi các cô con gái của mình ăn mặc không theo đúng ý mình, ông ta sẽ nhốt chúng lại để dạy cho chúng một bài học.

Lớn lên trong nghèo khổ và sợ hãi, các chị em nhà Gonzalez đã cố gắng tiết kiệm một khoản tiền và mở một quán rượu ở San Pancho. Quán rượu không đem lại nhiều lợi nhuận, thu nhập cũng chỉ đủ ăn, các chị em quyết định làm ăn lớn hơn. Họ mạo hiểm với nghề mại dâm bằng cách mở nhà thổ. Các chị em hối lộ các quan chức địa phương bằng tiền hoặc tình dục để chính quyền lờ đi cho. Sau đó, chúng mở các nhà thổ bí mật ở San Francisco del Rincon, Purisima del Rincon, và Leon ở Guanajuato, El Salto và San Juan de los Lagos, Jalisco và một số ở San Juan del Rio, bang Queretaro, gần Mexico City.

Carmen, Delfina và Maria de Jesus "Chuy", điều hành gái mại dâm ở Guanajuato và Jalisco trong khi Maria Luisa "Eva the Leggy One" điều hành quán bar và nhà thổ gần biên giới Mexico. Các chị em đã mua một quán bar ở Lagos, Jalisco từ một người đàn ông đồng tính có biệt danh là "El Poquianchi". Biệt danh đó được truyền cho các chị em, sau đó đổi thành Las Poquianchis, một biệt hiệu mà chúng ghét.

Các chị em nhà Gonzalez đã đi khắp đất nước, đến các vùng nông thôn, trang trại để tìm đến những người phụ nữ xinh đẹp nhất. Chúng hứa với các cô gái là sẽ cho họ một công việc để làm ở Guadalajara hoặc Leon như là hầu gái hoặc hầu bàn. Những cô gái trẻ miền nông thôn nghèo khổ, ôm mộng về tiền bạc và cuộc sống ở thành phố lớn đã rất vui vẻ nhận lời. Trong một số trường hợp, chúng đã bắt cóc phụ nữ với sự giúp đỡ của một đội trưởng quân đội tên là Hermengildo Zuniga, cũng là người yêu của Delfina. Vào cuối năm 1950, Carmen chết vì ung thư.

Các cô gái trẻ được đưa vào làm việc tại quán bar "Guadalajara de Noche" và "Barca de Oro" của các chị em và nhanh chóng nhận ra mình sẽ sống trong một cơn ác mộng - bị cầm tù và buộc phải bán mình cho binh lính, cảnh sát và những gã đàn ông thô bạo... Những trinh nữ xinh đẹp nhất sẽ được nhốt trong phòng để chờ tiếp đón những vị khách hàng quen với chiếc ví dày, còn các cô gái có nhan sắc kém hơn sẽ bị cưỡng hiếp, đe dọa, cho tắm bằng nước đá như một sự khởi đầu.

Các cô gái không bao giờ được phép ra khỏi nhà thổ. Con trai của Delfina, Ramon Torres, "El Tepo" cũng đóng vai trò là người giữ cửa, các cô gái một khi đã chạy trốn sẽ bị Ramon bắt về bằng mọi cách. Trong nhiều năm, các chị em nhà Gonzalez kiếm được rất nhiều tiền nhờ bán rượu và môi giới mại dâm cho binh lính, cảnh sát và người dân.

Khi một trong các cô gái có thai, cô sẽ bị đánh đập và buộc phải phá bỏ, các bào thai sẽ bị vứt lại ở nhà thổ hoặc chôn cất trong một trang trại giống như trại tập trung được gọi là Loma de Angel. Nếu một cô gái bị bệnh nặng, do suy dinh dưỡng hoặc STD hoặc biến chứng từ phá thai, cô sẽ bị nhốt trong phòng, bị bỏ đói tới chết hoặc các cô gái khác buộc phải đánh cô đến chết bằng gậy. Sau đó, tay chân của chị em nhà Gonzalez sẽ xử lý các xác chết bằng cách thiêu cháy hoặc chôn trong các ngôi mộ tập thể.

Vào tháng 1 năm 1964, Catalina Ortega đã trốn thoát khỏi Loma del Angel qua một khe hở nhỏ trên tường. Cô nhanh chóng chạy đến đồn cảnh sát ở Leon và khai báo tất cả mọi chuyện. Ngay lập tức, cảnh sát đã ra lệnh bắt giữ chị em nhà Gonzalez. Ngày 14 tháng 1 năm 1964, cảnh sát đã đột kích trang trại Loma del Angel, tại đây, cảnh sát và phóng viên đã tìm thấy một tá phụ nữ gầy gò và bẩn thỉu bị nhốt trong một căn phòng. Khi cảnh sát và phóng viên lục soát trang trại, một số cô gái chỉ vào những đốm trên mặt đất và nói với họ rằng họ sẽ tìm thấy "xác chết" ở đây. Chính quyền đã tìm thấy thi thể bị phân hủy và xương của ít nhất 91 phụ nữ, nam giới và bào thai.

Ngay sau đó, chị em nhà Gonzalez và tay chân đã bị đưa đến một nhà tù San Francisco del Rincon.

Hàng chục các cô gái còn sống sót trong nhà thổ đã tố cáo chị em nhà Gonzalez đã hãm hiếp, giết người và tống tiền. Họ cũng tố cáo Delfina, Maria Luisa và Maria de Jesus tham nhũng và hối lộ các chính quyền địa phương và tiểu bang để lờ đi tội ác của các chị em nhà này. Cuộc xét xử diễn ra vô cùng hỗn loạn bởi những lời lăng mạ và la hét qua lại từ các chị em nhà Gonzalez và những người buộc tội chúng.

Cuối cùng, một thẩm phán đã kết án 3 chị em 40 năm tù.

Delfina Gonzalez Valenzuela, người chị lớn nhất phát điên vì lo sợ rằng mình sẽ bị giết trong tù. Ngày 17 tháng 10 năm 1968, trong khi bà ta gào thét và rồi lại cầu nguyện, công nhân sửa chữa bên trên phòng giam của bà ta đã cúi xuống nhìn và vô tình một chậu xi măng rơi lên đầu bà ta khiến bà ta chết ngay sau đó.

Maria Luisa Gonzalez Valenzuela đã chết trong phòng giam của mình tại nhà tù Irapuato vào ngày 19 tháng 11 năm 1984. Cơ thể của bà ta bị chuột gặm và được phát hiện một ngày sau đó.

Maria de Jesus Gonzalez Valenzuela, người trẻ tuổi nhất cũng là người duy nhất được thả tự do. Không rõ cuộc sống của bà ta sau đấy thế nào nhưng có người kể lại rằng bà ta gặp một người đàn ông 64 tuổi trong tù, và khi cả hai được thả tự do, họ kết hôn và sống cuộc sống thầm lặng, cuối cùng đã chết vì tuổi già vào giữa những năm 1990.

Năm 2002, công nhân đến dọn đất để xây dựng nhà ở mới tại Purisima del Rincon, Guanajuato, họ đào đất từ trang trại Loma del Angel khét tiếng và tìm thấy phần còn lại của khoảng 20 bộ xương trong một cái hố. Các nhà chức trách cho biết các nạn nhân có thể bị chôn vùi ở đó vào những năm 1950 hoặc 1960, là nạn nhân của Las Poquianchis.
 

hoahongden12

Active Member

Sau khi nhẫn tâm sát hại cha mẹ già, kẻ nghịch tử người Hong Kong: Henry Chau Hoi-leung chặt đầu những người đã sinh ra y, giấu trong tủ lạnh, chặt nhỏ xác rồi nấu chín.

Cấu kết với một người bạn tên là Tse Chun-kei, 36 tuổi, kẻ nghịch tử Henry Chau Hoi-leung, 30 tuổi, lên kế hoạch giết hại chính cha mẹ ruột trong hơn 3 tháng. Y cùng mua dao, tủ lạnh, lò vi sóng và một nồi cơm điện để thực hiện kế hoạch trên.

Sau khi bị bắt, Henry thừa nhận, y và Tse đã giết chết cha là ông Chau Wing-ki (65 tuổi) và mẹ là bà Siu Yuet-yee (62 tuổi) vào ngày 1.3.2013 bởi họ “cảm thấy sẵn sàng để làm điều đó”. Nguyên nhân dẫn đến tội ác kinh hoàng trên là do mối bất hòa y với cha mẹ.

Đầu và nội tạng của cặp vợ chồng xấu số được tìm thấy trong tủ lạnh ngày 15.3.2013, trong khi, chân tay và các phần còn lại của cơ thể đã bị ướp muối, nấu chín và cho vào các hộp đựng thức ăn.

Trước đó, ông Chau và bà Siu được nhìn thấy lần cuối cùng là khi đi vào một tòa nhà chung cư ở khu Tai Kok Tsui (Hong Kong) với con trai Henry. Sau 20 phút, Henry rời khỏi tòa nhà và đến bệnh viện để điều trị các vết thương trên tay do giằng co với người cha.

Tòa án cho biết, Henry tới đồn cảnh sát trình báo cha mẹ mất tích sau khi ông bà tới Đại lục du lịch ngày 14.3.2013. Tuy nhiên, nhưng cùng lúc y gửi tin nhắn bằng ứng dụng WhatsApp cho một người bạn thừa nhận đã giết chết cha mẹ và muốn có thêm thời gian để nói lời chia tay với bạn bè trước khi vào tù.

Ngày 15.3.2013, cảnh sát khám xét căn hộ của Henry tại số 38 phố Fuk Chak ở Tai Kok Tsui và phát hiện những phần thi thể bị cắt lìa, chia nhỏ của cha mẹ y tại đây. Cảnh sát cũng tìm thấy những ghi chú về kế hoạch giết cha mẹ của Henry được lập kể từ tháng 10.2012.

Henry lập tức bị bắt. Sau khi bị bắt, Henry thú nhận mình và Tse giết chết cha mẹ, nhưng Tse là người chặt xác nạn nhân. Kẻ nghịch tử còn thú nhận, do tủ lạnh bé, không đủ để chứa toàn bộ thi thể của cha mẹ, y nghĩ ra cách chia nhỏ các phần thi thể, nấu chín rồi nhét vào các hộp cơm để mang vứt vào thùng giác như thức ăn thừa, tránh mọi sự nghi ngờ.

Trong phiên xét xử tại tòa ngày 5.8, kẻ nghịch tử thú nhận tội ác tày trời nhưng biện minh rằng, y giết cha mẹ trong trạng thái tinh thần không ổn định nhằm giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, các công tố viên không chấp nhận lý lẽ biện minh trên.

Công tố viên Michael Arthur cho biết Henry Chau đã “khoe” với bạn bè trên mạng xã hội này hắn đã sát hại bố mẹ mình, đồng thời nói rằng hắn là một kẻ tâm thần đa nhân cách “không thể cảm thông được với nỗi đau của người bình thường vì tuổi thơ bị ngược đãi”.

Sau khi bị cảnh sát bắt giữ, Henry Chau khai rằng hắn ta và Tse đã chuẩn bị trong một thời gian dài trước khi ra tay sát hại bố mẹ. Chau đã bịa ra một cái cớ để mời bố mẹ ở quê lên chơi căn hộ của hắn, và ở đây hắn cùng Tse đã dùng dao cứa cổ giết chết hai người.

Hiện phiên tòa xét xử hai tên sát nhân tàn bạo này đang được tiếp tục.
 

hoahongden12

Active Member

Với ham muốn trường sinh bất lão, người phụ nữ từng được xem là đẹp nhất Châu Âu đã tắm máu hơn 600 trinh nữ.

Xuất thân quý tộc và tài sắc hơn người

Elizabeth Bathory sinh trưởng trong một dòng họ quý tộc lâu đời và giàu có bậc nhất Hungary. Bathory là dòng họ sản sinh ra nhiều nhân vật kiệt xuất, quyền lực trong lịch sử, trong đó người nổi tiếng nhất được thế giới biết đến chính là Istvan Bathory, hoàng đế Ba Lan.

Không giống như những phụ nữ lúc bấy giờ, Elizabeth được thừa hưởng một nền giáo dục tốt, thậm chí sự thông minh của bà còn vượt trội so với những người đàn ông cùng thời.

Trong khi nhiều người trong giới quý tộc Hungary chật vật với việc đọc, viết thì Elizabeth không chỉ thông thạo tiếng Hungary mà còn nói trôi chảy tiếng Hy Lạp, tiếng Latin và tiếng Đức.

Nhờ sự thông minh và sắc đẹp vốn có, nữ bá tước Elizabeth từng được xem là người phụ nữ tài sắc nhất Châu Âu. Tuy nhiên, ngoài những thứ trời phú trên, Elizabeth còn thừa hưởng một đặc điểm truyền thống của dòng họ Bathory, đó là sự tàn ác.

Con quỷ khát máu lộ diện

Elizabeth đã đính hôn từ rất sớm lúc mới 11 tuổi nhưng đến 15 tuổi bà mới chính thức kết hôn và chuyển về sống cùng chồng là bá tước Nadasdy Ferenc tại lâu đài Cachtice, tòa lâu đài sau này sẽ trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của hàng trăm thiếu nữ đồng trinh.

Bá tước Ferenc chồng bà là một vị tướng nổi tiếng dũng cảm nhưng hung bạo của quân đội Hungary. Ông thường xuyên phải chinh chiến xa nhà nên Elizabeth Bathory phải vò võ một mình trong tòa lâu đài rộng lớn.

Bởi vậy, Elizabeth đã tự tìm cách để giải khuây cho mình và một trong những thú vui bệnh hoạn của bà ta là kiếm cớ tra tấn các cô hầu gái đến chết trong hầm tối bằng những dụng cụ tra tấn tù binh mà chồng để lại.

Khi bá tước Ferenc qua đời, phu nhân của ông mới bước vào độ tuổi 40 nhưng bà ta luôn lo sợ một ngày nào đó sẽ trở nên già nua xấu xí. Sự ám ảnh đó đã khiến Elizabeth Bathory ngày đêm săn lùng và làm mọi cách để được trẻ mãi không già.

Thế rồi, trong một lần hành hạ cô hầu gái tới tóe máu mồm và bị máu dính vào tay, bà ta tự kỉ ám thị rằng da ở vùng đó bỗng trở nên trẻ trung và mịn màng hơn. Đó chính là bước khởi đầu cho hành trình trở thành con quỷ khát máu của nữ bá tước Elizabeth với khát vọng níu giữ tuổi thanh xuân.

Cùng với sự giúp đỡ của hai tay sai trung thành, Johannes Ujvary và Dorka, Elizabeth Bathory đã bắt giữ và hại đời nhiều trinh nữ trong vùng. Nạn nhân bị lột đồ, trói chặt và hành hạ cho đến chết rồi lấy máu.

Máu của các trinh nữ được Elizabeth dùng để tắm và uống trực tiếp với niềm tin có thể trường sinh bất lão. Thú vui man rợ này khiến cho nhiều người tin rằng Elizabeth Bathory chính là nguyên mẫu xây dựng nên nhân vật Dracula trong tiểu thuyết cùng tên của văn sĩ Ireland Bram Stoker.

Để phục vụ cho ước muốn trẻ mãi không già, năm 1609, Elizabeth công khai mở "học viện" để dụ dỗ các cô gái có xuất thân nghèo khó nhưng mơ được đổi đời tới sống trong lâu đài. Những trinh nữ này đã được "giáo dục" cẩn thận tới nỗi chẳng ai còn thấy họ trở về nữa.

Sai lầm của nữ bá tước bắt đầu khi không thỏa mãn với các cô gái thường dân mà còn dám động tới các thiên kim tiểu thư trong các gia đình quyền quý. Những nghi ngờ về hành tung mờ ám trong lâu đài Cachtice đã đến tai vua Hungary.

Ngài đã phái bá tước Thurzo Gyory, anh họ của Elizabeth tới lâu đài điều tra. Khi đột nhập vào đó, toàn bộ quân lính đã được một phen kinh hoàng khi thấy xác chết của nhiều cô gái nằm la liệt ngoài đại sảnh trong tình trạng máu bị rút sạch.

Sự thật ghê rợn về lâu đài nhuốm máu trinh nữ đã bị phanh phui. Bà ta bị cáo buộc gây ra cái chết cho 600 cô gái đồng trinh.

Đáng ra Elizabeth phải chịu án tử hình cho tội danh sát nhân hàng loạt nhưng nhờ mang trong mình dòng máu quý tộc và công lao của chồng đối với đất nước nên "Bà hoàng máu" chỉ bị giam cầm suốt đời trong chính lâu đài tội ác của mình.

Ngày 21/8/1614, nữ bá tước được lính canh phát hiện tử vong trong phòng biệt giam. Cho tới tận lúc chết, người phụ nữ từng được coi là biểu tượng nhan sắc của Châu Âu còn được người dân Hungary đặt cho cái tên "Nữ quỷ khát máu" và bị coi là "nỗi nhục của quốc gia".

Elizabeth Bathory bị oán hận và căm ghét tới nỗi tất cả tài liệu liên quan đến bà ta đều bị niêm phong trong hơn một thế kỷ và tên của bà bị cấm nhắc đến trong xã hội Hungary.
 
Bên trên